Giao bưu - vô tuyến điện tỉnh Ninh Thuận 
       trong kháng chiến chống  thực dân pháp
(1945-1954)
Mở đầu
Phục vụ xây dựng -bảo vệ chính quyền cách mạng và phong trào du kích chiến tranh(1945-1954)
1.Ðường hành langtrên rừng núi và đồng bằng
+Các trạm ở phía bắc tỉnh
+Các trạm ở phía nam tỉnh
2.Giao thông liên lạc trên "Ðường mòn HCM"
3.Giao thông liên lạc đường biển
4.Thông tin liên lạc vô tuyến điện
Phục vụ đảng lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến chống pháp 1950-1954
1.Giao thông liên lạc đường rừng núi và đồng bằng
2.Giao thông liên lạc trên "Ðường mòn Hồ Chí Minh"
3.Giao thông liên lạc đường biển
4.Thông tin liên lạc vô tuyến điện

   Trong kháng chiến, giao thông liên lạc được sự chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy Ðảng, có nhiệm vụ chuyển nhận báo cáo, công văn, tài liệu, mệnh lệnh, chỉ thị của Ðảng, Chính quyền từ cấp trên xuống cấp dưới và ngược lại, đến tận cơ sở của Ðảng hoạt động trong lòng địch. Ngoài ra, cán bộ chiến sĩ giao thông liên lạc còn đưa đón các đoàn cán bộ đi công tác, các đoàn dân công đi tải lương thực, quân trang quân dụng và vũ khí đạn dược, phối hợp với lực lượng vũ trang đưa bộ đội tập kích đồn bót, cứ điểm địch, nhận, chuyển thư cho cán bộ, chiến sĩ và đồng bào.
    Tổ chức mạng lưới giao thông liên lạc thay đổi tên gọi theo từng thời kỳ chiến tranh sao cho phù hợp với tổ chức bộ máy cơ quan của Ðảng, Chính quyền. Thông thường ta quen gọi là "giao liên", một cụm từ hết sức quen thuộc trong chiến tranh, có lúc gọi là bưu vận, giao bưu hay hành lang. Tổ chức bộ máy giao thông liên lạc được sắp xếp như sau: cấp Trung Ương Cục (R), Khu, Tỉnh được đặt là Ban (Ban Giao bưu hoặc Ban Hành lang). Ban là cơ quan chuyên ngành về giao thông liên lạc, trong đó các Phòng, Ban chuyên môn phục vụ sự chỉ đạo ở cấp đó. Dưới Ban có trạm Tổng phát hành, cán bộ lãnh đạo là trưởng ban, phó ban; trạm là trưởng trạm, phó trạm. Dưới Trạm Tổng phát hành có rất nhiều trạm, từng trạm có tên đặt riêng được phân bổ theo từng vùng, từng địa phương và có mối quan hệ mật thiết, liên hoàn với nhau từ Trung ương đến các tổ giao liên xã, thôn và vào tận cơ sở vùng địch tạm chiếm đóng.
    Cán bộ, chiến sĩ giao liên vượt qua nhiều đồn bót, vùng địch kiểm soát, vượt qua núi rừng hiểm trở, sông suối chằng chịt, công việc của giao liên cực kỳ gian khổ và nhiều nơi, nhiều lúc rất ác liệt, nguy hiểm. Kết quả những chuyến thư, chuyến đưa đón cán bộ là những chiến công thầm lặng của chiến sĩ giao liên trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
    Còn giao thông đường biển dùng thuyền lớn vận chuyển lương thực, vũ khí đi xa ngoài khơi, thuyền buồm chèo tay loại nhỏ đưa đón cán bộ, có lúc thuyền nhỏ cũng chuyển vũ khí vào Bình Thuận, Nam Bộ rồi chuyển lương thực ngược lại về tỉnh. ở Ninh Thuận, tổ chức giao thông này do Ty Kinh tế tỉnh quản lý và thành lập Ðội Thủy Vận có 3 trạm đóng ven biển, tuy thuyền ra vào có khó khăn nguy hiểm nhưng dễ tránh né địch, đường đi nhanh, chuyển được khối lượng hàng hóa lớn và cán bộ qua lại an toàn hơn.
Tổ chức bộ máy thông tin liên lạc trong thời kỳ chiến tranh là những cán bộ chiến sĩ làm nhiệm vụ bằng máy vô tuyến điện thông qua kỹ thuật thu và phát tín hiệu (moose) bằng chữ cái, chữ số, chữ rõ qua dây chuyền sử dụng máy phát, máy thu dùng pin hoặc máy phát điện bằng hơi nước, máy phát điện bằng tay quay còn gọi là Ragonote. Riêng chữ rõ chỉ dùng cho hệ minh ngữ như: tin tức, thời sự. Chữ cái và chữ số phải thông qua người dịch mã. Tổ chức này chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Cấp uỷ Ðảng, BCH quân sự (nếu là hệ quân đội) có nhiệm vụ thu và phát điện mật (chữ cái hoặc chữ số), những tài liệu, chỉ thị, mệnh lệnh, hoặc thỉnh thị, báo cáo... đều mang tính chất tuyệt mật giữa đài vô tuyến điện cấp trên và đài vô tuyến điện cấp dưới theo quy ước đã định trước. Người phụ trách một đài vô tuyến điện gọi là đài trưởng, còn chiến sĩ gọi là điện báo viên (hoặc báo vụ). Người phụ trách từ 2 hoặc 3 đài vô tuyến điện trở lên, liên lạc với nhiều nơi, nhiều cấp thì gọi là trưởng Ban Thông tin hay cụm trưởng. Trong nhiệm vụ liên lạc, người báo vụ phải giữừ tuyệt đối bí mật kể cả các bộ phận khác cùng cơ quan. Vì là đài phát sóng nên luôn luôn cảnh giác, tránh việc rà sóng đài của địch. Vì vậy, người chiến sĩ vô tuyến điện phải gánh lấy trọng trách vô cùng quan trọng, nhất là trong thời kỳ chiến tranh, có lẻ vì tính chất quan trọng đó mà ta còn đặt tên là "Ðài đặc biệt".
I - PHỤC VỤ XÂY DỰNG, BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG VÀ PHONG TRÀO DU KíCH CHIẾN TRANH (1945-1950)
    NGÀY 21-8-1945, CUỘC KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN THẮNG LỢI, ỦY BAN CÁCH MẠNG LÂM THỜI TỈNH NINH THUẬN ÐƯỢC THÀNH LẬP SAU ÐÓ MỘT THÁNG, ỦY BAN VIỆT MINH LÂM THỜI TỈNH TRIỆU TẬP ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN ÐỊNH RA CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ÐỘNG, TIẾN HÀNH BẦU ỦY BAN VIỆT MINH CHÍNH THỨC VÀ THÀNH LẬP MỘT SỐ NGÀNH KINH TẾ XÃ HỘI QUAN TRỌNG, TRONG ÐÓ CÓ TY GIAO THÔNG CÔNG CHÍNH DO ÔNG NGUYỄN KHÁNG LÀM TRƯỞNG TY PHỤ TRÁCH CẢ GIAO THÔNG VÀ BƯU ÐIỆN.
    Dưới chế độ thực dân Pháp, hệ thống giao thông liên lạc đương thời là các Nhà Dây thép. Tại Ninh Thuận có hai Nhà Dây thép: một tại thị xã Phan Rang (nay là Công ty Ðiện báo Ðiện thoại - số 4 Lê Hồng Phong), hai tại Tháp Chàm (nay là Bưu cục Tháp Chàm). Những năm trước Cách mạng tháng 8-1945, ta bố trí hai cơ sở hoạt động bí mật trong hai nhà dây thép: đồng chí Trần Nguyên Mẫn(1), làm việc trong nha ứ dây thép Tháp Chàm, và đồng chí Ðỗ Ðạt Khoáng(1) hoạt động trong nhà dây thép Phan Rang. Nhờ vậy, sau khi giành chính quyền, hai nhà dây thép Phan Rang, Tháp Chàm được ta tiếp quản thuận lợi, toàn bộ máy móc và công cụ thông tin được bảo vệ an toàn. Tất cả nhân viên giữ lại phục vụ cách mạng. Ðặc biệt, sau Cách mạng Tháng Tám, giữa lúc giặc ngoài, thù trong âm mưu bóp chết chính quyền cách mạng đang còn trứng nước, qua hai nhà dây thép này đường dây liên lạc Ninh Thuận nhanh chóng nối liền với hệ thống dây thép Hà Nội và Khu vực để tiếp nhận kịp thời đường lối, chủ trương và sự chỉ đạo của Trung ương. Trên cơ sở đó, tỉnh tiến hành tổ chức, triển khai phổ biến xuống tận cơ sở, đến nhân dân và phát động nhiều phong trào như: phong trào tòng quân xây dựng lực lượng vũ trang, dân quân tự vệ, phong trào ủng hộ tiền, vàng, đồng, lương thực, phục vụ kháng chiến và kiến quốc, phong trào cứu đói, phong trào bình dân học vụ, đưa đón, tiếp tế cho lực lượng Nam tiến, bầu cử Ðại biểu quốc hội, truy đánh quân Nhật ở địa phương... Tuy còn non yếu, nhưng dưới sự lãnh đạo của Ðảng bộ Ninh Thuận, tổ chức mạng lưới giao thông liên lạc đã đóng góp phần quan trọng trong xây dựng và bảo vệ chính quyền.
    Giữa lúc phong trào cách mạng cả nước đang sục sôi khí thế kiến quốc, nhân dân Ninh Thuận hăng hái tham gia các phong trào xây dựng, phát triển quê hương và chuẩn bị đón cái Tết đầu tiên trong độc lập tự do, thì trưa ngày 28-01-1946, quân Pháp từ Ðà Lạt bất ngờ tấn công xuống Phan Rang – Tháp Chàm.Các cơ quan và nhân dân có nhà nằm sát quốc lộ 11 (nay là quốc lộ 27), Quốc lộ 1 A nhanh chóng di tản về vùng nông thôn.
    Cùng với những phương tiện thông tin trọng yếu, số cán bộ nhân viên hai nhà dây thép cũng khẩn trương di dời ra vùng an toàn, CBCNV nhà dây thép Phan Rang lên Bình Chánh, CBNV Tháp Chàm qua Hoài Nhơn (Cà Na).
    quan Chính quyền tỉnh, cơ quan Việt Minh, Tỉnh ủy lúc đầu qua làng Vạn Phước, sau chuyển lên vùng Bình Chánh. Các cơ quan, Ban, Ngành của tỉnh đều di chuyển theo một địa điểm riêng. Ðể phục vụ kịp thời sự chỉ đạo của Tỉnh trong tình hình thực dân Pháp trở lại, ủy ban hành chính tỉnh nhanh chóng tập hợp số CBCNV hai nhà dây thép chuyển lên đóng ở Bình Chánh. Tại đây hình thành trạm giao thông liên lạc gồm hai bộ phận. Bộ phận thứ nhất phụ trách việc đưa đón cán bộ, chuyển công văn tài liệu đi các hướng: hướng thứ nhất vào Cà Ná, hướng thứ hai qua Hòa Trinh, xuống Từ Tâm, Lâm Thủy, An Thạnh, Phú Thọ qua vùng Ðông Tây Giang; hướng thứ ba qua La Chữ, Mông Ðức, Thuận Hòa, Mỹ Ðức, xuống Mỹ Tường. Bộ phận thứ hai đóng ở Hoài Nhơn tổ chức liên lạc đi các hướng: qua rừng Lim, lên Phước An, Phước Thiện, Liên Sơn tới Ðồng Mé, Tân Mỹ; hướng thứ hai đi Ninh Quí, Ðắc Nhơn, Lương Tri, Lương Thành, Mỹ Nhơn, An Xuân, đến các làng xung quanh như: Trường Sanh, Vạn Phước...Hai bộ phận liên lạc này nối liền sự chỉ đạo của các cơ quan Tỉnh ủy, ủy ban Việt Minh, ủy ban hành chính và chi đội 2 với cơ sở.
    Tình hình rất căng thẳng, để tránh né và che mắt địch, mặt khác lực lượng ta rất thiếu, nên mạng lưới giao thông liên lạc ở xã, thôn do lực lượng dân quân du kích kiêm nhiệm và do ủy ban xã, thôn quản lý. Việc liên lạc từ làng này qua làng khác được tổ chức dưới hình thức liên lạc viên cải trang đi chăn trâu, chăn bò, đi buôn bán, đi rẫy... Ðó là tổ chức và hoạt động của mạng lưới giao thông liên lạc trong thời gian Pháp tái chiếm tỉnh Ninh Thuận.
    Ngày 6-3-1946, Chính phủ ta ký Hiệp định sơ bộ với Pháp, nhằm đẩy quân Tưởng ra và kéo dài thời gian chuẩn bị lực lượng kháng chiến lâu dài. ở Ninh Thuận, sau khi Hiệp ước sơ bộ địa phương ký kết, ta tổ chức đồng bào hồi cư. Ðồng thời Tỉnh ủy chủ trương đưa số cán bộ tin cậy vào nằm trong dân, mỗi vùng một cán bộ (vùng tương đương huyện) có nhiệm vụ tổ chức lại hoạt động của ủy ban Việt Minh và Chính quyền thôn, chuyển các đoàn thể quần chúng vào bí mật, tổ chức liên lạc chặt chẽ giữa các đồng chí phụ trách vùng với các thôn và với cấp trên. Ðể thực hiện Hiệp ước được ký kết, hai bên thành lập Trạm liên lạc Việt-Pháp tại đồn Hòa Trinh, nhằm theo dõi việc thực hiện các điều khoản đã qui định. Trong khi hai bên tổ chức đóng cọc phân chia ranh giới, Pháp cho gián điệp giả dạng buôn bán thâm nhập vào vùng ta kiểm soát để dò la tin tức, nắm tình hình. Lợi dụng lúc ta sơ hở, ngày 5-5-1946 quân Pháp bất ngờ tấn công và bao vây ủy ban kháng chiến hành chánh tỉnh từ Bình Chánh mới chuyển về La Chữ, bắt toàn bộ thành viên ủy ban, sau đó chúng đem xử bắn. Tiếp theo, ngày 7 và 9 tháng 5, chúng dùng bộ binh và không quân đánh vào lực lượng ta đóng ở Ðá Trắng, Bầõu Bèo, Hòn Ðỏ, bộ đội ta chiến đấu dũng cảm, có đồng chí bị bắt nhưng không đầu hàng. Trước tình hình ấy, ngày 11-5-1946, Ban chỉ huy chi đội 2 ra lệnh cho gần 2000 cán bộ, chiến sĩ chôn súng, phân tán vào dân. Việc giải tán chi đội 2 làm cho dân chúng và cán bộ chiến sĩ hoang mang, Chính quyền cách mạng các huyện và một số làng không hoạt động. Một số cán bộ mất phương hướng chạy xuống Sơn Hải, Vĩnh Hy, Ðông Giang dùng thuyền ra vùng tự do khu V. Tổ chức giao thông bưu chính phục vụ cách mạng ở Ninh Thuận tan rã.
    Việc liên lạc giữa các địa phương với lãnh đạo Tỉnh bị tê liệt, mọi hoạt động bị đình trệ. Nhưng nhờ trước đó, Tỉnh ủy bố trí số cán bộ về nằm vùng bám dân, chuyển các tổ chức vào hoạt động bí mật, nên ủy ban Việt Minh thôn, các đoàn thể, lực lượng dân quân du kích nối liên lạc với lãnh đạo nhanh chóng được củng cố. Lúc này, giao thông liên lạc được tổ chức, xắp xếp lại rất tinh gọn, móc nối liên lạc giữa tỉnh với các vùng, vùng xuống thôn. Số đồng chí lãnh đạo các cấp còn lại tự chấp nối liên lạc với nhau thông qua cơ sở cài trong dân. Ngày 25-5-1946, đồng chí Trần Quỳnh(1) triệu tập Hội nghị đánh giá tình hình trong tỉnh sau khi Pháp phá hoại Hiệp ước sơ bộ địa phương và đề ra một số nhiệm vụ: gấp rút củng cố lại lực lượng vũ trang, khôi phục lại chính quyền các cấp, thành lập các tổ chức Ðảng ở cơ sở. Qua thời gian củng cố, xây dựng, ổn định tổ chức, ta triển khai nhiều đợt tấn công địch, gây tiếng vang tốt trong nhân dân, nâng cao uy tín của Ðảng. Qua đó, ta tranh thủ vận động, lôi cuốn đồng bào ủng hộ cách mạng, nam nữ thanh niên giác ngộ cách mạng thoát ly gia đình tham gia kháng chiến, tăng cường quân số vào lực lượng vũ trang, dân quân du kích, gây dựng lại mạng lưới giao thông liên lạc trong quần chúng nhân dân.
Tình hình chung trong nước : chiến thắng Việt Bắc tháng 10-1947 làm thực dân Pháp điên đảo, đó là sự thất bại của chiến lược chiến tranh "Ðánh nhanh thắng nhanh" mà Pháp đặt vào chiến trường Việt Nam từ khi mới xâm lược. Tuy thất bại, nhưng Pháp vẫn không nhả miếng mồi béo bở ở Việt Nam, bởi sau lưng Pháp có đồng minh là Mỹ đang hà hơi tiếp sức..."Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" là chiến lược thứ hai mà đầu năm 1948 Pháp sử dụng vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Mục đích của âm mưu thay đổi chiến lược chiến tranh của Pháp là làm suy yếu và tiêu diệt phong trào cách mạng ở Ðông Dương mà nhất là Việt Nam, để chúng tự do tăng cường đàn áp, khủng bố nhân dân ở các đồn điền.
    Ðối với ta, tháng 1-1948 Ban Chấp hành Trung ương Ðảng nhận định về âm mưu, thủ đoạn chiến lược chiến tranh mới của thực dân Pháp và đề ra nhiệm vụ trong toàn Ðảng là tiến hành xây dựng Ðảng trong vùng địch kiểm soát, nhằm đẩy mạnh hơn nữa cuộc kháng chiến toàn dân, xây dựng chi bộ để chủ động lãnh đạo công tác và đủ sức lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương.
Ðể góp phần tích cực đập tan âm mưu nham hiểm của thực dân Pháp, Tỉnh ủy Ninh Thuận nhanh chóng triển khai chủ trương của Trung ương Ðảng: củng cố, xây dựng tổ chức Ðảng từ tỉnh xuống huyện, thị xã và cốt cán cơ sở trong thôn, xã. Song song với việc xây dựng và phát triển tổ chức Ðảng, Tỉnh tập trung củng cố lực lượng vũ trang, phát triển phong trào chiến tranh du kích, củng cố khối đoàn kết toàn dân, kiện toàn bộ máy lãnh đạo kháng chiến chống địch dồn dân, lập ấp, rào làng, chú trọng xây dựng, phát triển giao thông liên lạc đường bộ, đường biển và liên lạc qua vô tuyến điện.
1. Ðường hành lang trên rừng núi và đồng bằng:
    Cũng trong Hội nghị tháng 5-1946, Tỉnh tiến hành bầu Ban Chấp hành Tỉnh ủy lâm thời, ủy ban Việt Minh và ủy ban Kháng chiến hành chánh tỉnh, gồm có các đồng chí Trần Quỳnh - Bí thư Tỉnh ủy, Trương Chí Cương - phó Bí thư và Ban Chấp hành Việt Minh do đồng chí Trần Quỳnh kiêm nhiệm. Ðồng chí Trần Nguyên Mẫn - Chủ tịch ủy ban Kháng chiến hành chánh tỉnh, Phạm Thúc Bảo - phó Chủ tịch. Hội nghị quyết định, chia tỉnh thành 6 khu hành chính (kể cả Ba Ngòi - khu VI), lập mỗi khu một Ban Cán sự Ðảng, đồng thời phân công một đồng chí phụ trách Chính quyền (phái viên hành chánh) và một phụ trách Quân sự. Về quân sư,ù thành lập Trung đoàn 81 và bốn đại đội đứng trên các vùng CK19, CK22, CK7, CK25, sau này thành lập thêm CK35 nằm trong vùng 2.
    Về giao thông liên lạc, tháng 2-1946, sau khi các tỉnh Cực Nam Trung Bộ bị Pháp tái chiếm, Trung ương thành lập Ban Giao thông Thông tin liên lạc từ Việt Bắc vào các tỉnh. ở Ninh Thuận, sau Cách Mạng tháng 8-1945, tỉnh thành lập Ty Giao thông công chánh gồm cả Bưu điện để liên lạc thông suốt với Bình Thuận, Khánh Hòa, Ðà lạt. Nhưng khi Pháp phản bội Hiệp ước sơ bộ, đường liên lạc đi các nơi gặp khó khăn do không chuẩn bị trước, nhất là liên lạc đường bộ giữa Ninh Thuận với Khánh Hòa bị ách tắc. Ðể khắc phục tình hình đó, Ban Giao thông Trung ương tổ chức đường thư trực từ Việt Bắc vào đến huyện Hiên (Quảng Nam) và từ vùng tự do khu V vào khu VI(1).
    Thời gian này, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, hệ thống liên lạc bất hợp pháp, kết hợp với đường dây liên lạc hợp pháp giữa tỉnh xuống các khu, giữa Tỉnh ủy, ủy ban Việt Minh, ủy ban Kháng chiến Hành chánh và các ngành xung quanh tỉnh được xây dựng lại. Tỉnh ủy giao cho ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh chỉ đạo việc xây dựng hệ thống giao liên bất hợp pháp, cử hai cán bộ chuyên trách là Ðặùng Chính Ðường và đồng chí Ðệ, thành lập trạm giao thông liên lạc đóng ở làng Vạn Phước, gần cơ quan Tỉnh ủy. Mạng lưới giao liên với các khu trong tỉnh theo các tuyến: Một tuyến từ trạm chính đóng tại làng Vạn Phước qua khu III, khu V đóng tại Mỹ Ðức (thị xã Phan Rang Tháp Chàm), từ đó đến bộ phận liên lạc khu IV đóng ở làng Công Thành, rồi đến khu I. Một tuyến khác từ trạm chính đi xuống bộ phận liên lạc Trạm Bà Ngư – Từ Tâm, liên lạc với khu II(2) rồi qua khu IV xuống Xóựm Bằng (CK19), tiếp đến ra Trạm .
    Ðể việc lãnh đạo, chỉ đạo được ổn định, sau Tết năm 1947 các cơ quan Tỉnh ủy và ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh chuyển lên đóng ở CK7. Tại đây, Tỉnh ủy tiến hành mở Hội nghị cán bộ: bầu bổ sung Tỉnh ủy, chuyển các khu hành chánh thành vùng, đặt tên xã, đồng thời thành lập các Ty: Ty kinh tế, Ty bình dân học vụ, Phòng quốc dân thiểu số và Phòng Giao thông Liên lạc tỉnh... Phòng Giao thông Liên lạc tỉnh được thành lập trên cơ sở Trạm giao liên Vạn Phước chuyển lên, Ban lãnh đạo phòng có 2 đồng chí: đồng chí Ðặng Chính Ðường trưởng phòng, Tỉnh ủy điều đồng chí Ðào Tấn Ðạt công tác ở xã Thuận Tâm lên làm phó phòng, đồng chí Ðệ và đồng chí Siêng (Hoàng) là hai cán bộ Phòng. Phòng Liên lạc có một đảng viên là đồng chí Ðào Tấn Ðạt - chi ủy viên Thuận Tâm về làm chi ủy viên chi bộ Chỉnh Sơn, tổ trưởng Tổ Ðảng Phòng Giao thông Liên lạc tỉnh (Sau này, phát triển thêm một số đảng viên như: Huỳnh Công Lập, Nguyễn Phuông, Ðặng Chính Ðường), dưới Phòng có Trạm Tổng phát hành. Thời gian này, sau khi địch củng cố bọn tề vệ, xây dựng đồn bót, tăng cường quân lính kềm kẹp ở đồng bằng, chúng tập trung lực lượng, vũ khí đánh phá vùng rừng núi, tổ chức nhiều nhóm Gum-nhê là người dân tộc thiểu số các buôn làng, phục kích đánh phá đường hành lang, tập kích vào các cơ quan ta như: Tháng 2-1948, trong dịp Tết âm lịch, địch tập kích vào ủy ban Kháng chiến Hành chánh vùng II: đồng chí Mực liên lạc viên anh dũng hy sinh (lúc này địch càn quét vùng CK7, nơi ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh đóng, nên cơ quan phải sơ tán xuống vùng II). Sau hai ngày, chúng đánh úp vào Trạm Magiắc, anh em giao liên cầm súng chiến đấu anh dũng. Còn ở phía Bắc tỉnh, địch sử dụng các nhóm vũ trang Gum-nhê phục kích trên các tuyến hành lang như: trận bị địch phục kích tại Hàm Riêu, ba đồng chí giao liên: Cảnh, Ngô, Quân anh dũng hy sinh.
    Trước tình hình rất khó khăn, ác liệt trên các tuyến hành lang miền núi, gây không ít trở ngại trong việc giao thông liên lạc đi các tuyến. Ðể khắc phục khó khăn trên, Tỉnh ủy chủ trương kết hợp cả 3 lực lượng: quân bưu (lâu nay đường hành lang đi liên tỉnh do quân đội quản lý), giao liên của Dân Chính Ðảng và giao thông đường biển thành tổ chức giao thông liên lạc mới, lấy tên là Liên Trinh, do đồng chí Tuế - quân bưu và một đồng chí của Dân Chính Ðảng phụ trách. Từ đây, lực lượng giao liên được trang bị vũ khí, tuy chưa đầy đủ, nhưng mỗi chuyến giao trực đều có vũ khí để tự vệ, bảo vệ cán bộ và tài liệu...
Mạng lưới giao thông liên lạc đường bộ được tổ chức thành các trạm móc nối liên lạc với nhau: Phòng Giao thông Liên lạc tỉnh có nhiệm vụ phối hợp cùng với Tỉnh đội tổ chức các Trạm Liên Trinh (liên lạc, trinh sát). Nhiệm vụ các Trạm vừa làm nhiệm vụ trinh sát, vừa đưa đón cán bộ, chuyển nhận công văn, tài liệu. Thường thì mỗi trạm bố trí từ 4-5 đồng chí, thời gian sau có tăng cường thêm. Các tuyến liên lạc được bố trí như sau:
CÁC TRẠM Ở PHÍA BẮC TỈNH :
    Từ Trạm 100 ( trước là Trạm Tôkyo) đi ra có Trạm 105 (trước là Trạm Giếng Bẹng hay còn gọi Trạm 25); Trạm 115 (trước là Trạm Suối Ngang); giữa Trạm 115 và Trạm 105 có Tổ giao liên làm nhiệm vụ đò ngang qua sông Cái; xuống Tổ giao liên của ủy ban Kháng chiến Hành chánh thị xã Phan Rang-Tháp Chàm; hướng ra phía Ðông là Trạm 125; từ đây băng qua Quốc lộ 1 và đường xe lửa ra Trạm Kiền Kiền; rồi đến Trạm Chi Lăng. Từ Trạm 115 tiếp ra phía Bắc tỉnh nối liên lạc với đường mòn Hồ Chí Minh là Trạm 18 (đóng ở thôn Thâm Dú), đi ra có Trạm Ma Nai (trước là Trạm Ðầu Suối); ra nữa có Trạm Ma Hoa ở xã Phước Thắng liên lạc với Khánh Hòa...
Các trạm ở phía Nam tỉnh :
    Từ Trạm 100 xuống các trạm: Trạm 130 (trước là Trạm vùng 2); Trạm Magiắc và Trạm Hồ Ba Bể. Magiắc là Trạm giao liên được thành lập đầu năm 1947, do đồng chí Nguyễn Biên trạm trưởng, phục vụ Ðảng lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng vũ trang đóng ở vùng núi Tam Sơn và liên lạc với các xã miền Hạ Thuận Nam. Nơi đây, địch thường xuyên phục kích đánh phá, như tháng 2-1948, bị địch tập kích, đồng chí Nguyễn Biên anh dũng hy sinh, Trạm này giải thể cuối năm 1948. Ngoài ra, còn có tuyến liên lạc từ Trạm 100 lên tỉnh Lâm Viên, chủ yếu là đường núi, có thời gian liên lạc theo đường dây hợp pháp.
    Cuối năm 1947, phong trào du kích chiến tranh phát triển mạnh, lực lượng vũ trang và dân quân du kích chủ động triển khai, tổ chức đánh địch nhiều nơi. Ðể đối phó, ngăn chặn phong trào cách mạng đang trên đà phát triển và lan rộng, địch lập lại bộ máy tề điệp, dồn số ấp lẻ vào làng lớn, tàn sát dã man đồng bào các vùng đông dân cư như: làng Sơn Hải, Vạn Phước. Ðặc biệt là ấp Nam chúng tàn sát rất dã man đồng bào ở đây (chỉ còn sống sót một số ít em bé). Ðến cuối năm 1948, địch dồn dân, rào làng, đóng đồn bót khắp nơi trong tỉnh. Tình hình này ảnh hưởng không ít đến phong trào cách mạng về việc gây dựng và phát triển cốt cán cơ sở trong quần chúng nhân dân. Việc truyền đạt chủ trương, chỉ thị, nhất là chỉ đạo của Ðảng từ ngoài vào và nắm bắt tin tức tình hình địch từ trong ra, có lúc, có nơi bị gián đoạn. Lực lượng ta bị đánh bật ra khỏi dân, các cơ quan chuyển lên vùng cao, vùng sâu... Tuy nhiên, ta vẫn còn lực lượng bám trụ trong dân, được nhân dân nuôi nấng, bảo vệ và đào hầm bí mật che dấu. Chính nhờ được dân thương yêu che dấu và thông tin tin tức tình hình địch mà chiến sĩ giao liên vẫn âm thầm len lõi, luồng lách đi qua đồn bót địch để nối chặt mối quan hệ giữa Ðảng với dân, với phong trào cách mạng đang ăn sâu bám rễ trong nhân dân vùng địch tạm chiếm.
    Trước tình hình đó, để triển khai thực hiện chủ trương của Ban Cán sự Cực Nam, tháng 5-1949, Tỉnh ủy đề ra chủ trương "Tiến về làng gây cơ sở", phát động quần chúng đấu tranh diệt tề, phá các khu dồn dân rào làng, trở về làng cũ. Cán bộ được phân công vào làng bám trụ, vận động giác ngộ quần chúng thấm nhuần chủ trương của Tỉnh ủy, bên ngoài sử dụng phương pháp vũ trang, tuyên truyền bám sát ấp. Qua thời gian "Tiến về làng", lực lượng vũ trang, du kích bên ngoài liên tục đột ấp đánh phá mục tiêu địch, đồng thời phối hợp với lực lượng hoạt động hợp pháp bên trong thôn, ấp diệt ác ôn, phá tề điệp, từng bước khôi phục, xây dựng và phát triển cơ sở. Nhờ đó, đường dây liên lạc được củng cố và móc nối liên lạc với bên ngoài, phục vụ Tỉnh ủy chỉ đạo phong trào phát triển thuận lợi.
    Cuối năm 1949, đồng chí Trịnh Huy Quang thay mặt Liên Khu ủy V và Ban Cán sự Cực Nam vào làm việc với Tỉnh ủy Ninh Thuận, chủ trương giải tán hai huyện ở đồng bằng là Thuận Bắc và Thuận Nam, thành lập 15 xã lớn trực thuộc tỉnh, duy trì thị xã Phan Rang Tháp Chàm, huyện An Phước (Chăm), huyện Bác Aựi), cắt hai xã Tương Lai, Hạnh Phúc (miền núi) giao cho Lâm Ðồng, thành lập huyện Anh Dũng làm bàn đạp tiến lên Lâm Viên (năm 1952, huyện Anh Dũng được giao lại cho Ninh Thuận), đồng thời giải tán Tỉnh đội, phụ trách quân sự có đại diện của Liên Trung đoàn 81-82 ở bên cạnh Tỉnh ủy, phân công Tiểu đoàn Tập trung 89 hoạt động ở chiến trường Bắc Bình Thuận và Ninh Thuận mà chủ yếu là phía Nam tỉnh Ninh Thuận.
    Ðịch ra sức dùng bom đạn bắn phá xóm làng, đưa quân lính vào lùa dân lập ấp, chúng gây cho đồng bào ta cảnh màng trời, chiếu đất, cơm không có ăn, áo không có mặc. Ðứng trước tình hình đó, Tỉnh ủy chủ trương vận động số đồng bào bị địch khủng bố bất hợp tác với chúng, thoát ly tham gia kháng chiến như: đồng bào Sơn Hải, Vĩnh Hy, Thái An... và số cơ sở những nơi bị địch dồn, nhà cửa bị đốt phá thoát ly ra chiến khu. Số đồng bào ra chiến khu được tập hợp lại trên những khu vực có điều kiện để xây dựng và tăng gia sản xuất, từng bước hình thành khu du kích chiến tranh, nối liền giữa miền núi và đồng bằng. Từ đây: CK7, CK19, CK22, CK35 hình thành các khu dân sinh 1,2,3,4. Cùng với nhân dân các khu dân sinh mới được thành lập và đồng bào dân tộc vùng căn cứ, cán bộ, nhân viên các cơ quan, các đơn vị bộ đội hăng hái thực hiện chủ trương của Tỉnh tham gia sản xuất lương thực tự túc. Ðồng thời, các cơ quan thực hiện việc giảm chỉnh, tinh giảm biên chế tăng cường cho lực lượng vũ trang, bổ sung vào mạng lưới giao liên, tổ chức các bộ phận chuyên tăng gia và bảo vệ sản xuất, bổ sung làm nồng cốt xây dựng các khu dân sinh.
2. Giao thông liên lạc trên "Ðường mòn Hồ Chí Minh" :
    thể nói "Ðường mòn Hồ Chí Minh" là một sáng tạo độc đáo và là kỳ công của chiến sĩ giao liên Ninh Thuận thời bấy giờ. Khi mà đường giao thông liên lạc miền núi từ Khánh Hòa vào Ninh Thuận hoàn toàn bế tắc bởi các ổ vũ trang gọi là "Gum – nhê" do thực dân Pháp xây dựng trong đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng núi Cực Nam dãy Trường Sơn để chống phá kháng chiến.
Năm 1947, đường dây liên lạc từ Ninh Thuận vào Bình Thuận đi Nam Bộ được nối thông. Ðường bộ từ khu V vào khu VI(1) và Khánh Hòa được tổ chức liên lạc thông suốt vào cuối năm 1946: từ Trạm Liên Hiệp Mỹ, Nam huyện Tuy Hòa – Phú Yên đến Trạm Dốc Mõ (ranh giới giữa 2 tỉnh Phú Yên-Khánh Hòa). Tỉnh Khánh Hòa mở thông đường từ Dốc Mõ vào Hóc Chim huyện Vạn Ninh (đoạn đường này địch thường phục kích đánh các đoàn cán bộ ra vào, gây cho ta nhiều tổn thất), và từ Hóc Chim vào Trạm Hòn Hèo rồi đến Trạm Hòn Dữ (huyện Diên Khánh), nhưng đoạn đường từ Diên Khánh – Khánh Hòa vào Bác ái - Ninh Thuận chưa xoi được, liên lạc giữa Ninh Thuận với khu VI chủ yếu bằng đường biển và vô tuyến điện.
    Trước yêu cầu cấp thiết phải khai thông đường núi từ Bác Aựi-Ninh Thuận ra đến Hòn Dữừ – Bắc huyện Diên Khánh – Khánh Hòa nhằm nối thông liên lạc giữa khu VI với các tỉnh Cực Nam Trung Bộ. Thời gian này, đồng chí Vũ Ðức (Hoàng Ðình Dong) ủy viên Trung ương Ðảng đến chiến khu Ngọc Lâm (CK7) theo đường từ Bình Thuận ra Ninh Thuận để nghiên cứu thực tế con đường từ Ninh Thuận ra Khánh Hòa dài hơn 200 km, tuy gian khổ nhưng an toàn hơn. Sau đó, khu VI chỉ đạo hai tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận tìm mọi cách sớm xoi thông con đường này, đoạn đường này đi qua ba huyện miền núi của hai tỉnh: Bác ái – Ninh Thuận; Khánh Sơn, Vĩnh Sơn (nay là Khánh Vĩnh – Khánh Hòa). Những nơi này, là vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, núi cao, rừng sâu, sông suối nhiều, đường đi rất hiểm trở. Các buôn làng, thực dân Pháp còn nắm một bộ phận phản động người dân tộc (các già làng, đầu lớn- tổng lý) để khống chế dân, chốt chặn đường hành lang của ta.
    Cuối năm 1946, theo sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban chỉ huy Trung đoàn 81 điều một trung đội vũ trang làm nhiệm vụ chuyên trách mở đường từ Bác Aựi ra Vĩnh Sơn, do Nguyễn Hoa(1) – trung đội trưởng và đồng chí Ðặng Quang Cầm – trung đội phó. Ðầu năm 1947, Trung đoàn 81 tăng cường một trung đội vũ trang do đồng chí Phạm Niên(2) phụ trách, phối hợp cùng với trung đội Ðặng Quang Cầm xoi đường cắt rừng ra Diên Khánh. Từ năm 1946 đến năm 1948, lực lượng xoi đường có vũ trang chủ yếu ra khu V nhận vũ khí, công văn, tài liệu, vàng, bạc (tín phiếu) của Trung ương, khu VI chỉ đạo và chi viện cho các tỉnh Ninh Thuâùn, Bình Thuận, Lâm Viên, Ðồng Nai thượng. Ðoạn này thường xuyên thay đổi ba tuyến đường: Một là từ Trạm18 thôn Thâm Dú, xã Phước Trung đến xã Phước Thành qua cầu Lục Tiểu ra Bắc Khánh Hòa. Hai là từ Trạm 18 qua Phước Thắng, Phước Kháng, Xóm Cỏ đến Hòn Dù, Gia Lê ra Bắc Khánh Hòa. Ba là từ Trạm 18, qua Tây Phước, Phước Hòa, Phước Chính ra Bắc Khánh Hòa. Riêng việc đưa cán bộ ra, vào Ninh Thuận–Khánh Hòa chủ yếu sử dụng tuyến đường ven đồng bằng từ Ninh Thuận ra vùng 6 (Ba Ngòi) nối tiếp với huyện Diên Khánh, thường xuyên bị địch chốt chặn phục kích, nên đêm đi, ngày tìm nơi ẩn nấp, có đêm đi bằng đường biển từ làng Hạ qua Mỹ Ca và từ Mỹ Ca qua Hà Do.          Tuyến này đi từ Trạm Kiền Kiền do Lê Phong Phú – trạm trưởng đóng gần suối Lồ Ô dưới chân núi Chúa, theo đường Gành qua vùng Cát Bay đến Trạm Bãi Tiên-làng Hạ-Cam Ranh (Trạm Kiền Kiền đến cuối năm 1948 giải thể) qua Mỹ Ca-Hà Do (gần Hòn Dồ), vượt Quốc lộ 1 và đường xe lửa đến Diên Khánh.
    Qua thời gian, sau vụ tên Hoa đầu hàng giặc, Trung đoàn tổ chức học tập chính sách dân tộc, quán triệt tư tưởng đối với những cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ hệ trọng này và đồng chí Ðặng Quang Cầm được giao quyền chỉ huy Trung đội. Trung đội được bổ sung một số cơ sở người địa phương như: đồng chí Ðối ở Manai, đồng chí Nhai ở Giahuynh, chị Thái ở Châu Ðát và tiếp tục xoi đường, vừa vũ trang đánh địch, vừa làm công tác dân vận, tự túc lương thực. Trên đoạn đường này, đồng bào dân tộc miền núi chưa hiểu biết nhiều về cách mạng, ta chưa xây dựng được cơ sở cách mạng trong buôn làng, hay còn gọi là vùng trắng, gặp lực lượng ta đồng bào sợ hãi bỏ chạy.
    Ðịch lợi dụng những sai lầm về chính sách dân tộc mà tên Hoa đã gây ra, chúng xuyên tạc nói xấu cách mạng và kích động, mua chuộc số thanh niên các buôn làng tổ chức thành ổ, nhóm vũ trang chống đối cách mạng. Nhất là các nhóm "Gum-nhê" chuyên phục kích chốt chặn đánh phá những nẻo đường lực lượng ta xoi qua, chúng quyết ngăn chặn không để ta tiếp xúc với đồng bào. Ðối với ta, lần đầu anh em mới lên miền núi tiếp xúc với đồng bào dân tộc, ngôn ngữ bất đồng, phong tục tập quán chưa quen nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc ăn ở, đi lại để xoi mở đường. Ðiều kiện ăn ở vô cùng khó khăn, thiếu thốn về lương thực, thực phẩm, thuốc men, chiến sĩ phải trãi qua nhiều tháng liền chống chọi với cái đói, cái rét của khí hậu núi rừng khắc nghiệt, nhất là sốt rét rừng. Có lần mất liên lạc suốt 7 ngày ròng rã, đơn vị nhịn đói tìm lá bép, rau rừng, măng tre ăn thay cơm, lấy tro tranh làm muối. Mặc dù chưa có cơ sở, chưa dựa được dân, nhưng Trung đội tự định hướng cắt rừng mở đường tránh các buôn làng, đường mòn dân thường qua lại. Có đoạn đường ngắn nhưng phải đi vòng vèo mất nhiều ngày, khi đoàn đi qua để lại dấu vết địch phát hiện phục kích đánh lúc đoàn quay về, vì vậy mỗi chuyến đi hoặc về phải mở đường rất gian khổ. Với tinh thần chịu đựng khó khăn, không chùứn bước trước hiểm nguy, ác liệt, đơn vị vượt chặng đường hàng trăm cây số, qua nhiều đèo cao, suối sâu: đánh địch để mở đường, bước lên đầu địch mà tiến, nhiều đồng chí như: Cảnh, Hài, Trinh, Ngộ, Hường... lấy máu mình tô thấm đoạn đường núi rừng giữa Ninh Thuận với Khánh Hòa cực kỳ nguy hiểm, phải mất hai năm trời mới khai thông được. Ðể tôn vinh công lao đáng nhớ ấy, quân và dân Ninh Thuận lấy tên Bác Hồ kính yêu đặt tên đường giao liên Ninh Thuận – Khánh Hòa "Ðường mòn Hồ Chí Minh".
    Cũng trong năm 1947, địch huy động 2000 quân bao vây chiến khu, phong tỏa đường hành lang. Trung đội vũ trang Ðăùng Quang Cầm được giao nhiệm vụ trinh sát, theo dõi mọi hoạt động của địch, mười bốn lần đụng đầu địch. Sau khi nắm chắc quy luật hoạt động của địch, Trung đội kịp thời báo cáo và đưa các cơ quan ra khỏi vòng vây của chúng. Có lúc, có nơi hàng tháng trời Trung đội vẫn dẫm chân tại chỗ, dần dần kiên trì vừa đánh địch, vừa vận động giác ngộ đồng bào, xoi đường đến đâu, xây dựng cơ sở cách mạng đến đó, thực hiện chính sách "Ba cùng": cùng ăn, cùng ở, cùng làm, sẵn sàng nhường cơm xẽ áo với đồng bào... Từ đó, Trung đội tranh thủ được nhiều thanh niên các buôn làng giác ngộ cách mạng tham gia mở đường, bảo vệ đường và thông qua đồng bào thuyết phục, kêu gọi những người lầm đường theo giặc trở về làm ăn, tranh thủ được già làng, đầu lớn, tổng lý... Trãi qua gần hai năm chịu đựng gian khổ, ác liệt và anh dũng chiến đấu, đến cuối năm 1948 Trung đội Ðặng Quang Cầm mở thông đường từ Ninh Thuận ra đến Hòn Dữ – Bắc Diên Khánh, Khánh Hòa. Ðây là con đường huyết mạch nối liền từ Trung ương vào đến Nam Bộ.
    Ðồng chí Ðặng Quang Cầm sinh ra và lớn lên ở Ðô Lương-Nghệ An, tham gia cách mạng tháng 9-1945,ứ tình nguyện hiến dâng tuổi trẻ của mình trên quê hương miền Tây tỉnh Ninh Thuận, một địa bàn nhiều gian khổ, ác liệt nhất của chiến trường Cực Nam Trung Bộ. Bắt đầu cuộc chiến đấu ở rừng núi lắm sông sâu, nhiều núi cao, từ chiến sĩ trinh sát đến trung đội trưởng Trung đội mở đường "Ðường mòn Hồ Chí Minh" trãi qua bao gian nguy, hiểm trở, thiếu đói, đồng chí Ðặng Quang Cầm là tấm gương sáng trong chiến đấu chống kẻ thù và bền bỉ chịu đựng gian khổ; thông minh sáng tạo chỉ huy Trung đội hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Ðối với đồng đội, đồng chí là người giàu lòng thương yêu, giúp đỡ, nhường cơm xẻ áo cho nhau, đối với kẻ thù thì kiên quyết chiến đấu bảo vệ buôn làng, bảo vệ đường hành lang, tài liệu, cán bộ. Suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí Ðặng Quang Cầm cùng đồng đội anh dũng chiến đấu nhiều trận ác liệt, bẻ gãy nhiều cuộc địch phục kích, ruồng bố, đốt phá buôn làng. Ðặc biệt, là chỉ huy Trung đội xoi và bảo vệ thông suốt con đường mang tên Bác Hồ kính yêu, đưa đón hơn 70 đoàn cán bộ, đoàn vận tải vũ khí ra vào an toàn trên đoạn đường dài hơn 200 cây số, đánh hơn 30 trận, tiêu diệt hàng trăm tên địch.
    Trong trận đánh địch càn vào căn cứ, sau khi đơn vị rút đi, đồng chí và 9 thương binh nặng kẹt lại, nhiều thương binh bị gãy tay, gãy chân không còn khả năng đi lại trong lúc tình hình rất căng thẳng, địch ruồng bố, đánh phá ác liệt, đồng bào các buôn thì hoang mang lo sợ. Với ý chí kiên cường chiến đấu bảo vệ đồng đội bằng mọi giá cho dù phải hy sinh, đồng chí quyết di chuyển ngay thương binh ra khỏi vòng ruồng bố của địch, đêm đến cõng từng thương binh nặng, số còn khả năng thì dìu đi từng đoạn, sau đó chuyển tiếp đến điểm đã định. Cứ thế, trắng đêm không ngủ và dốc toàn bộ sức lực còn lại đưa hết thương binh đến nơi an toàn, cách chổ cũ gần 2 tiếng đồng hồ đi bộ. Một công việc đòi hỏi ý thức cách mạng rất cao, tinh thần đồng đội nồng thắm và sức người bền bỉ mà không dễ mấy ai cũng có thể vượt qua.
    Giữa núi rừng, với số thương binh nặng và dù chỉ một hạt muối, nắm gạo hay củ sắn (mì) cũng hết nhẵn, mặt khác thuốc men không có để chữa trị vết thương cho đồng đội, sự sống còn của họ trở nên mỏng manh vô cùng, bao nổi đau đớn ấy cứ cắn xé, dằn vặt mãi trong anh ?. Chỉ còn dựa vào buôn làng và tranh thủ sự giúp đỡ của đồng bào, đồng chí đến mỗi gia đình xin từng củ sắn, hạt gạo, hạt muối về nấu phụ với rau rừng ăn đở cầm hơi, thương binh thì có lá rừng đồng bào dân tộc chỉ cho, hái về nấu để rửa vết thương. Trận chiến mới, bảo vệ, nuôi dưỡng đồng đội cũng dai dẳng, ác liệt không kém gì chiến đấu trực diện với kẻ thù.
    Thời gian cứ nặng nề đè lên các chiến sĩ thương binh sống trong hoàn cảnh vốn đã khó khăn lại còn gian khổ hơn, tro tranh thay muối, lương thực (rau rừng), thuốc chữa trị (lá cây) ngày càng cạn kiệt dần. Bây giờ phải đi thật xa, cách chổ ở 2-3 tiếng đồng hồ, có lúc đi và về mất cả ngày đường băng qua bao núi cao, suối sâu mới tìm được lá, rau rừng, mà đâu phải lúc nào cũng tìm được nhiều rau. Những lúc thiếu ăn, với vai như người "chị cả" đồng chí nhịn đói nhường hết phần ăn của mình động viên, an ủi "các em" cố gắng ăn lấy lại sức, mau lành vết thương, để rồi còn chiến đấu với quân thù đang tàn phá buôn làng, đường hành lang. Công việc vệ sinh cho một thương binh đã khó, đây tới 9 thương binh nặng phải phục vụ từ ăn uống, thuốc men, rửa ráy đến tiểu tiện... trong hoàn cảnh đặc biệt này suốt 3 tháng rưỡi, chỉ có tấm lòng đồng đội là sức mạnh giúp đồng chí khắc phục khó khăn, vượt hiểm nguy vươn tới chiến thắng.
Những việc làm mang nhiều ý nghĩa sâu sắc trong đời sống, chiến đấu của chiến sĩ giao thông liên lạc Ðặng Quang Cầm góp phần làm rạng rỡ Ngành giao liên tỉnh Ninh Thuận và là tấm gương sáng chói khí phách anh hùng cách mạng để lớp lớp thế hệ giao liên tiếp sau học tập và noi theo.
    Thành tích của Trung đội trên "Ðường mòn Hồ Chí Minh" được Nhà Nước công nhận: tháng 10-1950 Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa quyết định tặng: "Huân chương Chiến thắng hạng 3". Chính phủ tặng Bằng khen và Lá cờ cho Trung đội vũ trang "Ðường mòn Hồ Chí Minh" với thành tích "Ðoàn kết nhất trí trong nội bộ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Trung đoàn giao. Ðội bảo đảm an toàn cho các đoàn cán bộ Tỉnh, Khu, Trung ương đi qua trong khi làm nhiệm vụ, nhiều lần gặp địch, Ðội anh dũng chiến đấu bảo vệ tài liệu, cán bộ an toàn". Ngày 31-8-1955, đồng chí Ðặng Quang Cầm-Trung đội trưởng – Trung đội vũ trang trên "Ðường mòn Hồ Chí Minh" được Nhà Nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng 3 và tuyên dương danh hiệu "Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân" vì công lao bám trụ, hoàn thành nhiệm vụ được giao trên "Ðường mòn Hồ chí Minh" suốt từ năm 1947 đến năm 1950 trên chiến trường Ninh Thuận.
3. Giao thông liên lạc đường biển :
    Tháng 5-1946, Ty Giao thông Bưu điện tan rã, các đoàn cán bộ trong tỉnh chạy ra vùng tự do khu VI (Phú Yên), hầu hết đến các làng ven biển Sơn Hải, Tân Thành, Hải Chữ, Mỹ Tường, Vĩnh Hy dựa vào chính quyền địa phương huy động thuyền của ngư dân đi ra Phú Yên và ngược lại. Ðịch phát hiện, cho đóng đồn ven biển, tổ chức tề điệp kiểm soát dân đi lại và ráo riết hoạt động phong tỏa việc liên lạc bằng đường biển của ta, nhưng ta kịp thời tổ chức liên lạc bí mật bằng đường biển bất hợp pháp (chỉ hoạt động vào ban đêm).
    Từ đây, năm 1947 tổ chức giao thông đường biển được thành lập, lúc đầu do Phân Ban Vận tải Cực Nam Trung Bộ quản lý các trạm từ Phú Yên vào Bình Thuận. Khánh Hòa có 2 trạm: Bích Ðầm (Nha Trang) và Ðầm Vân (Ninh Hòa), chủ yếu đưa đón cán bộ ra vào các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên, Ðồng Nai Thượng, một số tỉnh Nam Bộ và các đoàn cán bộ cao cấp của Trung ương như: đồng chí Lê Duẩn; Bộ trưởng Bộ giáo dục – Ca Văn Thỉnh; Chủ tịch ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ – Phạm Văn Bạch; các đồng chí Lê Ðức Thọ; Lê Hiến Mai; Phạm Ngọc Thuận vào Nam Bộ để kịp tăng cường sự chỉ đạo của Ðảng đối với cuộc kháng chiến ở Nam Bộ. Dần dần tổ chức ổn định, giao thông đường biển gánh vác nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, quân trang, thuốc men, lương thực... Các trạm đều mang mật danh: TO5 đóng ở Phú Yên; TO6 - Trạm Bình Thiện – Bình Thuận, do đồng chí Trần Quang Diệu – ủy viên Phân Ban Vận tải Cực Nam Trung Bộ kiêm trưởng trạm phụ trách chung; TO7 ở Ninh Thuâùn do đồng chí Lưu Ðức – Chính trị viên – Bí thư chi bộ cơ quan cung cấp phụ trách, đóng ở Hồ Ba Bể (tháng 7-1954, đồng chí Nguyễn Minh Phục về thay). Tổ chức này sau giao cho Ty Kinh tế tỉnh quản lý. Năm 1950, Ty Kinh tế giải thể, thành lập Ban Cung cấp, bộ phận vận tải bằng thuyền thì lập Ðội Thủy Vận do đồng chí Ðặng Chí Thanh – chi ủy viên chi bộ – đội trưởng; hai đội phó là đồng chí Nguyễn Kịt và Võ Xê. Ðội có khoảng 50 thủy thủ, đa số là nữ để chuyển hàng vào chôn dấu và cấp phát cho các cơ quan, đơn vị, có 9 chiếc thuyền trọng tải từ 1,5-2 tấn, khi cần thiết huy động thuyền của nhân dân ven biển.
    Ðội có ba trạm: phía Bắc tỉnh có Trạm Chi Lăng do Lê Phong Phú phụ trách, đóng tại Hòn Tai – Vĩnh Hy, quân số khoảng 30 người và 6 thuyền nan làm nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa và đưa đón cán bộ. Ðây còn là nơi tạm nghỉ của các đoàn thuyền chuyển hàng từ khu V (TO5) vào Ninh Thuận, Bình Thuận và khu VII và cũng là nơi cung cấp hàng hóa cho các cơ quan, lực lượng vũ trang đóng phía Bắc tỉnh. Phía Nam tỉnh có Trạm Ninh Bình, đóng ở Hồ Ba Bể (Sơn Hải), do Ðặng Chí Thanh kiêm trạm trưởng, khoảng hơn 10 cán bộ chiến sĩ, làm nhiệm vụ nhận chuyển hàng hóa từ TO5 (khu V) vào các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và khu VII, liên lạc vào Bình Thuận, đồng thời là nơi cung cấp hàng hóa cho các cơ quan và lực lượng vũ trang đóng phía Nam tỉnh.
    Ngoài ra, Ðội Thủy Vận còn bố trí bộ phận đóng ở Trũng Lòng Mang – khu Lê Hồng Phong – Bình Thuận, đây là bến tạm nghỉ của các thuyền từ TO7 vào, trong đó, bố trí một số cán bộ làm nhiệm vụ thu mua lương thực, thực phẩm như: đậu, đường, mì, gạo... cung cấp cho tỉnh Ninh Thuận, do các thuyền T07 vòng ra chuyển về. Các trạm được trang bị vũ khí, tổ chức canh gác ngày, đêm theo dõi mọi hoạt động của địch; giữa thuyền ngoài biển và bờ đặt ám tín hiệu bắt liên lạc, kể cả các chuyến vào theo định kỳ hoặc bất thường. Mỗi thuyền có sức chở từ 1,5-2 tấn, bố trí một thuyền trưởng, một thuyền phó (gọi là tiểu đội trưởng, tiểu đội phó), từ 4 -5 thủy thủ. Thuyền được căng buồm lợi dụng sức gió, nếu phát hiện tàu địch thì hạ buồm và thủy thủ dùng dầm gỗ chèo tay. Ðể địch ít chú ý, mỗi chuyến đi thủy thủ phải canh vào lúc tối trời và có sóng, gió, tối chèo thuyền theo ven bờ,ứ khoảng 3-4 giờ sáng đưa thuyền vào bờ cất dấu, cứ thế đêm đi, ngày tìm nơi ẩn nấp. Tuyến giao thông này tuy khó khăn, nguy hiểm, thường phải chống chọi với sóng to, bão táp, nhiều khi máy bay, tàu chiến địch tuần tiểu, nhưng dể tránh né, đường đi nhanh, chuyển được nhiều vũ khí, đạn dược, lương thực và cán bộ qua lại an toàn hơn...
4. Thông tin liên lạc vô tuyến điện :
    Tháng 8-1945, sau khi cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thành công, việc móc nối liên lạc phục vụ sự lãnh đạo và chỉ đạo của Trung ương với phong trào cách mạng trong tỉnh là mạng lưới giao thông liên lạc đường bộ và thông tin vô tuyến điện đặt ở hai Nhà Dây thép thị xã Phan Rang và Tháp Chàm do Pháp để lại. Nhưng khi Pháp tái chiếm các tỉnh Cực Nam Trung Bộ, việc liên lạc giữa Tỉnh với Khu chủ yếu bằng đường bộ, đường biển. Ðến tháng 7-1946, đoàn cán bộ từ Quân khu vào, Quân khu cấp cho Trung đoàn 81 một máy vô tuyến điện, loại 15W, hiệu MK2 và một máy nổ xạc bình chạy bằng hơi nước. Ðài này do đồng chí Cử điện báo phụ trách và Bùi Viết Súy (Năm Thành) làm mật mã ở chung trong bộ phận điện đài. Ðây là phương tiện duy nhất được sử dụng phục vụ Tỉnh ủy và Ban Chỉ huy Trung đoàn 81 để liên lạc với khu VI, với Ðài Bình Thuận và Ðài của Xứ ủy Nam Bộ.
    Thời gian này, việc liên lạc bằng đường bộ, đường biển rất khó khăn, ta không chuẩn bị trước, lực lượng mỏng, đường đi trong dân thường bị địch phục kích đánh úp. Do vậy, việc liên lạc giữa Tỉnh với Khu chủ yếu sử dụng bộ máy MK2, đóng gần cơ quan Tỉnh ủy (CK7). Phục vụ chưa được bao lâu, cuối năm 1948 Ðài bị hỏng, việc liên lạc với trên bị gián đoạn. Tuy nhiên, ý thức được tầm quan trọng của huyết mạch thông tin liên lạc, dù không phải thợ cơ công, nhưng đồng chí Bùi Viết Súy thể hiện cao trách nhiệm, kiên trì mày mò, sau thời gian ngắn sửa chữa thành công và nối thông liên lạc với cấp trên. Ngoài ra, Ðài còn đảm trách thêm nhiệm vụ nhận tin tức của Ðài Tiếng nói Việt Nam và phát tin rõ cho Ðài khu VI. Lúc này Ðài có 10 đồng chí, thành lập một chi bộ gồm 3 đảng viên, do đồng chí Bùi Viết Súy làm bí thư, được giao đảm trách các công việc như: cơ yếu, điện đài, cơ công và bảo vệ...
    Cùng giao thông đường bộ, đường biển, thông tin liên lạc vô tuyến điện chịu đựng nhiều khó khăn gian khổ: bị địch càn quét đánh phá, phải bám theo cơ quan chỉ đạo di dời chổ ở liên tục, máy móc thường xuyên hư hỏng, không có phụ tùng thay thế. Nhưng anh em nổ lực khắc phục, giữ vững cánh sóng không bị ách tắc. Ngày nay, điểm lại quân số chiến sĩ vô tuyến điện Ninh Thuận những năm đầu kháng chiến và trụ lại với chiến trường Cực Nam Trung Bộ đầy hy sinh, gian khổ suốt cả hai thời kỳ, phải kể đến Bùi Viết Súy, sau này đổi tên là Năm Thành. Anh tham gia cách mạng lúc tuổi đời còn rất trẻ sớm bộc lộ tinh thần yêu nước, yêu dân được Ðảng tin yêu đào tạo thành chiến sĩ điện báo. Mặc dù quê hương ở Trung Bộ, nhưng với tinh thần và ý chí chiến đấu không sợ hy sinh, không ngại khó khăn gian khổ, đồng chí tình nguyện hiến dâng cuộc đời tuổi trẻ phục vụ chiến trường Cực Nam Trung Bộ. Ngay những năm đầu Cách mạng tháng 8-1945, đồng chí là điện báo viên đầu tiên trên đất Ninh Thuận kiêm cơ công tự học sửa chữa máy vô tuyến điện, Sau này, học lớp vô tuyến điện ở Nam Bộ về, tay nghề được nâng cao, đồng chí trở thành cán bộ đầu đàn trong Ngành thông tin liên lạc Ninh Thuận và cả vùng Cực Nam Trung Bộ, dìu dắt lớp đàn em nối tiếp. Thể hiện tinh thần yêu nước, yêu Ngành bằng lòng nhiệt tình hăng say công tác, gặp tình huống nguy ngập luôn thể hiện tính sáng tạo, kiên trì, chính đồng chí nhanh chóng cải tiến máy chạy pin qua chạy bằng hơi nước, góp phần tiết kiệm tiền của nhân dân. Trong kháng chiến chống Mỹ, Anh được Ðảng tin cậy bổ nhiệm làm trưởng Ban Thông tin khu VI đầu tiên ở Cực Nam Trung Bộ.
    Ðối với địa bàn xa Trung ương, núi non hiểm trở, đi lại khó khăn, phương tiện phục vụ chỉ đạo chỉ huy chiến đấu thiếu thốn, nhất là phương tiên thông tin liên lạc vô tuyến điện, bởi lẽ, người sử dụng phải qua đào tạo kỹ thuật sửa chữa máy vô tuyến điện và nghiệp vụ điện báo. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh chiến tranh với loại máy MK2 rất cũ kỷ, lạc hậu, dễ hư hỏng, mặt khác chuyên môn được đào tạo tại chỗ (vừa học, vừa làm); vậy mà thông tin liên lạc vẫn luôn được đảm bảo, đó là do sự chịu đựng hy sinh, khắc phục khó khăn, vượt thử thách của anh em điện báo. Cuối năm 1948, máy chạy hơi nước được thay bằng máy chạy xăng hiệu FVAGAVD lấy từ Sở muối Cà Ná về.
    Những năm đầu kháng chiến chống Pháp (1946-1948), trên chiến trường Ninh Thuận, vai trò quan trọng của lực lượng giao thông liên lạc đường bộ, đường biển và thông tin vô tuyến điện, vượt qua muôn vàn thử thách, gánh vác nhiệm vụ hết sức nặng nề, luôn bám đường, bám biển, bám máy phục vụ kịp thời sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ðảng đối với phong trào cách mạng ở Ðịa phương. Ðôi chân thấm đẩm máu và mồ hôi của anh chị em in khắp mọi ngã đường công tác khi chuyển nhận công văn, tài liệu từ cơ quan lãnh đạo tỉnh đến huyện, thị xã, đội công tác, các lực lượng vũ trang, vào sâu trong vùng địch kiểm soát, móc ráp với cơ sở cốt cán, góp phần đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh, đồng thời phối hợp với Bình Thuận, Lâm Ðồng, Khánh Hòa mở đường thư đưa đón cán bộ, đặc biệt là khai thông "Ðường mòn Hồ Chí Minh" nối liên lạc từ Trung ương vào Nam Bộ: đưa đón hàng trăm lượt đoàn cán bộ từ Trung ương vào các tỉnh Cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ ra, trong đó nhiều đoàn học sinh ra Bắc học.
    Biết bao tấm gương sáng chói khí phách anh hùng và lòng trung thành với Ðảng với nhân dân mãi mãi lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác, là những hình ảnh mẫu mực trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giao thông – thông tin liên lạc tỉnh Ninh Thuận. Ðó là những cán bộ chiến sĩ tận tụy hết mình vì nhiệm vụ, không quản ngày đêm, không chùn bước trước những trận giông to, bão lớn, không run sợ những trận càn quét, phục kích, gài mìn của địch, luôn luôn nêu cao tinh thần bảo mật con đường, bảo vệ cán bộ và tài liệu an toàn. Những năm tháng gian khổ, ác liệt đã tôi luyện người chiến sĩ liên lạc mưu trí, anh dũng, xử lý nhiều tình huống nguy hiểm. Giữa năm 1948, trong chuyến thư trực đi trên "Ðường mòn Hồ Chí Minh", bị bọn "Gum-nhê"õ phục kích, giao liên Ðá đi đầu, dù biết mình phải hy sinh, nhưng vẫn anh dũng vừa đánh trả, vừa lừa địch theo hướng khác để giao liên đi cùng nhanh chóng đưa đoàn cán bộ vượt qua an toàn...ở đồng bằng, chị Lược – một giao liên vô cùng anh dũng, là tổ trưởng Tổ giao liên xã Ðại Chúng, trong chuyến thư liên lạc với vùng 4, khi về giữa đường gặp địch tuần tiểu và bị phát hiện. Biết mình không thoát được, nhanh như cắt chị thủ tiêu tài liệu bằng cách vò nhỏ bỏ vào miệng nuốt chửng trước khi bị địch bắt. Ðịch dùng những cực hình tra tấn dã man, nhưng với ý chí kiên cường, bất khuất, Chị không hé môi nửa lời và chấp nhận sự hy sinh anh dũng khi tuổi vừa tròn đôi mươi dưới làn đạn đê hèn của kẻ thù.
    Ngành giao liên cũng có các cậu tuổi đời còn niên thiếu, nhưng trí nhanh nhạy và lòng gan dạ làm được chuyện tưởng chừng như "chuyện lạ có thật". Cậu bé Tràng (Tranh) 16 tuổi, nhận nhiệm vụ đưa đồng chí Hoàng Giáo (Trần Ðệ) từ ấp Mahê lên Ðá Trắng dự họp. Tính chất cuộc họp rất quan trọng và khẩn cấp, đòi hỏi thời gian tính sát sao, trên đường đi thiên tai ập đến, cơn mưa rất lớn, giông tố dữ dội. Muốn đến được Ðá Trắng, phải qua con sông lớn, mưa nguồn nước xuống hỗn, rất nguy hiểm. Ðể khuất phục dòng nước nguy hiểm này, em lội qua tìm dây rừng nối hai bờ sông lại, rồi trở qua dìu cán bộ. Không may, hai người chưa đến bờ, dây bị đứt, trươc tình huống nguy ngập, cái chết trôi như cận kề, nhưng em bình tĩnh chống chọi với dòng nước cuốn theo gốc rễ, tàn cây phủ đầy và phải hơn 10 phút mới đưa được cán bộ vào bờ an toàn.
    Trên đường hành lang, đường bộ, đường biển, đường trời, còn biết bao tấm gương anh dũng hy sinh, góp phần phục vụ đắc lực công cuộc xây dựng, bảo vệ Chính quyền cách mạng đang còn trứng nước và phong trào du kích chiến tranh nhân dân trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận những năm 1945-1950.
II - PHỤC VỤ ĐẢNG LÃNH ĐẠO THẮNG LỢI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1950-1954 )
    Cuối năm 1949 – đầu năm 1950, Tỉnh ủy chủ trương: đẩy mạnh công tác xây dựng dân cư miền núi thành khu căn cứ cách mạng, phát triển lực lượng du kích, bảo vệ buôn làng, bảo vệ sản xuất... Ðồng bào dân tộc thiểu số tuy giác ngộ cách mạng, nhưng vẫn còn số ít làm tay sai cho giặc, chỉ điểm căn cứ đóng quân của ta, gài mìn phục kích các tuyến hành lang. Lực lượng giao liên tuy có tăng cường, trang bị vũ khí nhưng chưa đủ mạnh, vừa làm nhiệm vụ đường thư trực, vừa lo tự túc lương thực, tự bảo vệ mình dựa vào nhân dân các buôn làng cảm tình cách mạng, vận động đồng bào giác ngộ cách mạng và nắm bắt tình hình địch...ở đồng bằng, địch tăng cường kiểm soát, dùng mật thám, chỉ điểm trộn lẫn trong xóm làng theo dõi, dụ dỗ, mua chuộc những gia đình cảm tình với cách mạng, nhất là gia đình có con em thoát ly tham gia kháng chiến, chúng giám sát gắt gao mọi hoạt động, làm ăn sinh sống của họ, xuyên tạc nói xấu đối tượng này, hòng gây nghi ngờ, hiểu lầm trong mối quan hệ với người thân. Bên ngoài, địch lập đồn bót, rào làng, cấy tề vệ dày đặc nhằm kìm kẹp, lung lạc tinh thần yêu nước của đồng bào. Mặt khác, địch bắt những người chúng tình nghi là "Cộng sản" hoặc "có cảm tình với cộng sản" với phương châm "Bắt lầm còn hơn bỏ sót", dùng những thủ đoạn dã man tra tấn công khai trước công chúng, đánh vào tâm lý hoang mang lo sợ của nhân dân. Trong tình hình này, một số cơ sở, cốt cán vì sợ hải, sợ liên lụy đến gia đình, bà con nên nằm im không dám hoạt động, có số chuyển nơi ở khác. Việc liên lạc ngoài vào hoặc trong ra gặp rất nhiều khó khăn.
    Phong trào cách mạng trong tỉnh gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi sự lãnh đạo của Tỉnh Ðảng bộ đối với các ngành, các cấp, nhất là lực lượng vũ trang, dân quân du kích và lực lượng giao liên nhanh chóng ổn định tổ chức, chuyển mạnh sang hướng phục vụ việc khôi phục và xây dựng các tổ chức cách mạng ở đồng bằng, tổ chức các khu du kích chiến tranh ở miền núi. Ðối với giao liên thì phối hợp các ngành, nhất là các địa phương huyện, thị xã, xã, thôn củng cố và xây dựng các đầu mối cốt cán liên lạc từ bên trong ra. Thông qua mạng lưới liên lạc phục vụ sự chỉ đạo của Ðảng từ bên ngoài vào để phát triển cơ sở, xây dựng các tổ chức cách mạng phục vụ chiến dịch Ðông Xuân (1950-1951).
    Về phía địch, thời kỳ này chúng tăng cường quân số, vũ khí càn quét ác liệt, đánh cắt đường liên lạc từ Ninh Thuận vào Bình Thuận, vùng giáp ranh Ninh Thuận – Lâm Ðồng nhằm ngăn chặn các đội vũ trang tuyên truyền đang làm nhiệm vụ "Tây Tiến" (Tiến lên miền Tây). ở đồng bằng chúng thực hiện chính sách chia để trị, chia rẽ đồng bào dân tộc Kinh, Chăm, Thượng, chia rẽ lực lượng kháng chiến giữa các dân tộc, thực hiện âm mưu "Tát nước bắt cá" dồn dân lập ấp, nhiều nơi bắt nam giới từ 15-40 tuổi phải vào đồn ngủ từ 18 giờ đến 5 giờ sáng mới thả, thành lập tổ chức "ủy ban chiêu an" nhằm dụ dỗ, chiêu hồi và đón tiếp những gia đình, những cán bộ kháng chiến đào ngũ về với chúng. Kết quả bước đầu của chiến dịch Ðông – Xuân số cán bộ chiến sĩ, cơ sở lạc quan về thắng lợi của ta, nhưng sau chiến dịch, phong trào trụt xuống, một số cán bộ, nhân dân bi quan, dao động. Vì vậy, Tỉnh ủy chủ trương khắc phục sai sót để khôi phục lại phong trào, đồng thời khẩn trương xây dựng căn cứ vùng đồng bào miền núi, nhất là các buôn làng huyện Bác ái phát triển vũ khí thô sơ, bố phòng chống địch càn quét.
    Ngành Giao thông Liên lạc trong tình hình chung của tỉnh, tuy gặp nhiều khó khăn, nhưng phong trào cách mạng ngày càng phát triển, công việc nặng nề, gian khổ hơn, nhiều khi rất ác liệt. Tỉnh ủy chủ trương tăng cường giáo dục chính trị, nâng cao ý chí chiến đấu, chịu đựng gian khổ, hi sinh, bổ sung quân số cho lực lượng giao thông liên lạc để tăng chuyến trực, mở nhiều tuyến thư, nhận chuyển công văn, tài liệu nhanh chóng, kịp thời, đưa đón cán bộ an toàn, thông suốt.
    Trước đây (năm 1946-1948), ta đi lại trong vùng địch kiểm soát tuy khó khăn nhưng được nhân dân đùm bọc, bảo vệ và nuôi nấng. Từ khi ra ngoài chiến khu, trên các trục đường giao liên địch tăng cường lùng sục, phục kích, gài mìn, không có nhân dân nên giao liên phải tự quan sát, nghe ngóng để bảo vệ mình, khi địch càn phải cắt rừng, trèo đèo, băng suối đi vòng tránh địch, khó khăn nhất là việc đưa đón các đoàn cán bộ, bằng mọi cách phải bảo vệ tuyệt đối an toàn.
    Trên đường giao liên, ngoài việc đối phó địch, anh em còn vạch kế hoạch đối phó với thú dữ, nhất là lúc chập tối hoặc đêm khuya. Mỗi lần đến chỗ tạm nghỉ, sau khi sắp xếp chỗ cho "khách" tựa lưng vào nhau nghỉ giải lao, giao liên còn có nhiệm vụ canh gác thú dữ. Có khi vì kẹt đường, đứt liên lạc, đoàn cán bộ nghỉ lại đêm, để đề phòng thú dữ, giao liên tìm tảng đá cao cho đoàn nghỉ, hai giao liên nằm hai bên ngoài bìa canh gác, bảo vệ cán bộ. Trường hợp này, có những tấm gương anh dũng hy sinh như năm 1952, đồng chí Ngọc - giao liên Trạm 20 (CK19) hy sinh vì cọp vồ tha mất xác.
    Chống với cái đói cũng khó khăn, gian khổ không kém, nguồn lương thực nhân dân cung cấp bị đứt, sản xuất tự túc chưa đủ đắp đổi. Do vậy, cán bộ chiến sĩ phải dựa vào nguồn tiếp tế lương thực bằng đường biển, thuyền TO7 vào Bình Thuận và các tỉnh Nam Bộ mua mì khô, đậu trắng, đậu đen, có khi đuợc ít gạo. ở đường bộ, ngoài việc bảo đảm chuyến trực, giao liên còn đưa đoàn vận tải xuống Hồ Ba Bể, có lúc huy động lực lượng các cơ quan, bộ đội đi theo đường từ Tỉnh vào dốc 80, đến La Gàn-Tuy Phong hoặc qua khu Lê Hồng Phong (Bình Thuận) vận tải lương thực. Tuy phải trãi qua chặng đường ác liệt, nguy hiểm và chịu đựng nhiều khó khăn, gian khổ, nhưng chiến sĩ giao liên vẫn một lòng quyết tâm giữ vững con đường huyết mạch phục vụ kháng chiến thông suốt bất cứ hoàn cảnh nào.
    Từ khi tỉnh phát động phong trào tăng gia sản xuất tự túc (1951), giao liên mỗi người phải làm việc bằng hai: người ở nhà lo sản xuất, người kia tăng chuyến thư, có lúc chuyến thư vừa về lại đi tiếp, người ở nhà lao động dưới trăng đêm cho kịp mùa rẫy...
    Theo sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, con đường hành lang chiến lược ở núi rừng được tập trung xây dựng thành mạng lưới vững chắc, không những chỉ bảo đảm liên lạc giữa các cơ quan, các huyện, xã trong tỉnh, mà nó còn mang ý nghĩa cực kỳ quan trọng: nối liên lạc giữa Trung ương ở Việt Bắc với Nam Trung Bộ vào Nam Bộ, và ngược lại. Ðến năm 1950, ở chiến trường Ninh Thuận cũng trên con đường ấy, tổ chức trạm và tuyến thư trực lớn hơn, qui cũ hơn, đáp ứng nhu cầu phát triển của phong trào cách mạng trong tỉnh.
1. Giao thông liên lạc đường rừng núi và đồng bằng:
    Tháng 4-1950, nhằm đáp ứng tình hình mới, ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh quyết định sát nhập lực lượng Quân bưu và Giao thông Liên lạc thành tổ chức mới gọi là Ty Bưu vận, Tỉnh ủy cử đồng chí Nguyễn Nhất Tâm (Nguyễn Hữu Ðức) làm trưởng Ty. Căn cứ tình hình nhiệm vụ mới, bộ máy và cán bộ của Ty được sắp xếp như sau: đồng chí Ðặng Chính Ðường – phó Ty phụ trách bưu vận; Ðào Tấn Ðạt – ủy viên phụ trách Ðảng vụ và các phòng, ban: Văn phòng Ty do Lê Phong Phú – thư ký; Ban Bưu vu ù– Hùynh Công Lập và Nguyễn Phuông phụ trách, Trạm Tổng phát hành – Nguyễn Tống (Cữu) – trạm trưởng. Quân số toàn Ty bao gồm các trạm hơn 70 đồng chí, phần lớn là anh chị em người dân tộc thiểu số (chưa kể các trạm đường mòn Hồ Chí Minh). Thành lập một chi bộ 38 đảng viên, lúc đầu chỉ định Chi ủy chi bộ là các đồng chí: Nguyễn Nhất Tâm, Ðào Tấn Ðạt, Huỳnh Công Lập, Nguyễn Tống. Sau đó, Ðại hội chi bộ Ty Bưu vận lần đầu tiên bầu Chi ủy gồm các đồng chí: Ðào Tấn Ðạt – Bí thư; Huỳnh Công Lập – phó Bí thư; Nguyễn Tống, Nguyễn Phuông và Bùi Trung Chánh – Chi ủy viên.
    Mỗi trạm thành lập một Tổ Ðảng, tổ trưởng Tổ Ðảng phụ trách trạm trưởng, riêng các trạm đóng gần cơ quan Huyện, Vùng ủy, đảng viên sinh hoạt chung chi bộ của Huyện ủy, Vùng ủy. Tổ chức Công đoàn cũng được thành lập bao gồm hơn 70 đoàn viên Công đoàn hoạt động đều khắp các trạm. Ty Bưu vận đóng ở CK7, trong đó Trạm Tổng Phát hành mang mật danh là Trạm 12 (trước là Trạm Tokyô, Trạm 100) do Huỳnh Công Lập và Lê Văn Thống thay nhau làm trạm trưởng. Trạm đóng ở nơi núi cao, rừng sâu ít khi bị địch tập kích, đánh phá. Theo chủ trương của tỉnh, Văn phòng Ty cùng với Trạm tổ chức làm rẫy tăng gia sản xuất tự túc lương thực, có 12-15 cán bộ chiến sĩ. "khách" của Trạm 12 phần lớn là cán bộ các cơ quan tỉnh và lực lượng vũ trang của Trung ương, khu V chi viện cho các tỉnh phía Nam, thỉnh thoảng một hoặc hai đoàn "khách" ốm đau mới lưu trú lại một vài hôm, khi "khách" thiếu lương thực, Trạm phải cung cấp. Nơi ở của Trạm là láng trại (nhà không vách) bằng tre, lá, nilon, lương thực chủ yếu là mì, bắp sản xuất tự túc, có khi được ít gạo do nhân dân cung cấp, thực phẩm chủ lực là muối, lá bép, măng tre, có lúc săn bắn được ít thịt rừng. Tuy ít bị địch đánh phá, nhưng trên đường thư trực, nhiều giao liên Trạm Tổng Phát hành bị địch phục kích hy sinh anh dũng...
    đầu mối liên lạc của Tỉnh ủy, ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh, Trạm 12 ngoài việc liên lạc với các trạm trên đường hành lang, còn phải bảo đảm thường xuyên liên lạc các cơ quan, ban ngành tỉnh, lực lượng vũ trang đóng trên địa bàn, Ban Cán sự huyện An Phước, Ðội công tác Lâm Viên đóng ở Anh Dũng 1, Ban Cán sự khu dân sinh 2 và các xã Thuận Dân, Lưu Phú...Trên đường hành lang vào phía Nam tỉnh, Trạm 12 tổ chức đường thư trực với Trạm 22(1) đóng ở giếng Cây Cau, do Trần Thế Lai, Nguyễn Phuông và đồng chí Phạm Ngọc Thanh (Như) thay nhau làm trạm trưởng. Từ đây, mở đường thư trực với Trạm giao liên Vùng ủy, ủy ban Kháng chiến Hành chánh vùng 2 (Thuận Nam), Ty kinh tế, Ban Cán sự khu dân sinh 3 và các xã Thuận Diêm, Thuận Phong... Trạm 22 còn mở đường thư với Trạm Ninh Bình (Hồ Ba Bể), đây là Trạm đường thủy kiêm đường bộ.
    Từ Trạm 22 muốn giao trực với Trạm Tổng Phát hành (Trạm 12), trước hết phải vượt qua vùng rừng thưa thớt, địch dễ phát hiện, rồi đến vùng núi Một, nơi mà địch thường xuyên phục kích (cũng nơi này bọn địch thường đưa tù chính trị ra thủ tiêu), đến đêm vượt Quốc lộ 1 và đường tàu lửa. Dọc hai bên đường, địch phát quang đường tàu lửa.
Dọc hai bên đường, địch phát quang trống một khoảng rộng để dễ quan sát, phát hiện các đoàn cán bộ qua lại và đề phòng ta cài mìn đánh tàu quân sự. Khi vượt đường, thường ta bố trí người trinh sát trước, nếu không có địch, 2 giao liên đứng cảnh giới hướng Nam, Bắc hai bên đường, trên mặt đường trải nilon đi qua tránh để lại dấu vết địch phát hiện theo dõi.
    Trạm 12 liên lạc vào Trạm 80 đóng ở dốc 80, do đồng chí Nguyễn Côn - trạm trưởng. Từ đây, tổ chức đường thư trực với Trạm Vĩnh Hảo (trạm đầu Bắc Bình Thuâùn). Trạm 80 đến năm 1951 giải thể và thành lập Trạm 52 đóng ở dốc 50, do đồng chí Nguyễn Phuông điều từ Trạm 22 vào làm trạm trưởng. Trạm 52 ra Trạm Tổng Phát hành phải vượt qua dốc 80 chỉ độc nhất một đường lên núi rất nguy hiểm, địch thường phục kích đánh phá ác liệt đoạn hành lang này, gây cho nhiều chiến sĩ giao liên hy sinh, thương vong như: đầu năm 1952 địch tổ chức phục kích trên sườn núi và bắn chết 2 giao liên, chúng phục xác đến 3 ngày thịt rữa ra, lực lượng ta tổ chức lấy xác chỉ còn lấp đất chôn tại chỗ, chứ không đem xuống huyệt được. Ðến gần cuối năm 1952, Trạm 52 giải thể, nhiệm vụ được giao lại Trạm 12 và tổ chức mở đường mới liên lạc với Bình Thuận, theo hướng từ Trạm 12 đi Giếng Trắc qua Châu Ré-Là A đến Tân Le qua sông La-Bá, vào Trạm Bá-Ghe (Bắc Bình Thuận). Ðường này ít nguy hiểm, nhiều ngỏ tránh né, nhưng phải đi mất hai ngày đường.
    Ðường thư trực từ Trạm 12 (Tổng phát hành) ra phía Bắc tỉnh theo các tuyến: Trạm 12 liên lạc với Trạm 105, đóng ở Giếng Bẹng (trước là Trạm 25) do Nguyễn Việt – trạm trưởng, có nhiệm vụ nối liên lạc ra phía Bắc đến Tổ giao liên phụ trách đò ngang qua sông Tân Mỹ, Tổ này do Thái Bá Chát phụ trách đóng ở Hòn Bò – Tân Mỹ. Năm 1950, Trạm 105 giải thể, Tổ giao liên Ðò Ngang làm nhiệm vụ trung chuyển giữa hai trạm: Trạm 12 và Trạm 10. Quân số Trạm Ðò Ngang được phân bổ 4-5 đồng chí, làm nhiệm vụ giao trực với các trạm, đồng thời đưa cán bộ qua lại sông bằng đò; liên lạc với đội vũ trang tuyên truyền và xã Thuận Thủy(1), theo dõi nắm tình hình địch hoạt động hai bên bờ sông, đoạn ta qua lại. Trạm đóng địa điểm cách xã Phước Sơn không xa; vùng Rừng Lai - Phước Thiện nổi tiếng địch tập trung đánh phá, nên rất nguy hiểm. Hàng ngày địch thường lên phục kích đường hành lang và tập kích đốt phá Trạm. Nơi này còn nổi tiếng là vùng rừng nhiều voi, bò rừng, có giao liên hy sinh trong chuyến trực bị voi chà. Khi đưa đoàn cán bộ đến cách sông chừng 10-15 phút, giao liên phải đến bờ sông quan sát trước, thấy yên tĩnh ra ám hiệu để giao liên khác đưa đoàn qua đò, chủ yếu vào mùa mưa.
    Ngoài ra, Trạm Ðò Ngang còn phải liên lạc ra Trạm 10 (trước là Trạm 115), còn được gọi là Trạm Tổng Phát hành miền Bắc ( phía Bắc tỉnh), đóng ở suối Ngang – Hóc Roong, do Lương Thế Vinh làm trạm trưởng. Năm 1952, khi giải thể Trạm 52 điều đồng chí Nguyễn Phuông về làm trạm trưởng, có 10-12 cán bộ, chiến sĩ, được trang bị vũ khí, lương thực chính là bắp, gạo, mì, gần thị xã Phan Rang nên anh em thường phối hợp với các đội, mũi công tác, bộ đội vào ấp mua gạo, nhà cửa cũng chỉ bằng tre, lá. Trạm này có nhiệm vụ tỏa đi 4 tuyến: tuyến thứ nhất vào Trạm Ðò Ngang; tuyến thứ hai giao trực với Trạm Ma Hoa qua trung chuyển Trạm 18. Năm 1950 Trạm 18 giải thể, Trạm 10 đi trực thẳng Trạm Ma Hoa; tuyến thứ ba giao trực với Tổ giao liên ủy ban Kháng chiến Hành chính thị xã Phan Rang ở núi Cà Ðú, Tổ giao liên thị xã có nhiệm vụ liên lạc các xã Thuận Khánh, Thuận An, Thuận Quang...và Ban Cán sự khu dân sinh 4; tuyến thứ bốn giao trực với Trạm 20 còn gọi là Trạm Trần Quãng (trước là Trạm 125).
    Trên tuyến thư trực giữa Trạm 12 và Trạm 10, đường đi hiểm trở gặp nhiều chướng ngại rất nguy hiểm. Từ Trạm 10 vượt qua sông Cái (đoạn từ Sông Pha xuống). Ðặc biệt là vượt đường 11, đường xe lửa Tháp Chàm – Ðà Lạt, mỗi chướng ngại chỉ cách nhau 10 -15m tạo thành một khoảng cách mênh mông, địch phát quang trống rỗng chạy dài từ Ðồng Mé lên Tân Mỹ để chúng dễ quan sát và thường xuyên phục kích đường giao liên ta qua lại...Khoảng cuối năm 1951, Trạm 10 có giao liên Nguyễn Sâm không chịu nổi gian khổ, ác liệt đầu hàng giặc (tên Sâm thông thạo vùng này) dẫn địch lên phục kích cạnh bờ sông Cái bắt sống đồng chí Nguyễn Mua trong chuyến giao trực. Chúng lấy hết thư từ và đánh đập, tra tấn rất dã man, nhưng không khai thác được gì. Trên đoạn đường này, địch còn phục kích đánh chết, bắt sống nhiều cán bộ ta, thường xuyên vào đánh úp, đốt phá Trạm 10. Vì vậy, Ty Bưu vận chỉ đạo Trạm 10 thay đổi phương thức hoạt động. Cán bộ chiến sĩ điều về tăng cường cho các trạm, để lại 2 đồng chí: Nguyễn Phuông và Hiển luôn di động chỗ ở, đồng thời giữ chặt liên lạc với các tuyến thư. Trạm 40 (Trạm Ma Hoa) vẫn giữ nguyên đường thư trực với Khánh Hòa như trước đây. Trạm 20 (Trạm Trần Quãng) đóng ở suối Lồ ồ (CK19) do Trần Quãng trạm trưởng, sau khi đồng chí Trần Quãng hy sinh, Bùi Trung Chánh về thay, cùng 8-9 giao liên được trang bị 2 súng và lựu đạn, chịu trách nhiệm tổ chức đường thư lên Trạm 10, xuống Trạm Chi Lăng và liên lạc với các xã thuộc miền Hạ Thuận Bắc, lương thực chủ yếu là gạo sản xuất tự túc 100%. Tỉnh cấp cho Trạm hai mẫu ruộng và 2 con trâu, anh em vừa đảm bảo đường thư trực, vừa bố phòng chống địch và tổ chức sản xuất lúa, gạo...Ðịa điểm Trạm đóng rất gần đồn địch (đồn Bỉnh Nghĩa), chúng thường xuyên tập kích đốt phá. Mặc dù tổ chức bố phòng chu đáo, nhưng lực lượng và vũ khí ta có hạn, việc chống trả rất hạn chế, nhiều đồng chí anh dũng hy sinh trên đường giao trực hoặc bị đánh úp Trạm. Lợi dụng sơ hở của ta, giữa đêm khuya (lúc này Trạm còn 3 đồng chí, số đồng chí khác đi công tác), địch đưa một trung đội vào tập kích, đồng chí Trần Quãng và đồng chí Bùi Ta hy sinh tại chỗ. Bọn địch rất dã man cột hết tay chân lôi Trần Quãng về quê hương của đồng chí, kéo lê khắp chợ Mỹ Tường hòng lung lạc tinh thần yêu nước của đồng bào ta. Trong trận này, đồng chí Nguyễn Duy Hớn bị thương gẫy chân. Vì địch thường xuyên tập kích đốt phá, nên Trạm thường di dời chỗ ở, lúc ở Lồ ồ, khi ở Xóm Bằng. Ðể tưởng nhớ tấm gương hy sinh anh dũng của đồng đội, các đồng chí đặt lại tên Trạm là: "Trạm Trần Quãng".
    Trạm 18, một trong những trạm thành lập khá sớm do trung đội Ðặng Quang Cầm phụ trách, lúc đầu đặt ở Rã Trên (xã Phước Trung), sau tiến dần ra vùng Ma Nai (xã Phước Thành), có lúc mang mật danh Trạm 30. Trước năm 1950, Trạm 18 là nơi đóng quân của Trung đội mở đường, làm nhiệm vụ trung chuyển giữa Trạm 10 và Trạm Ma Hoa (Trạm 40). Nói chung, 4 trạm đặt trên "Ðường mòn Hồ Chí Minh" vẫn luôn giữ vững đường thư trực từ khi đặt trạm (năm 1948) cho đến tháng 7-1954. Trước năm 1950, các tuyến hành lang liên tỉnh và các Trạm trên đường mòn Hồ Chí Minh do Trung đoàn 81 đảm nhận. Tháng 4-1950, bốn Trạm nói trên giao lại cho Ty Bưu vận quản lý, phần lớn giao liên là cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang chuyển qua. Trên đường này, giao liên đưa đón an toàn nhiều đoàn cán bộ cao cấp của Trung ương qua lại(1).
    Chỗ ở các trạm được giữ bí mật, đóng cách xa láng trại cho "khách" nghỉ từ 10-20 phút đường bộ, thường xuyên thay đổi chỗ, bố phòng chống địch phát hiện và phục kích bất ngờ, bố trí canh gác cẩn thận, nhất là những lúc đoàn cán bộ đi qua. Cơ sở sản xuất cách xa trạm từ 1-2 tiếng đồng hồ đi bộ, cũng có nơi phải đi mất buổi đường. Ðiểm giao trực cũng thường xuyên thay đổi được giao ước trong phiên trực trước tránh địch phát hiện phục kích. Khoảng cách từ trạm này đến trạm kia một ngày đường, mỗi trạm một buổi đường đến điểm trực, bắt liên lạc với nhau bằng ám, tín hiệu đã qui ước trong phiên trực kế trước. Ban ngày, giao liên thường sử dụng tiếng kêu các động vật đi tìm mồi như tiếng chim kêu, vượn hú... nếu giao trực về đêm, sử dụng tiếng của động vật ăn đêm như chim cú, tiếng bép của nai, tiếng kêu của đỏ... Sau khi nhận đúng tín hiệu, giao liên hai trạm bàn giao công văn, tài liệu và cả cán bộ. Cũng có một, hai nơi do đặc điểm núi rừng nên đường thư trực dài hơn. Thư hỏa tốc hoặc đi công tác khẩn không đợi đến chuyến trực mà giao liên phải đi ngay dù đêm hoặc ngày, (trường hợp này không lưu giữ lại trạm quá 12 tiếng đồng hồ theo qui định). Những trạm nằm trên vùng rừng núi chủ yếu giao liên đi ngày, nhưng khi qua sông Tân Mỹ, đường 11, đường xe lửa, Quốc lộ 1 thì đi đêm...
    Ðối với các huyện, thị xã (có lúc đổi thành khu, vùng) đều tổ chức trạm, tổ giao liên để liên lạc giữa các huyện và lực lượng vũ trang, đồng thời đến giao nhận công văn, thư từ, cán bộ với trạm đóng ở địa bàn. Các xã, thôn tổ chức giao liên (từ 2-3 đồng chí) để liên lạc với huyện và cứ 3-5 ngày có chuyến thư.
    Bình thường liên lạc từ tỉnh xuống huyện và các xã xa, nhanh lắm giao liên phải đi hơn tuần lễ; nhưng sau khi Hiệp định Giơnevơ có hiệu lực, lệnh ngừng bắn cấp tốc được ban hành, với đôi chân thần tốc không kể ngày đêm, lệnh được chiến sĩ giao liên đưa đến nơi nhanh chóng, kịp thời kể cả các đơn vị đang ở miền núi xa xôi hiểm trở, đảm bảo tất cả mọi đơn vị, địa phương trong tỉnh đồng loạt thực hiện lệnh ngừng bắn, không để xảy ra một sai sót nào. Ðây cũng là một kỳ công mà giao liên và thông tin vượt khó khăn, hiểm trở trong thời điểm lịch sử này. Phát huy khí thế chiến thắng, chiến sĩ giao liên tiếp tục vượt bao gian nan, vất vả để chuyển lệnh thu gom quân và đưa quân về điểm tập kết đúng qui định .
    Phối hợp với chiến trường cả nước và Liên khu V, từ tháng 4 đến tháng 6-1954, quân và dân Ninh Thuận liên tục tấn công địch giành thắng lợi lớn, giải phóng hầu hết nông thôn, đồng bằng. Ðịch chỉ còn lại đồn Hòa Trinh và một số đồn bót ở thị xã đang trong thế cô lập bị ta bao vây.Ta ở thế tiến công như vũ bão, Ðội công tác miền Tây Bác ái tranh thủ thời cơ, phát triển mở rộng phong trào về hướng Lâm Viên. Tất cả các lực lượng giao liên và thông tin vô tuyến điện đều tập trung dồn sức phục vụ cuộc tiến công thắng lợi.
    Theo qui định của ủy ban Liên hợp đình chiến, Ninh Thuận có 15 ngày (từ 1 đến 15-8-1954) gom và đưa quân trong tỉnh đến điểm tập kết Hàm Tân – Bình Thuận. Cũng như lần trước là chuyển lệnh, nhưng lần này nặng nề hơn, phải đưa quân của các đơn vị, địa phương kể cả các đội vũ trang đang công tác phát triển vềõ hướng Lâm Viên. Nhờ có đôi chân vạn dặm, chiến sĩ giao liên chuyển lệnh và đưa kịp thời các lực lượng tập hợp về khu dân sinh 2 đúng thời hạn, cùng đông đảo đồng bào các nơi trong tỉnh tập trung về tổ chức mitting mừng thắng lợi, mừng hòa bình. Ðúng sáng 15-8-1954 lực lượng tập kết có mặt đông đủ tại ga Hòa Trinh và bằng xe lửa vào Hàm Tân – Bình Thuận. Hơn một tiểu đội của 2 trạm trên "Ðường mòn Hồ Chí Minh" giáp với Khánh Hòa chưa nhận được lệnh gom quân nên ở lại và bố trí một số công tác vận động quần chúng, một số tiếp tục phục vụ công tác giao liên trong tình hình mới. Ðối với đội vận tải đường biển, mấy ngày đầu tháng 8-1954 được giao nhiệm vụ đưa tất cả các đồng chí thương bệnh binh vào khu tập kết, tiếp đó chở vũ khí đạn dược đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời đến nơi qui định.
    Quyết định của Trung ương, đối tượng tập kết là lực lượng vũ trang, cán bộ từ tỉnh trở lên chỉ đưa đi tập kết những đồng chí lớn tuổi, sức khỏe yếu, số có yêu cầu đào tạo sau này. Số còn lại, bố trí vào hoạt động bí mật, bất hợp pháp để vận động, tổ chức, lãnh đạo nhân dân thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Một số khác có nhu cầu hoạt động hợp pháp, nhưng không hoạt động được trong tỉnh, điều động và bố trí hoạt động hợp pháp ở tỉnh khác. Trong số này có đồng chí Ðặng Chính Ðường phó Trưởng Ty Bưu vận. Cán bộ Dân Chính Ðảng từ xã trở xuống đều ở lại về cùng nhân dân làm ăn, tuyên truyền, giải thích Hiệp định Giơnevơ cho đồng bào hiểu, vận động đồng bào, binh lính ngụy đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định. Tùy tình hình từng nơi, từng lúc và từng điều kiện, hoàn cảnh mỗi người, có thể tham gia công tác hoặc tham gia các tổ chức quần chúng bất hợp pháp hoặc tránh né địch đi làm ăn, khi cần Ðảng sẽ bắt liên lạc và đưa vào hoạt động.
2. Giao thông liên lạc trên "Ðường mòn Hồ Chí Minh":
    Sau khi "Ðường mòn Hồ Chí Minh" từ Bác ái – Ninh Thuận ra Diên Khánh – Khánh Hòa được xoi thông, việc đưa đón cán bộ đi theo con đường này có các trạm do trung đội Ðặng Quang Cầm phụ trách: Trạm 18 đóng ở Rã Trên xã Phước Trung do đồng chí Quyền – trạm trưởng. Từ đây qua Tà Lú đến Vũng Bà Thầy lên Trạm Ma Hoa đóng ở Châu Ðát – xã Phước Thắng do đồng chí Ðô – trạm trưởng. Ði xuyên đầu nguồn sông Cái, sông Trương qua sông Hàm Riêu rồi đến Trạm Gia Huynh liên lạc theo hướng đổ về bến Bè – Gia Lễ là Trạm Gia – Dé (Chanché) đóng ở sông Cái – Gia Lễ, lúc đầu trạm trưởng là đồng chí Tân, sau điều đồng chí Quyền Trạm 18 ra thay. Còn Trạm 18 lúc này đồng chí Bỉnh – trạm trưởng. Trạm Gia – Dé có số quân đông nhất: 20 cán bộ chiến sĩ. Việc liên lạc với Khánh Hòa bây giờ có Trạm 18 đến Trạm Ðầu Suối và từ đây ra giao trực với Trạm Tô Hạp – miền Tây Khánh Hòa.
Mạng lưới giao thông trên "Ðường mòn Hồ Chí Minh" những năm về sau này, phong trào cách mạng ở miền núi có phát triển, cán bộ chiến sĩ biết dựa vào đồng bào dân tộc, được nhân dân tin yêu, nuôi nấng nên anh em giao liên có đỡ hơn về vật chất và tình cảm. Tuy không thiếu đói, nhưng quanh năm, suốt tháng lương thực của anh em để sinh tồn rất đơn giản là củ mì (tươi, khô), bắp tươi, bắp hạt (ngô), có lúc thiếu muối phải dùng tro tranh, nhưng địch luôn rình rập và quyết cắt đứt mạch máu giao thông này. Chúng tổ chức các nhóm "Gum- nhê"õ từ những buôn làng ở vùng cao chia ra nhiều tổ, nhóm đưa đi phục kích đoàn cán bộ ta qua lại trên trục giao liên hoặc tổ chức tập kích vào các trạm giao liên của ta. ở đây, cán bộ chiến sĩ giao liên phải chịu đựng và vượt qua những chặng đường cực kỳ gian khổ, hiểm nguy để xây dựng và giữ vững đường hành lang thông suốt nối liền Bắc – Nam, đưa đón bảo đảm an toàn nhiều đoàn cán bộ quan trọng qua lại. Không những thế, lực lượng này còn góp phần quan trọng trong công tác dân vận: vận động quần chúng tham gia các hoạt động cách mạng, xây dựng cơ sở từ vùng trắng đến vùng có cơ sở cách mạng, phát triển phong trào du kích chiến tranh, xây dựng vùng dân tộc miền núi thành vùng căn cứ cách mạng vững chắc.
3. Giao thông liên lạc đường biển:
    Gần cuối năm 1949, phong trào cách mạng phát triển mở rộng từ miền núi, đồng bằng, nông thôn, đến thành thị, lực lượng vũ trang và cơ quan các tỉnh phía Nam phát triển mạnh, chiến trường cần số lượng vũ khí, đạn dược, máy móc, thiết bị, quân trang quân dụng nhiều hơn mới đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của phong trào dưới sự chỉ đạo của Ðảng trong tình hình có lợi cho cách mạng. Liên khu V quyết định tăng thêm sức chở của thuyền, phần lớn vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm đều được đưa vào bằng loại thuyền có sức chở từ 15-20 tấn. Thuyền nhỏ chủ yếu đưa đón cán bộ đi theo ven biển dễ tránh né địch và dễ cất dấu. Thuyền lớn phải đi ngoài hải phận quốc tế vào mùa bấc khi sóng to, gió lớn mới nhổ neo, trên thuyền được bố trí thuyền trưởng, thuyền phó, máy trưởng, máy phó, thủy thủ, lực lượng chiến đấu và hoa tiêu dẫn đường đến đúng tọa độ bắt liên lạc với bờ bằng ám hiệu. Nhận đúng ám hiệu, thuyền căng buồm chạy một mạch vào, thuyền nhỏ từ bờ ra đón nhận hàng. Hầu hết, sau khi cất hàng lên bờ thuyền được đưa ra khơi hủy, không để dấu vết địch phát hiện, thủy thủ đi ra theo đường bộ. Thời gian giao hàng thường chậm nhất 3-4 giờ sáng, hàng lên bờ xong trước lúc trời sáng, vì bấy giờ hải thuyền, máy bay địch hay tuần tiểu dễ bị lộ.
    Năm 1950, chuyến vũ khí được chuyển vào trên 5 thuyền, mỗi thuyền có sức chở 2 tấn, trong đó hàng hóa gồm: vũ khí, điện đài từ Trạm Hòn Xe – Bãi dài – Cam Ranh đến Chi Lăng giữa đêm khuya gặp sóng to, gió lớn. Tình thế hết sức nguy ngập, thủy thủ buộc phải đưa thuyền vào bãi Cát Trong-Vĩnh Hy, mặc dù địa điểm này chỉ cách đồn địch 400m (đường chim bay), nhưng không còn cách tốt hơn. Tuy nhiên, với tinh thần dũng cảm, mưu trí thủy thủ đoàn nhanh chóng đào hố chôn dấu hơn 10 tấn hàng. Việc chôn dấu hàng an toàn, nhưng chuyển khối lượng hàng lớn ra khỏi vùng địch kiểm soát thật không đơn giản chút nào. Ðể bảo đảm an toàn, sau 3 ngày tỉnh điều lực lượng Tiểu đoàn 89 xuống bao vây đồn địch, đồng thời vận động hàng ngàn đồng bào các thôn: Vĩnh Hy, Thái An, Ðá Hàn, Cầu Gẫy, núi Chúa vận chuyển hàng về chiến khu thông suốt.
    Thời kỳ thiếu đói lương thực, nhất là những năm 1949 đến năm 1951, năm mà tỉnh gặp rất nhiều khó khăn về lương thực, nguồn tiếp tế trong nhân dân bị địch bao vây, phong tỏa. Lực lượng quân đội, các cơ quan và số đồng bào thoát ly ra các khu dân sinh bị nạn đói kéo dài, việc sản xuất lương thực tự túc chưa được triển khai. Nhờ có con đường giao thông trên biển đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc cung cấp một khối lượng lớn lương thực, thực phẩm nên ở Tỉnh khắc phục được một phần khó khăn về đời sống của lực lượng vũ trang và nhân dân vùng căn cứ kháng chiến. Chủ yếu lương thực được mua ở các tỉnh Nam Bộ và Bình Thuận, thường thì thuyền của T07 chuyển vũ khí, đạn dược, hàng hóa vào khu VII, Bình Thuận, sau khi giao hàng các đơn vị, thuyền nhận chuyển lương thực về Ninh Thuận(1).
Ðối với đường biển, ngoài việc thủy thủ phải chịu đựng sóng gió, luôn luôn bị cái chết đe dọa. Những chiếc thuyền lá tre mỏng manh chập chờn ngoài biển khơi mênh mông như chiếc lá rụng, lúc ẩn, lúc hiện theo từng cơn sóng vỗ, số phận thủy thủ cũng mõng manh như chiếc thuyền bé tí dưới những cơn sóng khổõng lồ giữa biển khơi bao la, trông thuyền cứ như chui dưới sóng mà lướt vậy, nước cứ đầy ấp thuyền nên lúc nào cũng có 2 thủy thủ liên tục tát nước. Như chuyến hàng chở vũ khí, điện đài được cho vào hòm gỗ và bao nilon cẩn thận, từ Trạm Chi Lăng vào, trên thuyền có 6 thủy thủ chèo, thuyền vừa ra giữa đầm biển Ninh Thuận trong đêm khuya giông tố ập đến nhận chìm thuyền, 6 thủy thủ can đảm nhảy ra, lặn xuống đỡ be thuyền vừa tát nước, vừa giữ cho thuyền thăng bằng, cứ thế các anh phải vật lộn với giông tố nhiều tiếng đồng hồ mới cứu được 2,5 tấn hàng.
    Cũng có lúc thủy thủ đành bó tay trước những cơn sóng hung ác ập đến cướp đi đồng đội, đồng chí mình. Ðó là chuyến từ Chi Lăng vừa đến hòn Ðiện Zin, bão ập đến nhận chìm thuyền, số anh em nam thủy thủ thì lội được giữa đêm đen, còn hai nữ đồng chí bị chìm sâu. Không những thế, số phận thủy thủ còn phụ thuộc vào trí thông minh, gan dạ, tỉnh táo để xử trí mọi tình huống nguy hiểm thường diễn ra, tàu tuần dương của địch thường xuyên tuần tra vùng biển, trên trời máy bay địch luôn lượn quanh... Cán bộ, thủy thủ của Trạm TO7 không những chỉ chịu đựng gian khổ, nguy hiểm ngoài biển khơi, mà ngay trên đất liền phải trãi qua bao gian nan thử thách, có lúc tưởng chừng như không vượt qua nổi. Có lần khối lượng hàng hóa rất lớn do khu V chi viẹõn vào Ninh Thuận, khu VII, Bình Thuận, khi thuyền đến bến TO7 bị bão lớn hoặc địch phong tỏa bằng máy bay, hải quân. Vì vậy, hàng được đưa vào bờ cất dấu, để sau đó chuyển tiếp theo phiếu ghi tên đơn vị nhận (có lúc chuyển bằng đường bộ).
    Mùa Bấc năm 1951, trên thuyền bầu chuyển 20 tấn vũ khí, điện đài, tiền bạc từ Liên khu V vào. Tuyến ven biển từ Ninh Thuận trở vào địch phong tỏa bằng tàu chiến, máy bay rất gắt gao, ngòai khơi xa đang trong cơn bão dữ dội, vì vậy thuyền phải cập bến TO7. Qua liên lạc vô tuyến điện, Tỉnh ủy lập tức triển khai, huy động lực lượng Trạm Chi Lăng chuyển cất hàng ở bãi vũng Cây Nhàu gần Lưới Ðăng – Vĩnh Hy, cách đồn địch chưa đầy một cây số (đường chim bay). Không may một đồng chí của ta bị sa vào tay giặc, tuy địch không khai thác được gì, nhưng chúng nghi ngờ và đỗ quân lùng sục. Tỉnh điều đồng chí Phạm Niên – đại đội trưởng Ðại đội 212 đưa một trung đội xuống bảo vệ, đồng thời huy động 30 chiếc thuyền của nhân dân vùng Vĩnh Hy chuyển tải vũ khí, điện đài vào chôn dấu ở bãi Ðá Mũi – Thái An. Riêng 20 balô tiền, do đồng chí Nguyễn Thúc Khôi (Chín Bình) dẫn đoàn gồm 20 phụ nữ chuyển đi đường bộ lên núi Thái An chôn dấu. Lại một lần nữa, địch nghi ngờ chỗ cất dấu hàng hóa của ta và cho quân lùng sục. Ðứng ẩn nấp bên này núi, đồng chí Nguyễn Thúc Khôi thấy bọn địch đã dẫm chân lên hầm tiền mà ruột gan như đứt ra từng đoạn, nhưng sau hơn 2 tiếng đồng hồ lùng sục chúng không phát hiện được gì và ngay trong đêm số tiền đó được chuyển bằng đường bộ về Chiến khu an toàn.
    Cũng bằng những chiếc thuyền lá mỏng manh, với đôi dầm gỗ đơn sơ này mà Trạm TO7 đưa nhiều đoàn cán bộ trung, cao cấp ra Trung ương và nhiều cán bộ cao cấp của Trung ương vào Nam hoạt động an toàn. Sau lần các thủy thủ Trạm TO7 vào khu Lê Hồng Phong – Bình Thuận báo cáo tình hình đường biển cho Ban Cán sự Cực Nam và được Ban Cán sự giao nhiệm vụ: đưa đoàn cán bộ của Trung ương gồm 10 đồng chí từ Ô Rô – Bàu Trắng – Bình Thuận ra TO5 - Phú Yên. Số cán bộ này được bố trí trên 5 chiếc thuyền lá tre, mỗi thuyền 2 người chèo. Xuất phát từ Trạm T06, lúc 2 giờ sáng Ðoàn thuyền đến cửa biển Phan Rí – Bình Thuận. Tại đây, địch phong tỏa đường biển bằng canô và tàu chiến án ngữ ngay cửa. Tình thế xảy ra rất bất ngờ "tiến thoái lưỡng nan", nếu lui lại vị trí xuất phát thì đến 8 giờ sáng thuyền mới vào được bờ và máy bay địch từ Căng-?Sê-Pic (Phan Thiết – Bình Thuận) ra sẽ phát hiện? Sau khi phân tích tình hình, thủy thủ Ðoàn quyết định: vượt qua bằng cách đi thẳng và kẹp sát vào sườn tàu chiến của địch; bố trí đồng chí Lê Phong Phú phụ trách kiêm chèo lái một thuyền đi trước, còn 4 thuyền đi sau cách nhau từ 15-20m. Cứ thế, toàn Ðội thuyền vượt qua an toàn. Cán bộ ta chưa trút hết cơn hồi hộp, căng thẳng, Ðoàn thuyền đã đến Mũi Duồng. Nơi đây, địch rãi rất nhiều dây chuông để phát hiện thuyền bè qua lại, trên bờ thì đóng đồn và bố trí hai đại liên. Không may một thuyền ta đụng phải dây chuông và từ đồn địch hai đại liên rãi đạn như mưa, thuyền trúng đạn bể mạn be, nhưng đoàn cán bộ và thủy thủ vẫn an toàn. Ðoàn thuyền tiếp tục đêm đi, ngày ghé vào bờ ẩn nấp, phải hơn tuần lễ mới đến nơi và bàn giao cán bộ cho Trạm TO5, được Ban vận tải Liên khu V khen ngợi thủy thủ đoàn thông minh, dũng cảm và đầy sáng tạo trong xử lý tình huống.
    Cuộc sống của thủy thủ các trạm đường biển luôn thiếu đói, lương thực phải tự túc. Nếu đoàn cán bộ qua lại mà khu V chưa gửi lương thực vào, thì phải cắt cử một đồng chí ở nhà chặt cây đu đủ gọt hết vỏ, lấy phần trong của cây luộc đi, luộc lại nhiều lần xả bỏ chất đắng rồi ăn thay cơm...Mặc dù gặp nhiều khó khăn, gian khổ "thiên tai, địch họa" luôn rình rập, cán bộ chiến sĩ luôn nêu cao tinh thần đoàn kết và ý chí kiên cường. dũng cảm, phát huy cao trí thông minh, sáng tạo chống chọi với giông tố bão bùng, đánh lừa được kẻ thù có trang thiết bị và vũ khí hiện đại để chuyển về cho chiến trường miền Nam nói chung và Ninh Thuận nói riêng hàng trăm tấn vũ khí, quân trang, quân dụng, hàng trăm tấn lương thực, thực phẩm và đưa hàng ngàn lượt cán bộ vào Nam ra Bắc...Ðặc biệt đồng chí Ðặng Chí Thanh (hiện nay là Ðại tá Hải quân đã nghỉ hưu) được tôi luyện và trưởng thành tại vùng biển Ninh Thuận. Tham gia cách mạng năm 1946 thì giữa năm 1947, đồng chí được tuyển chọn vào Ðội thuyền TO7, một thủy thủ dạn dày sông nước, bơi lội giỏi nhất tỉnh lúc bấy giờ và cũng là người rất thông thạo các bến bờ ven biển từ Liên khu V vào Nam Bộ. Phát huy khả năng sẵn có, đồng chí đem hết sức lực và trí tuệ cùng đồng đội lập nên nhiều chiến công trên biển. Ngoài việc gan dạ lừa được địch bảo tồn hàng hóa, đồng chí còn can đảm nhấn chìm thuyền giữa biển khơi khi máy bay địch phát hiện, quyết không để vũ khí đạn dược lọt vào tay giặc, rồi cùng đồng đội mưu trí lội vào bờ.
4. Thông tin liên lạc vô tuyến điện :
    Năm 1949, theo yêu cầu của chiến trường, điện báo phải vừa tinh thông nghiệp vụ, vừa giỏi kỹ thuật sửa chữa máy móc (cơ công) cho phù hợp với điều kiện ở Ninh Thuận vừa thiếu người, vừa đi lại xa xôi, hiểm trở. Vì vậy, Ban cán sự miền Nam và Tỉnh ủy chủ trương thực hiện theo hướng đào tạo cán bộ làm nhiều việc, biết nhiều nghề. Theo tinh thần đó, mặc dù đồng chí Bùi Viết Súy (Năm Thành) đang đảm trách công việc cơ yếu nhưng cũng được cử đi học lớp cơ công tại Phòng vô tuyến điện – ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ. Thời gian này, sau khi miệt mài học hỏi, đồng chí Trần Chuyên trở thành điện báo viên đảm nhận các phiên liên lạc chính của đài, phục vụ sự chỉ đạo của Liên Khu ủy và Tỉnh ủy Ninh Thuận nối liên lạc với Nam Bộ, Bình Thuận. Sau đó, đồng chí Chuyên được chuyển ra Quân khu V học ở Trường Lục quân và được giữ lại cụm Ðài Ban Thông tin Quân khu V.
    Sau khi đồng chí Trần Chuyên điều ra Liên khu V, bộ phận điện đài được sắp xếp lại: đồng chí Quỳnh từ Bình Thuận ra làm đài trưởng, Hòa báo vụ, Nhuận thợ máy nổ, các đồng chí: Cận, Ngữ, Xuân làm công tác bảo vệ đài. Vì tuổi già, sức yếu đến giữa năm 1949 đồng chí Quỳnh về lại Liên khu V và đồng chí Tình từ Liên khu V vào thay đài trưởng. Cuối năm 1949, bộ phận Ðài và bộ phận Công binh xưởng theo Tỉnh ủy chuyển xuống CK35, vừa ổn định nơi ăn, ở và làm việc, thì 10 ngày sau địch tập kích đánh vào bộ phận Ðài kể cả Công binh xưởng. Trận tập kích này, đối với ta hoàn toàn bất ngờ nên thiệt hại khá nặng: một số đồng chí hy sinh , một số bị bắt và mất hết phương tiện liên lạc. Trong đó đồng chí Tình, Hòa, Cận bị địch bắt sống, đồng chí Xuân bị chúng đâm hy sinh tại chỗ. Về phương tiện bị mất: 1 máy MK2, 2 bình acquy và một máy nổ.
    Sau trận thiệt hại này, Ninh Thuận không còn Ðài vô tuyến điện nữa, thời gian tiếp theo việc liên lạc phải thông qua Ðài vô tuyến điện của Liên Trung đoàn 81-82. Số đồng chí còn lại chuyển về các đơn vị như: đồng chí Nhuận về Ban Thông tin Liên Trung đoàn 81-82 (Bình Thuận), đồng chí Ngữ qua đơn vị chiến đấu.Cuối năm 1950, trong chiến dịch Ðông Xuân, Liên Trung đoàn 81-82 điều 1 Ðài vô tuyến điện thuộc loại máy Schnell tự ráp của Liên Trung đoàn từ Bình Thuận ra chi viện cho Ninh Thuận do Bữu Hòa đài trưởng, Nhuận thợ máy nổ. Từ đây, việc liên lạc bằng vô tuyến điện ở Ninh Thuận bắt đầu hoạt động lại sau hơn một năm gián đoạn.
    Mặc dù mạng lưới giao thông liên lạc đường bộ được củng cố, mở rộng ra khắp các địa bàn trong tỉnh, móc nối liên lạc chặt chẽ với các tỉnh Bình Thuận, Lâm Viên, Khánh Hòa, và Liên khu V. Nhưng việc nối mạch thông tin liên lạc qua mạng lưới vô tuyến điện giữa cấp trên với cấp dưới và ngược lại là đặc biệt quan trọng. Vì vậy, công tác tổ chức cán bộ và cải tiến trang thiết bị máy móc vô tuyến điện luôn được cấp ủy Ðảng các cấp quan tâm. Giữa năm 1952, Bửu Hòa được điều về Bình Thuận và từ Bình Thuận Lâm Văn Vân ra làm đài trưởng Ninh Thuận. Cuối năm 1952, đồng chí Lâm Văn Vân lâm bệnh về lại Bình Thuận điều trị, phần việc còn lại do Trần Chuyên từ Bình Thuận ra đảm nhận,ở tuổi niên thiếu chứng kiến tận mắt cảnh quê hương đất nước bị giặc ngoại xâm tàn phá, giết hại dân lành, đồng chí Trần Chuyên bắt đầu cuộc đời phục vụ cách mạng từ giữa năm 1946. Với ý chí căm thù giặc, bằng sức lực và trí tuệ của tuổi trẻ, đồng chí đã cố công học tập và trở thành người chiến sĩ điện báo thuộc Trung đoàn 81, một công việc thầm lặng mà vinh quang. Chẳng bao lâu, đồng chí nhanh chóng trưởng thành và gánh vác nhiệm vụ hệ trọng trong các phiên thu, phát hàng loạt bức điện từ tỉnh Ninh Thuận đến Bình Thuận và vào Nam Bộ. Không thỏa mãn với trình độ chuyên môn của mình, năm 1949 với tinh thần vừa làm, vừa học, không thầy thì học bạn, đồng chí trở thành một thành viên cụm Ðài Ban Thông tin Quân khu 5, để rồi sau đó tích tụ được nhiều kinh nghiệm quí báu về lại quê hương Cực Nam cùng đồng đội xây dựng Ban Thông tin Trung đoàn 812.
    Suốt 9 năm chống Pháp, thông tin vô tuyến điện Ninh Thuận trãi qua nhiều khó khăn, gian khổ, từ việc máy móc cồng kềnh, nặng nề, chưa hiện đại, nhưng phải làm việc trong điều kiện núi cao, rừng rậm ảnh hưởng việc phát sóng; mưa to, sấm sét ảnh hưởng đến việc thu nhận tín hiệu; lại phải luôn tránh né địch càn quét, dò sóng đài. Trình độ nghiệp vụ điện báo viên chưa cao, phần nhiều trình độ văn hóa thấp, nghiệp vụ đào tạo tại chổ, chưa cơ bản. Mặt khác, trong chiến tranh phải thuyên chuyển công tác hoặc dời chuyển chỗ ở liên tục, máy móc nặng nề, cồng kềnh mà yêu cầu của chỉ đạo, chỉ huy nhất là các chiến dịch phải nhanh chóng, kịp thời, chính xác, tuyệt đối an toàn. Song, chiến sĩ thông tin luôn giữ vững trận tuyến phục vụ kịp thời sự lãnh đạo của Ðảng trong mọi tình huống. Bằng kỹ thuật nghiệp vụ và sự thông minh sáng tạo, chiến sĩ điện báo khi lên máy đều dùng mật hiệu được qui ước trước và liên tục thay đổi theo ngày chẵn, lẻ, thay đổi sóng phát (tần số) cũng qui ước bằng mã số, chữ số hoặc kết hợp cả hai chữ cái cùng chữ số. Theo thời gian, người điện báo quen với âm điệu điện đài và cách đánh Manip của đồng nghiệp bên kia cánh sóng bắt liên lạc ngày càng nhanh chóng hoặc nhận điện phóng thiên..., đảm bảo rõ ràng , bí mật giúp cho liên lạc qua đài vô tuyến điện lẹ làng, chính xác hơn, nhờ vậy địch khó dò tìm được sóng phát của ta.
    Nếu ai đó đã một lần theo đường giao liên ngang qua núi rừng Ninh Thuận để vào Nam hoặc ra Bắc, mới thấm thía cái gian khổ, ác liệt, cái đói cơm, nhạt muốiứ của cuộc sốõng núi rừng khắc nghiệt mà thiên nhiên "ban tặng", kẻ thù luôn rình rập ném bom, gài mìn, rãi chất độc hóa học trên các tuyến hành lang. Chỉ nắm rau rừng hay củ nần chấm muối mà giao liên vượt hàng trăm cây số đường núi đá cheo leo hay suối sâu thăm thẳm trong đêm khuya lạnh buốt giữa núi rừng tĩnh mịch, kiên trì nhẫn nại nhận bao gian khổ, hiểm nguy về phần mình để đưa đón những đoàn cán bộ "đi thuận về xuôi", vượt qua bao dòng sông, con suối nuớc cứ cuồn cuộn chảy xiết, những cơn mưa rừng nước lũ, hay trong lằn đạn, tầm bom của kẻ thù. Nói đến ác liệt, hiểm nguy mà chiến sĩ giao liên đã trải qua nhằm bảo đảm giao thông liên lạc, chúng ta càng khâm phục tính thông minh, sáng tạo của chiến sĩ thông tin vô tuyến điện; một bộ phận rất quan trọng góp phần quyết định thắng lợi ở chiến trường. Nhiệm vụ của họ là cực kỳ quan trọng, mà trước hết đòi hỏi các chiến sĩ ngày đêm nghiên cứu tìm ra sáng kiến, cải tiến kỹ thuật sao cho máy móc tuyệt đối an toàn, đảm bảo thông tin liên lạc nhanh nhất, chính xác và bí mật nhất. Ðịch dùng máy bay oanh tạc ném bom ban ngày, ta lên máy liên lạc ban đêm. Máy bay thám kích, biệt kích do thám rà bắt tần số phát, ta dùng hô hiệu linh hoạt thay đổi tần số, tên gọi, thay đổi cả giờ giấc liên lạc và địa điểm đóng quân.
    Có lẽ, do đặc điểm của chiến trường Ninh Thuận nhiều ác liệt, hiểm nguy nên đã tôi luyện cho cán bộ chiến sĩ ở đây, không những tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường, mà còn trang bị cho họ một đặc tính linh họat, khi vượt qua giao lộ nguy hiểm phải sáng tạo ra nhiều cách ngụy trang đánh lừa địch. Biệt kích, máy bay địch phong tỏa đường giao liên, thì lối vòng leo núi, trèo đèo, nhiều lúc chủ động đi sát địa điểm đóng quân của địch, điều bất ngờ ấy là sự thông minh, mưu trí sáng tạo ra đường giao liên bước tôi đi … Cũng chính hoàn cảnh gian khổ ấy đã gắn kết tình yêu thương đùm bọc giúp đỡ nhau như anh em ruột thịt, hạt muối chia đôi, manh áo vải sờn thay nhau che thân qua những chuyến thư trực, nhường nhau nắm gạo cháo cho ấm lòng đồng đội, chung nhau mẫu thuốc lá thắm tình đồng chí. Ôi! Tấm lòng thơm thảo ấy đã sinh ra, lớn lên và trưởng thành theo từng giai đoạn cách mạng, nó đốt nóng ý chí căm thù quân xâm lược, và sưởi ấm lòng chiến sĩ trong tình thương yêu đồng đội, đồng chí.
Ðó là những chuẩn mực trong hành trang của cán bộ chiến sĩ giao liên thông tin liên lạc tỉnh Ninh Thuận trên chặng đường giao liên dài theo đất nước.