Nhà làm việc của BÐ tỉnh

 
 

 

 

 

  

  

  

  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 
VÀI NÉT VỀ ÐỊA LÝ - DÂN CƯ VÀ HOẠT ĐỘNG 
CỦA BƯU ĐIỆN TỈNH NINH THUẬN THỜI PHONG KIẾN
THỰC DÂN TRƯỚC KHI THÀNH LẬP ĐẢNG

**********

    Ninh Thuận là một tỉnh thuộc miền Duyên Hải Cực Nam Trung Bộ: Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa, Nam giáp Bình Thuận, Ðông giáp biển Ðông, Tây giáp tỉnh Lâm Ðồng, tổng diện tích tự nhiên 3430 km2, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 41.500 ha, còn lại là đất rừng, đồi núi. Dân số 500.000 người, có các dân tộc anh em: Chăm, Raglai, Chu và Kơho chiếm 26%. Mật độ dân số bình quân toàn tỉnh là 146 người/km2. Hiện nay, nhân dân Ninh Thuận sát cánh cùng nhân dân cả nước thực hiện công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa, vì dân giàu nước mạnh – xã hội công bằng văn minh.
Ngược dòng lịch sử, ngày xưa dưới triều Nguyễn, Ninh Thuận trải qua nhiều lần đổi thay ranh giới và tổ chức hành chính. Theo Ðại Nam Nhất Thống Chí (quyển 12), trong quá trình ông cha ta mở nước về phương Nam, năm 1697 Ninh Thuận là Ðạo Phan Rang, cùng các Ðạo Phan Thiết, Ma Lý, Phố Hài hình thành Phủ Bình Thuận , sau đổi là Dinh Bình Thuận . Mỗi đạo đặt một quan văn, một quan võ và đều trực thuộc về Dinh . Triều Gia Long thứ 7 (1808) đổi Dinh thành Trấn . Triều Minh Mạng thứ 4 (1823) đổi Trấn Bình Thuận thành Phủ , đặt chức tri phủ , phủ kiêm lý huyện và giảm bỏ Ðạo Phan Rang . Triều Minh Mạng thứ 13 (1832) đổi Phủ Bình Thuận thành tỉnh Bình Thuận, gồm 2 Phủ Ninh Thuận và Hàm Thuận. Phủ Ninh Thuận nằm về phía Ðông Bắc gồm 2 huyện An Phước và Tuy Phong. Triều Ðồng Khánh thứ 3 (1888) cắt 7 thôn, xã Phú quý, Từ sơn, Từ Thiện, Sơn Hải, Nho Lâm, Thạnh Ðức, Lạc Nghiệp thuộc Tổng Phú Quý huyện Tuy Phong và 2 Tổng Tú Trà, Ninh Gia của huyện Hòa Ða sát nhập vào Phủ Ninh Thuận và trích Phủ Ninh Thuận cho thuộc vào tỉnh Khánh Hòa. Huyện Tuy Phong giao về tỉnh Bình Thuận như cũ. Triều Thành Thái thứ 13 (1901) chuyển Phủ Ninh Thuận thành Ðạo Ninh Thuận (một tỉnh nhỏ) tách khỏi tỉnh Khánh Hòa, đặt chức quản đạo dưới sự điều khiển của một công sứự Pháp, Lỵ sở là Phan Rang đặt ở xã Kinh Dinh. Ranh giới Ðạo Ninh Thuận từ sông Ma Bố (sông Lu) giáp Bình Thuận, ở phía Nam đến núi Khánh Nhơn giáp Khánh Hòa, ở phía Bắc có 3 huyện An Phước, Thổ An Phước, Mán (dân tộc miền núi) .
    Theo sách nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn(1), hồi năm 1910, Ðạo Ninh Thuận có huyện An Phước, huyện Tân Khai (người thượng) và 4 tổng ở đồng bằng: Kinh Dinh, Mỹ Tường, Vạn Phước, Phú Quý, toàn địa hạt gồm: 86 xã, thôn, 7727 xuất đinh người Kinh, 12 xã, thôn, 535 xuất đinh người Chăm và 149 buôn, 2352 xuất đinh người Thượng . Dưới thời Pháp thuộc , địa giới hành chánh Ðạo Ninh Thuận cũng có vài lần thay đổi . Theo Nghị định ngày 09-02-1913 của toàn quyền Pháp , tỉnh Phan Rang bị xóa bỏ , sát nhập phần đất phía Nam vào tỉnh Bình Thuận , phía Bắc vào tỉnh Khánh Hòa . Khoảng 10 năm sau , Nghị định ngày 05-7-1922 của toàn quyền Pháp quy định lại : Ðem phần đất tỉnh Phan Rang cũ , trước đây nhập vào Khánh Hòa , Bình Thuận lập lại tỉnh Phan Rang , tỉnh lỵ là Phan Rang .
Sau năm 1945 , dưới chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim , Ninh Thuận chính thức là đơn vị hành chính cấp tỉnh . Sau Cách mạng tháng 8-1945 thành công , chính quyền nhân dân thành lập , ta chia Ninh Thuận thành 3 huyện : Ninh Hải hạ, Ninh Hải thượng và Ninh Sơn . Tháng 6-1946 , để phù hợp với nhu cầu kháng chiến chống Pháp , ở đồng bằng ta thành lập 6 khu hành chính , tháng 2-1947 đổi thành 6 vùng . ở vùng núi và vùng đồng bào Chăm , ta lập Phòng quốc dân thiểu số , tháng 8-1948 , ta giao vùng 6 (CamRanh) cho Khánh Hòa và hợp nhất 5 vùng còn lại thành 3 huyện : Thuận Nam , Thuận Bắc , An Phước . Năm 1950 , hai huyện Thuận Nam , Thuận Bắc giải thể để lập các xã lớn trực thuộc tỉnh , đồng thời lập khu căn cứ Bác ái , năm 1951 đổi thành huyện Bác ái và năm 1953 thành lập huyện căn cứ Anh Dũng .
    Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ , các xã lớn trước đây được tổ chức thành 5 vùng , khu căn cứ Bác ái tách thành 2 huyện : Bác ái Ðông và Bác ái Tây . Cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi , đầu năm 1976 Ninh Thuận hợp nhất với Bình Thuận , Bình Tuy thành tỉnh Thuận Hải . Tháng 4-1992, thực hiện Nghị quyết của Quốc Hội khóa 8, tỉnh Ninh Thuận được tái lập gồm 3 huyện: Ninh Phước, Ninh Sơn, Ninh Hải và thị xã Phan Rang – Tháp Chàm.
    Dân số tỉnh Ninh Thuận qua các thời kỳ : 1945 – 90.000 người; 1949 – 120.000 người ; 1970 –192.665 người ; 1994 – 459.300 người ; 1998 – 500.000 người .Về địa thế , với núi rừng trùng điệp nằm ở Cực Nam dãy Trường Sơn , tỉnh Ninh Thuận được Tổ quốc và thiên nhiên đặt ở vị trí bản lề đặc biệt về nhiều mặt : Bắc giáp Khánh Hòa ra các tỉnh miền Trung , Nam giáp Bình Thuận đi vào Ðông Nam Bộ , Ðông là vùng Biển Ðông bao la và Tây là cả một vùng Nam Tây Nguyên rộng lớn . Bờ biển Ninh Thuận dài 105 km có nhiều hòn núi nhỏ nhô ra biển tạo thành những Vịnh , Gành như Hòn Tai (Vĩnh Hy) , Núi Chồng (Mỹ Tân) , Mũi Dinh (Ninh Phước) , khúc khuỷu , nước sâu thuận lợi cho thuyền bè neo đậu làm nghề đánh bắt hải sản , tránh gió bão. Gần biển là bình nguyên Phan Rang màu mỡ khá rộng, dọc ngang dài tới 30 – 40 dặm, hầu như bao bọc xung quanh bởi núi rừng nhấp nhô, xanh biếc với những ngọn núi cao hơn 1.000 m như núi Bonronh, núi Chuân, núi Ma Nai, núi Chúa...có nhiều suối khe và hang động. Giữa đồng bằng có núi Cà Ðú sừng sững, dưới núi có đầm Phương Cựu thông với Cửa Tấn, Ma Văn (Ninh Chữ), cạnh đó những tảng đá lớn chồng lên nhau gọi là núi Ðá Chồng.
    Hệ thống sông ngòi ngắn, gồm nhiều nhánh xòe ra như nan quạt, có độ dốc cao, mùa lũ nước đổ như thác, mùa khô dòng chảy cạn hẹp lội qua được. Sông lớn nhất là sông Dinh, tức sông Cái, xưa gọi là sông Phan Rang phát nguyên từ sơn động Tây Khánh Hòa, chảy về hướng Ðông chia Ninh Thuận thành hai mảng Nam và Bắc đổ ra cửa biển Ðông Hải, xưa gọi là Tấn Phan Rang. Từ đầu nguồn sông Cái đến thôn Ðắc Nhơn, xưa gọi là sông Mai Nương, nhánh từ phía Tây chảy vào là sông Ma Bố phân ranh giữa huyện An Phước và huyện Tuy Phong.Giao thông liên lạc là huyết mạch mọi thời đại. Ngày trước, giữa thế kỷ XIX, lộ trình dài thì dùng đường biển, ngắn thì dùng đường bộ, dọc hành trình giao thông đường biển Cửa tấn nào cũng thiết lập thuyền trạm chạy buồm.
   
Ninh Thuận, thuyền trạm đi từ hải phận Khánh Hòa vào Cửa tấn Vĩnh Hy, qua Cửa tấn Ma Văn, đến Cửa tấn Phan Rang mất phỏng nửa ngày; từ Cửa tấn Phan Rang đến Cửa Duồng (Tuy phong) phỏng 1 ngày đêm; từ Cửa Duồng đi Mũi Né phỏng 1 ngày rưỡi. Nếu có văn thư khẩn mới dùng thuyền trạm, văn thư thường phu trạm chạy bộ. Giao thông đường bộ chạy qua Ninh Thuận có 2 đường: đường núi và đường dọc theo ven biển. Ðường núi từ sơn độõng Khánh Hòa men theo sườn Cực Nam dãy Trường Sơn nối với Bình Thuận và thông đến miền Giao Loan, tỉnh Biên Hoà, lên cao nguyên Lang–Bian thì men theo những con đường mòn, dốc dựng đứng giữa núi thẳm, rừng sâu. Ðường núi trập trùng hiểm trở, đầy chướng khí, nhiều cọp beo.
    Ðường dọc theo bờ biển gọi là đường Cái Quan chạy qua Ninh Thuận từ Khánh Nhơn giáp khánh Hòa men theo miệt biển Vĩnh Hy, Ninh Chữ, Ðông Giang, Hải Chữ, Thương Diêm, Cà Ná, qua sông Ma Bố, sông Duồng, vào ven biển Bình Thuận đi Xuyên Mộc, vùng đất đỏ Long Thành, Bà Rịa... Thuở ấy, đường Cái Quan từ Bắc vào Nam chia thành nhiều trạm, mỗi trạm cách nhau 25- 30 dặm. Ðoạn từ trong Nam ra, sau khi vượt qua các Trạm Thuận Phương, Thuận Phước, Thuận Bình, Thuận Lâm, Thuận Lý, Thuận Phan, Thuận Tỉnh, Thuận Cang, Thuận Ðông, Thuận Phú thì hết địa bàn Bình Thuận, đến địa bàn Ninh Thuận mà Trạm Thuận Võng là trạm đầu tiên. Trạm Thuận Võng đóng ở địa hạt thôn Cao Hậu. Từ đây, đi thêm 4- 5 dặm nữa tới Lỵ sở Tuy Phong đóng ở thôn Vĩnh Giang, rồi qua sông Lang Sông (tên chăm là Kang rang), tiếp cận với mũi La Gàn là nơi tàu thuyền trên hành trình hàng hải Bắc–Nam đậu lại, chờ thuận gió vượt mũi Dinh. Ði bộ thì băng qua dãy núi đá La Gàn đến Trạm Thuận Hảo đóng ở địa hạt thôn Vĩnh Hảo, nơi có nhiều làng Chăm, làng Kinh sống xen kẽ, người Chăm làm ruộng, người Kinh vừa làm ruộng, vừa đánh cá. Từ đây, đường vòng xa theo bờ vịnh qua một cánh rừng hoang, một vùng đồi núi, nơi có Miểu Cố Hỷ thì tới cửa Cà Ná sản xuất muối, vôi, san hô, đi 3 dặm nữa sẽ tới Trạm Thuận Lãng đóng ở thôn Cam Tỉnh (Lạc Nghiệp). Từ đây đi vào nội địa – bên phải là dãy Chà Bang, bên trái là dãy Trường Sơn - rồi qua một cánh ruộng gò trước khi tới Trạm Thuận Trinh ở thôn Ðại Ðịnh (Nho Lâm) để vào bình nguyên Phan Rang.Cũng cần biết thêm từ Phan Rang phiên ra bởi chữ Panrang hay Pandaran, phiên âm là Bang – Ðồ – Lang, người Tây ghi là Padaran vừa là tên thị trấn, vừa là tên bình nguyên, dân cư sầm uất, trù phú hơn cả là chợ Dinh hay Kinh Dinh, phía dưới có chợ Cửa, chợ Nại, xung quanh có chợ Mai Nương, chợ Vạn Phước.
    Từ Trạm Thuận Trinh nối tiếp lộ trình theo đường Thiên Lý lên hướng Bắc qua ngôi Tháp Pôrômê, mấy làng Chăm rồi xuyên về Tây Bắc tiếp cận Trạm Thuận Mai đóng ở thôn Mai Nương. Từ đấy qua một vùng bụi cây mọc lúp xúp tới Tháp Pô-Klong-Gia-rai, vị vua có truyền thuyết bày ra kỹ thuật làm mương đập dẫn nước về đồng, rồi vòng qua chân núi Cà Ðú men theo bờ Ðầm Nại ruộng vườn xen kẽ với rừng hoang, đi một khoảng nữa thì đến Trạm Thuận Lai đóng ở thôn Nhơn Sơn. Trạm này nằm ở thung lũng, hai bên núi cao thoai thoải. Từ đây, đi mười dặm nữa tới xóm Mô Xoài nằm ở phía Nam vịnh Cam Ranh, ven theo bờ Vịnh qua xóm Trại Cá một dặm nữa là hết địa phận Ninh Thuận, bên kia là Trạm Hòa Quân thuộc địa phận Ba Ngòi, tỉnh Khánh Hòa.
    Dưới triều Nguyễn, tên trạm là từ kép, từ đầu lấy theo từ cuối tên của mỗi tỉnh, như trạm cuối cùng của Khánh Hòa tên là Hòa Quân, trạm cuối cùng của Bình Thuận giáp với Biên Hòa tên là Thuận Biên. Vì vậy, sau này tách khỏi Khánh Hòa, Bình Thuận, để trở thành Ðạo Ninh Thuận thì các trạm trên địa bàn Ninh Thuận đều đổi thành Ninh Lai, Ninh Mai, Ninh Trinh, Ninh Lãng. Lúc bấy giờ, trên đường giao thông ven biển Ninh Thuận, triều Nguyễn đặt thêm Trạm Ninh Hải, đóng ở thôn Sơn Hải gần phía Bắc Cửa tấn Phan Rang, đi qua dưới núi Mỏ Diên thông đến Trạm Ninh Lãng ở đường Cái Quan. Và để mở đường liên lạc lên hướng Lâm Viên, Ðạo Ninh Thuận lập thêm các Trạm Ninh Hiệp, Ninh Mỹ, Ninh Nhung, Ninh Bàn, Ninh Du, Ninh Lịch. Những trạm này toàn đi đường núi xuyên qua các thổ huyện, dốc cao, đèo thẳm quanh co khúc khuỷu, hiểm trở khó đi.
    Ngày trước, giao thông liên lạc trên đường Cái Quan người phu trạm, lính trạm nào cũng nhớ như in những chiếc cầu gỗ, cầu tre cần phải vượt qua như cầu Ba Lạch phía Tây huyện An Phước, cầu Suối Dầu ở Thái An gác ngang qua suối Du Lai, cầu Kiền Kiền ở Tri Thủy, cầu Lăng Ông ở Ðắc Nhơn, cầu Lòng Mức ở Vạn Phước, cầu Ðồng Gieo ở Kinh Dinh, cầu Di Hầu gần gò Xích Thị, có rừng rậm, nhiều khỉ nên gọi là Di Hầu. Những ngã đường không có cầu thì qua đò ngang, như đò Khánh Hội qua Cửa tấn Ma Văn, đò Tri Thủy qua đầm Phương Cựu, đò Mỹ Ðức qua sông Nha Mé, đò Ðạo Long qua sông Mai Nương, đò Phước Thiện qua thượng lưu sông Mai Nương, đò An Thạnh qua sông Ma Bố.Phác họa các ngã đường, các trạm dịch thời xa xưa như trên để thấy rằng trong quá trình mở nước, ông cha ta rất coi trọng việc tổ chức giao thông liên lạc. Bờ cõi mở rộng đến đâu là các trạm dịch lập ngay đến đó–trạm dịch ngày xưa giống như bưu cục ngày nay cất bằng tranh, tre, nứa lá, có trạm làm bằng gỗ nền gạch, mái tranh theo quy cách chung của nhà nước - Tên trạm kẻ bằng chữ nho sơn son thiếp vàng treo trước mái hiên, giữa sân có cột treo cờ nước, những trạm đóng ở vùng xung yếu xung quanh có hào, góc tường nhô lên chòi gác quan sát xung quanh. Phu trạm làm nhiệm vụ tiếp chuyển văn thư, lệnh, trát và các vật phẩm của quan lại cấp dưới cống nạp cho triều đình. Nhà trạm là nơi dừng chân của quan lại trên đường đi công vụ và cung cấp ngựa, cáng, võng khi có công vụ khẩn cấp. Thông thường văn thư, lệnh, trát bỏ vào ống bằng gỗ hay bằng tre có khắc chìm chữ số bên ngoài và niêm phong cẩn thận bằng sáp. Khi đi hoặc chạy lúp xúp trên đường, phu trạm lể mễ đeo ống trạm sau lưng, trường hợp khẩn cấp phu trạm mang theo cái chuông đồng và lá cờ con, khi nghe chuông reo, cờ phất, người đi đường phải dạt ra hai bên nhường chổ cho phu trạm chạy đưa tin gấp, đò dù đã qua sông cũng phải quay lại đón phu trạm. Ðến nơi giao nhận văn thư, lệnh, trát phu trạm hai bên phải ký tên hoặc lăn tay ghi nhận trách nhiệm của mình. Những nơi phu trạm là người địa phương, nhà ở gần trạm hễ nghe tiếng mõ, tiếng trống ở trạm nổi lên phải có mặt ngay tức khắc để lên đường làm nhiệm vụ.
    Khoảng cách giữa hai trạm xa nhất 35 dặm, gần là 23 dặm. Theo hệ thống đo lường cổ, mỗi dặm dài 135 trượng, mỗi trượng là 10 thước, mỗi thước là 0.4 mét. Như vậy, một dặm dài 540m. Theo Ðại Nam Nhất Thống Chí, đi đường ven biển từ Trạm Ninh Mai phía Bắc Ninh Thuận giáp Khánh Hòa đến Trạm Thuận Biên phía Nam Bình Thuận giáp Biên Hòa phải vượt qua 511 dặm, bằng 276 km, đường sơn lộ nguy hiểm khó đi và xa hơn, dài 613 dặm, bằng 340.74 km.
    Sau khi thôn tính và bình định toàn cõi nước ta, thực dân Pháp chú trọng mở mang giao thông liên lạc phục vụ chương trình khai thác thuộc điạ làm giàu cho chính quốc. ở phía Nam, tháng 4-1859 lập Bưu cục Sài Gòn và cũng là bưu cục đầu tiên của Pháp ở Việt Nam. Tháng 3-1862 Pháp nối đường dây thép mở đường thư trục Sài Gòn–Biên Hòa, tháng 7-1863 kéo dài đến Chợ Lớn, tháng 7-1871 sử dụng đường cáp ngầm nối Vũng Tàu với Singapore để liên lạc với chính quốc. Năm 1884 thực dân Pháp thiết lập đường dây hữu tuyến Sài Gòn – Hà Nội dài 2000 km nối thông liên lạc với các đô thị lớn ở miền Trung và triển khai hệ thống bưu cục ra nhiều tỉnh, năm 1901 mở rộng mạng lưới đường điện, đường thư đến các đồn điền lớn và đồn binh quan trọng, tháng 1-1929 thiết lập đường bưu chính Pháp – Ðông Dương bằng máy bay.
    Song song với hệ thống Bưu chính, tháng 3-1895 thực dân Pháp dịch chuyển đường Cái Quan giáp mé biển lên phía trên để không còn đi qua những nơi rừng rú sình lầy. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX thực dân Pháp khởi công làm con đường nhựa xuyên Ðông Dương mang tên "Ðường thuộc địa số 1" (quốc lộ 1A ngày nay) thay cho đường Cái Quan nền đất xưa kia. Con đường này cũng phỏng theo đường Cái Quan của triều Nguyễn, nhưng nhiều đoạn không chạy dọc theo bờ biển mà chạy tắt qua các đồi núi nhằm làm cho tuyến đường thẳng và ngắn hơn; đường sắt xuyên suốt Bắc – Nam cũng xây lắp vào thời gian này, đồng thời chuyển dịch đường dây điện báo theo tuyến mới cho thuận tiện.
ở Ninh Thuận, đoạn "Ðường thuộc địa số 1" và đoạn đường sắt Bắc–Nam chạy qua tỉnh nối Phan Rang - Tháp Chàm với Nha Trang ở phía Bắc và Phan Thiết, Biên Hòa ở phía Nam được đưa vào sử dụng năm 1912. Vào thời gian này, tiếng xình xịch của tàu hỏa và tiếng còi ôtô bắt đầu rộn vang trên các ngã đường dài.
    Năm 1889, nhà cầm quyền Pháp lập phái đoàn "Lang-bian" làm nhiệm vụ nghiên cứu khai thác tài nguyên phong phú rừng núi Nam Tây Nguyên, trong đó có việc nối Phan Rang – Tháp Chàm với Ðà Lạt. Ðoạn đường này dài 104 km gọi là đường 11, có đèo Krông-Pha tục danh là đèo Ngoạn Mục, vì đứng trên đỉnh đèo phóng tầm nhìn xuống bình nguyên Phan Rang giáp biển xanh bao la, cảnh quan thiên nhiên hiện ra rất đẹp. Phái đoàn "Lang- bian" còn lập kế hoạch mở con đường sắt từ Tháp Chàm ngược lên Ðà Lạt bằng tàu hỏa, thiết kế theo kiểu bánh tàu và đường tàu đều có răng cưa để trườn lên đoạn đèo Krông-pha và đèo Ðờ-răng cao ngất, cách mặt biển 1.500m.
Cũng từ đầu thế kỷ XX trở đi, ở Ninh Thuận, Pháp bắt đầu xây dựng các cơ quan công sở của bộ máy cai trị như tòa sứ, kho bạc, thuế quan, đồn binh. Trong đó, nhà Dây thép cũng được chúng xây cất tại Phan Rang và Tháp Chàm làm đầu mối trung tâm liên lạc điện báo, điện tín, đường thư ở địa phương với các nơi trong nước.
    Thời bấy giờ, xây dựng cơ sở vật chất bưu điện khá hoàn chỉnh, nhưng thực dân Pháp vẫn tiếp tục sử dụng hệ thống giao thông liên lạc lạc hậu của triều Nguyễn. ở nông thôn, phu trạm vẫn chạy bộ phát thư cho các tư gia. Lính trạm chuyển văn thư đến các làng xã, chỉ có bưu cục mới giữ mối liên lạc các công sở, quản hạt tỉnh lỵ, huyện lỵ.

Thiết kế bởi TTTH - Bưu điện Ninh Thuận