GIAO BƯU - VÔ TUYẾN ĐIỆN TỈNH NINH THUẬN 
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNH MỸ CỨU NƯỚC
( 1954 - 1975 )
  Mở đầu
  Phục vụ đấu tranh chính trị và phong trào đồng khởi(1954-1960)

1

Thông tin liên lạc đường bộ

2

Ðường dây liên lạc hợp pháp

3

Giao thông liên lạc đường biển và thông tin VTÐ
  Bảo đảm thông suốt mạch máu giao liên thông tin góp phần phục vụ đảng lãnh đạo đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của địch 1960-1965

1

Thông tin liên lạc đường bộ

2

Ðường dây liên lạc hợp pháp

3

Giao thông liên lạc đường biển và thông tin VTÐ
  Phục vụ đảng bộ lãnh đạo đánh bại chiến lược chiến tranh cục bộ(1965-1968) 

1

Thông tin liên lạc đường bộ

2

Ðường dây liên lạc hợp pháp

3

Giao thông liên lạc đường biển và thông tin VTÐ
  Phục vụ đảng lãnh đạo đánh bại chiến lược "Việt nam hoá chiến tranh" và tiến tới giải phóng miền nam thống nhất đất nước(1968-1975)

1

Thông tin liên lạc đường bộ

2

Ðường dây liên lạc hợp pháp

3

Giao thông liên lạc đường biển và thông tin VTÐ

    Sau hiệp định Giơnevơ 1954, Liên Khu ủy V đề ra mấy công tác cấp bách và chỉ định Tỉnh ủy Ninh Thuận bí mật gồm 5 đồng chí, bắt đầu làm việc từ tháng 8-1954 với nhiệm vụ đầu tiên là tổ chức tuyên truyền, giáo dục về Hiệp định Giơnevơ, về phương châm, phương pháp đấu tranh cách mạng, khẩn trương tổ chức sắp xếp lại bộ máy lãnh đạo các cấp, tổ chức Ðảng từ tỉnh đến cơ sở cho phù hợp với tình hình mới. Ðối với tổ chức Ðảng ở đồng bằng và thị xã, Tỉnh ủy chỉ đạo đình chỉ sinh hoạt các Ðảng bộ cơ sở, chọn số ít đảng viên có tư tưởng vững vàng, ít lộ, tự nguyện hoạt động trong hoàn cảnh mới, tổ chức thành chi bộ nhỏ gọn, bí mật; các Cấp ủy từ huyện trở lên sắp xếp lại thật gọn nhẹ.
    Về tổ chức hành chánh, Tỉnh thành lập 5 vùng. Tỉnh duy trì các huyện Bác ái, Anh Dũng, An Phước và thị xã Phan Rang-Tháp Chàm; các xã Văn Hải, Khánh Hải, Mỹ Hải, Ðông Hải hiện nay (trước thuộc thị xã) là vùng 5; thành lập các vùng 1, 2, 3, 4, địa giới mỗi vùng cơ bản như thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp. Số cán bộ chiến sĩ tỉnh giữ lại hoạt động bí mật bất hợp pháp hơn 100 đồng chí; Cấp ủy mỗi huyện, thị, vùng từ 3-5 đồng chí và 2 liên lạc có nhiệm vụ giữ liên lạc giữa huyện, thị, vùng với tỉnh và các xã. Trong tình hình này, bộ máy giao liên được tổ chức rất gọn nhẹ và hoạt động hoàn toàn bí mật, nhiệm vụ chủ yếu là đưa đón cán bộ lãnh đạo các cấp đi công tác, đưa anh em đi tập kết, chuyển nhận công văn, thư từ, tài liệu, tuy công việc không nhiều nhưng cực kỳ khó khăn, gian khổ.
    Dựa vào núi rừng trùng điệp và đồng bào vùng căn cứ kháng chiến cũ, cơ quan lãnh đạo của tỉnh lên đóng ở vùng núi rừng Bác ái để chỉ đạo phong trào. Ðể nhanh chóng phục vụ sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, mạng lưới giao thông liên lạc hình thành theo 2 phương thức: đường dây bất hợp pháp nội tỉnh nối liên lạc từ tỉnh xuống các huyện, thị, vùng, đến Liên tỉnh 3 và các tỉnh lân cận: Bình Thuận, Lâm Viên, Khánh Hòa. Ðường dây hợp pháp từ tỉnh xuống thị xã, các vùng và cơ sở... Mỗi huyện, thị, vùng đều có đường dây liên lạc hợp pháp nối liên lạc với tỉnh và các xã, do đồng chí chủ chốt của Cấp ủy trực tiếp chỉ đạo theo lối đơn tuyến. Mỗi xã có một cán bộ ăn, ở trong cơ sở quần chúng hoạt động bí mật, giữ liên lạc với trên. Vùng ủy, Thiù ủy vừa có căn cứ ngoài rừng, vừa bí mật bám trong dân. Riêng cơ quan huyện Bác Aựi, Anh Dũng ở trong dân, các xã có chi bộ, chi đoàn và các tổ chức quần chúng vẫn duy trì.
    Tình hình Cách Mạng Miền Nam sau Hiệp định Giơnevơ ta không có quân đội, không có chính quyền nên phương thức giao thông liên lạc hoàn toàn thay đổi. Ðường dây liên lạc gọn nhẹ, máy vô tuyến điện liên lạc vào đêm khuya, ban ngày chôn dấu, lực lượng giao thông đường biển nằm yên giữ bí mật, khi cần hóa trang thành ngư dân đi biển chèo thuyền bắt liên lạc. Từ năm 1960 trở đi, phong trào Ðồng Khởi thổi bùng ngọn lửa đấu tranh cách mạng, nhân dân nổi dậy khắp miền Nam, nhiều vùng căn cứ Tây Nguyên được giải phóng mở rộng, đường hành lang rừng núi và đồng bằng ở Ninh Thuận được tổ chức qui cũ, lực lượng giao liên được tăng cường và trang bị vũ khí, nhiệm vụ nặng nề hơn. Ven đồng bằng có lúc, có nơi rất ác liệt nhưng mở được nhiều đường, nhiều tuyến hơn. Ðường dây hợp pháp phát triển được trạm đầu mối, móc nối nhiều cơ sở, bảo đảm chỉ đạo thống nhất của Ðảng. Ðường biển thời điểm này địch tập trung hạm đội, máy bay, tàu chiến phong tỏa, mặt khác việc liên lạc đường bộ dễ hơn nên mạng lưới giao thông đường biển ở địa phương những năm sau không tồn tại. Xuất phát tình hình chiến trường mà hệ thống vô tuyến điện ngày càng xây dựng tiến bộ, máy móc cải tiến hiện đại hơn, lực lượng cán bộ đông và tay nghề giỏi, phục vụ xuyên suốt sự lãnh đạo của Ðảng đến phong trào cách mạng ở cơ sở.
    Lực lượng giao thông đường bộ, đường biển và thông tin vô tuyến điện là những đồng chí đã từng trải, phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp, là cán bộ nòng cốt của Ngành, tích lũy nhiều kinh nghiệm trong chiến tranh, tuyệt đối trung thành với Ðảng, với sự nghiệp cách mạng, luôn luôn là lực lượng tin câùy của Ðảng, của dân, hết lòng vì sự nghiệp cách mạng giải phóng quê hương, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
I - PHỤC VỤ ÐẤU TRANH CHÍNH TRỊ VÀ PHONG TRÀO ÐỒNG KHỞI(1954 - 1960).
    Tháng 11-1954, Mỹ cử tướng Côlen sang làm đại sứ Nam Việt Nam, thôi thúc Ngô Ðình Diệm khẩn trương thực hiện kế hoạch của Mỹ với chính sách dã man được che đậy dưới lốp "Văn minh Mỹ quốc", mục đích biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Ngay lập tức, Ngô Ðình Diệm gạt bỏ tất cả những phần tử thân Pháp. Tháng 10-1955, Mỹ – Diệm tiến hành trò bịp bợm suy tôn Tổng thống, phế truất Bảo Ðại. Tiếp theo, chúng thành lập 10 sư đoàn và một số trung đoàn độc lập. Cuối năm 1955, mở chiến dịch "Tố cộng", "Diệt cộng". Nhiều cuộc càn khốc liệt với những biện pháp dã man: bắn, chém, dùng cực hình tra tấn, chôn sống nhằm gây khủng hoảng tinh thần trong nhân dân. Kết hợp với tập trung cải huấn, dụ dỗ, chúng thiết lập các khu "Trù mật" kìm kẹp quần chúng. Diệm đưa ra khẩu hiệu "Tiêu diệt nội tuyến, diệt trừ nội tâm, đạp lên oán thù để thực thi chủ nghĩa nhân vị quốc gia". "Ðặt cộng sản ngoài vòng pháp luật" để dễ xét xử những ai có tư tưởng chống đối, mà tội ác tột độ là luật 10-1959 lê máy chém đi khắp nơi, xét xử và chém đầu tại chỗ. Cùng với những chính sách dã man, Diệm bày trò vật chất cám dỗ, dựng lên cảnh ăn chơi phè phởn, trụy lạc ở đô thị ...
    Những năm đầu sau Hiệp định Giơnevơ (từ năm 1955 đến năm 1959), phong trào cách mạng hết sức khó khăn, nhất là các vùng căn cứ kháng chiến cũ tính mạng người dân bị đe dọa, đi lại luôn bị rình dập, theo dõi, ruộng đất bị cướp đoạt, cán bộ đảng viên số bị bắt, giết, tù đày, số còn lại lẩn trốn, có nơi gần như không còn cán bộ cốt cán, quần chúng dao động.
    Giữa lúc Cách Mạng Miền Nam đang đứng trước thử thách nghiêm trọng, thì luồng gió mới từ Thủ đô Hà Nội thổi bùng ngọn lửa đấu tranh cách mạng lan rộng các chiến trường miền Nam. Tháng 01-1959, Nghị quyết 15 của Trung ương Ðảng xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: "Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình – thống nhất – độc lập – dân chủ và giàu mạnh". Về phương pháp cách mạng, Nghị quyết chỉ rõ: "Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân" theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng, thì con đường đó lấy sức mạnh của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền của nhân dân. Nghị quyết 15 là mốc lịch sử có ý nghĩa hết sức quan trọng, quyết định chuyển biến cách mạng miền Nam.
    Khởi đầu là những cuộc đấu tranh chống phá các khu tập trung dân, đánh địch càn quét bằng vũ khí thô sơ của đồng bào miền Tây các tỉnh Liên khu V, rồi lan ra nhiều vùng ở Tây Nguyên, đến cao trào Ðồng Khởi Bến Tre và ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Phong trào cách mạng chuyển biến nhanh chóng tạo thành một vùng rộng lớn có ý nghĩa chiến lược nối liền từ Tây Nguyên đến miền Ðông và Tây Nam Bộ, từ Tây Nguyên xuống đồng bằng các tỉnh ven biển miền Trung. Ngày 20-12-1960 Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, đánh dấu sự lớn mạnh của Cách Mạng Miền Nam tập hợp đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia vào cuộc đấu tranh chính trị rộng lớn có vũ trang hổ trợ, lật đổ ngụy quyền ở nhiều nơi, giành chính quyền về tay nhân dân, mở đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
    Bức tranh toàn cảnh với những nét lớn phát họa bối cảnh chung của phong trào Cách Mạng Miềõn Nam và địa bàn tỉnh Ninh Thuận sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 đến khi có Nghị quyết 15 của Ðảng.
1. Giao thông liên lạc đường bộ :
    Cuối tháng 8-1954, từ vùng rừng núi Bác ái, Tỉnh ủy chỉ đạo thiết lập đường dây giao thông liên lạc của tỉnh thành hai hệ: bất hợp pháp và hợp pháp.
    Hệ bất hợp pháp tỉnh đặt hai trạm trung tâm: Trạm Tổng phát hành do đồng chí Ðào Tấn Ðạt - nguyên phó Ty Bưu vận làm trạm trưởng và 11 giao thông viên, lúc đầu Trạm đóng ở Rã Dưới (xã Phước Trung) cách cơ quan Tỉnh ủy 2 tiếng đồng hồ đường bộ, sau chuyển qua Suối Khô (xã Phước Chính). Thứ hai là Trạm Là A đóng trên địa bàn huyện Anh Dũng, do đồng chí Nguyễn Văn Dưỡng trạm trưởng, có 2 giao thông viên: đồng chí Ta và đồng chí Phạm Ngọc Thanh (Như). Trạm này mở đường thư trực với Trạm Bá Ghe (Bắc Bình Thuận). Ngoài việc tổ chức giao trực với Trạm Tổng phát hành, Trạm Là A còn liên lạc với Tổ giao liên huyện Anh Dũng, vùng 3 và vùng 2... Trạm Tổng phát hành liên lạc với Khánh Hòa thông qua trạm đóng ở Tô Hạp-Khánh Sơn và giữ mối liên lạc thông suốt Liên tỉnh 3, vào Bình Thuận, đồng thời liên lạc các đơn vị trong tỉnh: huyện Bác ái, Thị xã, vùng 1, vùng 4, vùng 5 và vùng 2. Núi Cà Ðú là điểm hẹn giao trực giữa vùng 2, vùng 5 với Trạm Tổng phát hành. Tuyến liên lạc đi liên tỉnh 10 ngày một chuyến thư, liên lạc giữa các đơn vị trong tỉnh 5 ngày một chuyến. Mỗi đồng chí phụ trách một tuyến đường và giao trực ở điểm hẹn, trường hợp đặc biệt phải đi trực suốt mất 6-8 ngày đối với tuyến liên tỉnh, 2 đến 4 ngày đối với trong tỉnh.
    Do tình hình sau Hiệp định Giơnevơ, lực lượng ta đi vào hoạt động bí mật nên đường dây liên lạc trên rừng tổ chức chặt chẽ vừa bảo đảm bí mật lực lượng, vừa giữ bí mật đường giao liên, đưa các đoàn cán bộ và con em cán bộ miền Nam ra Bắc học. Mặc dù đường đi sâu trong núi rừng, nhưng hầu hết phải hành quân vào ban đêm, không sử dụng ánh sáng (lửa, đèn pin) rọi đường, chỉ dùng ánh sáng phát ra từ cây, lá mục (chất lân tinh) gắn phía sau gùi hoặc bồng (balô) của người đi trước. Theo đó, ánh sáng phía trước là ám hiệu cho người đi sau tiếp bước. Mặt khác, người dẫn đường phải là anh giao liên thuộc đường thông thạo như lối đi vào cửa nhà mình vậy (thường giao liên là các đồng chí người dân tộc R’lây).
    Gần cuối năm 1954, đồng chí giao liên người dân tộc R’lây nhận nhiệm vụ đưa đoàn hơn 10 học sinh là con em cán bộ các tỉnh Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ ra miền Bắc học. Ðoàn bắt đầu từ Trạm Phước Trung ra trạm của tỉnh Khánh Hòa đóng ở Tô Hạp – Khánh Sơn phải đêm đi, ngày nghỉ, mất 5 đêm. Trên đường đi, đề phòng khi lạc nhau hoặc bị địch phục kích, vướng mìn địch cài, giao liên qui ước tiếng bép của con nai là ám tín hiệu tìm nhau. Khi hành trình, đoàn "khách" giữ khoảng cách với giao liên theo cự ly từ 3-5m. Ðêm thứ hai trên chặng đường điệp trùng rừng thẩm, núi cao heo hút không lối mòn, một việc bất ngờ đột nhiên xảy ra: ánh lân tinh phía sau gùi anh giao liên biến mất mang theo tiếng thình thịch, xào xạc của lá khô. Anh em trong đoàn nhận định "địch phục kích và giao liên bị bắt sống...". Tất cả lui về phía sau hai bên lối đi tìm nơi ẩn núp, nghe ngóng, nhận đón tình hình, tìm đường rút lui. Nhưng khó khăn là đâu ai biết đường dù chỉ đi 5-10 phút. Nơi phát ra tiếng động ban đầu, giờ im phăng phắc, chỉ còn lại đêm đen giữa rừng sâu... Nơi ấy, người chiến sĩ giao liên Chamalé Nghèo tỉnh táo, khôn khéo, chống chọi để thoát khỏi tử thần trong tư thế người ngã bên sườn núi, đôi chân bị quấn chặt bởi hai vòng thân con trăn to đùng, dài ngoằng, hung ác; hơi thở mỗi lúc một yếu dần theo vòng xiết của trăn... Phải mất 10 phút đồng hồ vùng vẫy, chỉ một giây bình tâm, đồng chí nhớ lại con dao lê trong chiếc gùi. Tư thế nằm úp, đầu phía trên cao, đồng chí cố hết sức nhưng phải đến lần thứ tư khi hơi thở càng ngắn dần, đôi chân tê dại mới lấy được dao ra khỏi gùi và dùng sức còn lại đâm thật mạnh vào thân trăn. Nhưng phải đợi đến khi anh dùng hết sức lực còn lại thọc sâu hơn và xoáy nhiều vòng nó mới bung ra và trườn nhanh. Mất thêm 10 phút nữa sức khỏe anh mới hồi phục và dùng ám hiệu bắt lại liên lạc với đoàn để tiếp tục chặng giao liên còn lại(1)
    Theo quy định của Cách Mạng, giao liên ở thời kỳ này, thời kỳ bí mật, không được sử dụng súng để tự vệ, nên những kinh nghiệm đối phó thú dữ là một yêu cầu hết sức những kinh nghiệm đối phó thú dữ là một yêu cầu hết sức quan trọng nhằm bảo tồn tính mạng. Ðể tránh được thú dữ, giao liên phải biết phân biệt như thế nào là tiếng động của voi hay các loài thú khác? Gặp voi phải tránh bằng cách nào?. Kinh nghiệm cho thấy, trước hết nếu trong người có mang theo lớự bắp (bột ngô rang) làm thức ăn thì lập tức dấu vào một hướng, còn mình di chuyển dưới gió theo hướng khác, không leo cây, Có lần, trong chuyến thư từ Khánh Hòa về, đang trên đường hành quân khoảng 5-6 giờ chiều, một đàn voi vừa ăn, vừa di chuyển ngay trên lối đi trước mặt giữa cơn mưa chiều tầm tã, đồng chí Chamalé Nghèo lọt vào giữa vòng tròn của đàn voi từ lúc nào rồi?. Bình tĩnh, khôn khéo đồng chí ngắt những lá lon (lá cây dầu) lớn và ngồi tựa vào vách đá, dùng lá lon vừa che mưa, vừa che voi. Ðàn voi cứ dai dẳng trong cơn mưa kéo dài, đến khi giật mình tỉnh giấc thì trời đã hé sáng và đàn voi cũng biến mất từ bao giờ? Cũng có lần đồng chí leo lên ngọn cây cao để tránh cọp...Như vậy đó, các tuyến hành lang trên núi cao, rừng sâu gặp và đối phó các loài thú dữ là chuyện thường ngày của người giao liên(2). Ðã qua rồi, hơn 40 năm mà những kỷ niệm ấy còn in đậm mãi trong trái tim, ký ức của giao liên Chamalé Nghèo – Ðiều đó tạo nên một bức tranh sinh động với những hình ảnh người chiến sĩ giao liên thời kỳ chống Mỹ cứu nước là cực kỳ gian khổ. Cuối năm 1954 và đầu năm 1955, địch lo thanh trừng những phần tử thân Pháp và xây dựng bộ máy tề điệp, nên ở đồng bằng còn nhiều sơ hở, giao liên đi ban ngày qua làng, qua đồng ruộng bằng cách cải trang hợp pháp. Từ cuối năm 1955, ở đồng bằng địch tổ chức "Tố cộng", bung ra lập ấp, đóng đồn, giao liên phải đi vào ban đêm vượt đường sắt Tháp Chàm – Ðà Lạt, Quốc lộ 11 và sông Cái, úc đầu xây dựng được cơ sở đưa đò qua sông, về sau địch kiểm soát gắt gao (đoạn từ Ðồng Mé lên Sông Pha) giao liên phải dùng nilon làm phao vượt sông khi nước lớn.
    Ðể đối phó với phong trào cách mạng đang phát triển ngày càng rộng ra các xã, thôn, bên cạnh việc đóng đồn, lập ấp ven đồng bằng, địch liên tiếp mở các chiến dịch "Tố cộng", "Diệt cộng" với các biện pháp hết sức dã man, chém giết, tra tấn nhằm gây khủng hoảng tinh thần trong nhân dân, mặt khác chúng lập ra các khu "Trù mật" kìm kẹp quần chúng. Tình hình này, số cán bộ cốt cán bị bắt, số lánh tránh đi nơi khác, số còn lại nằm yên không dám hoạt động. Mạng lưới liên lạc bị đứt, các mũi công tác của ta phải chuyển sang phương thức bí mật đột ấp để gặp cán bộ cốt cán, hẹn gặp nhau hoặc qui ước đặt hộp thư, chỗ gặp nhau, chỗ đặt thư thường là ở vùng rẫy dân ra vào làm ăn.
    Tháng 6-1956, cơ quan Liên tỉnh 3 từ Bình Thuận chuyển ra Ninh Thuận đóng ở vùng giữa các xã Phước Chính, Phước Trung, Phước Chiến, Phước Thành huyện Bác ái. Theo sự chỉ đạo của Liên tỉnh 3, cuối năm 1956 Tỉnh ủy bố trí thêm trạm giao liên để nối liên lạc với Ðà Lạt, trạm này đóng ở xã Phước Tiến (Tây Bác ái) có nhiệm vụ làm trung chuyển giữa Trạm Tổng phát hành và trạm của Ðà Lạt. Cuối năm1957, cơ quan Liên tỉnh 3 chuyển ra đóng ở khu vực giữa Châu Ðát xã Phước Thắng và Xóm Cỏ – Tô Hạp – Khánh Sơn. Ðể nối liên lạc với Liên tỉnh 3, tỉnh bố trí thêm trạm đóng ở Ma Hoa. Trạm này có thời gian ngắn là Trạm Tổng phát hành của Liên tỉnh 3. Trạm Ma Hoa có nhiệm vụ trung chuyển giữa Trạm Tổng phát hành của tỉnh với Trạm Tô Hạp – Khánh Sơn – Khánh Hòa và ngược lại.
    Tuyến đường liên lạc Liên tỉnh trên núi rừng được xây dựng từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp, giao liên rất thành thạo lối đi. Các buôn làng đồng bào dân tộc là căn cứ cách mạng, mặt khác, thời kỳ địch chưa đủ sức đánh phá miền núi, nên việc tổ chức xây dựng tuyến hành lang miền núi không khó khăn lắm. Lực lượng giao liên phần lớn là nam, nữ thanh niên dân tộc rất thông thạo núi rừng và trung thành với cách mạng, yêu mến cán bộ. Nhưng từ cuối năm 1956 trở đi, địch bung ra càn quét, đốt phá buôn làng, nương rẫy...,việc đi lại của giao liên vô cùng khó khăn, không những tránh né địch mà tránh cả nhân dân bung ra làm ăn rộng, vào rừng sâu, núi cao, bọn mật thám trà trộn trong dân dò tìm chỗ ở lực lượng ta. Ven sông Cái, đường 11, đường xe lửa, Quốc lộ 1 địch lập nhiều đồn bót, phục kích, gài mìn, dùng đèn pha cực mạnh vừa canh phòng ta tập kích, vừa phong tỏa tuyến hành lang qua lại của giao liên. Giao liên đồng bằng cũng như đường núi đều lấy đêm làm ngày, tất cả công văn tài liệu, thư từ, muối, gạo, nước uống, quần áo đều xếp gọn trong cái gùi, để địch lấy gùi coi như mất sạch phương tiệõn công tác và nguồn sống. Khổ nhất là việc tránh dân, thoáng thấy dân phải mang gùi trốn tránh, giữ bí mật hành trình. Nhiều lúc phải mang nước lên tậõn núi cao nấu ăn, ẩn mình nằm nghỉ, chờ xẩm tối mới lặng lẽ đi trên đường dây riêng của mình. Vượt sông Ông, sông Cái gặp nước to phải dùng nilon bọc đồ đạc, dụng cụ làm phao nổi bơi qua sông. Lúc bơi phải ước lượng cường độ dòng chảy mà xuyên qua theo đường mũi mác bảo đảm an toàn. Qua đường 11 ban đêm, chiến sĩ giao liên nhớ thật kỹ đâu là Ðèo Cậu, Nha Hố, khoảng nào là Ðồng Mé, dưới cầu Tân Mỹ và gộp đá đèo Sông Dâu - giao trực xong nghe xe địch từ Sông Pha chạy xuống phải nhanh chóng tìm nơi ẩn nấp tránh ánh sáng đèn pha rà quét hai bên đường.
    Ðầu năm 1957, địch kiểm soát được đồng bằng, chúng tập trung lực lượng đánh phá miền núi Bác Aựi – Anh Dũng với chiến dịch "Thượng du vận", vừa mua chuộc dụ dỗ, vừa dùng quân sự khủng bố buộc nhân dân xuống đồng bằng lập khu tập trung. Trong tình hình này, Tỉnh uỷ chỉ đạo chuyển cơ quan Huyện uỷ, các trạm giao liên, cán bộ người Kinh ra ngoài rừng để giữ thế hợp pháp cho dân, tránh gặp nhân dân và giữ bí mật cho mình, giao liên hoạt động theo phương thức: "Ði không dấu, nấu không khói, nói không tiếng". Liên lạc giữa huyện, xã, chi bộ không còn thường xuyên mỗi ngày một chuyến thư, giảm xuống 3 ngày một chuyến, giao trực tại điểm bí mật hoặc đặt hộp thư. Do đó, huyện chỉ đạo xuống xã không kịp thời. Trong lúc địch ráo riết mỵ dân bằng nhiều thủ đoạn: tập trung dân nghe chúng nói chuyện, dùng quân sự bao vây lùa dân xuống đồng bằng. Thôn Ðầu Suối – xã Phước Chiến là xã đầu tiên có phong trào du kích chiến tranh mạnh bị chúng bẫy xuống đồng bằng, tiếp sau chúng lùa các xã khác. Ðến năm 1958, địch dồn dân miền núi xuống đồng bằng gần hết như: Bác Aựi Ðông, Bác Aựi Tây dồn xuống lập các khu tập trung Bà Râu, K’Rôm, Ðồng Dày, Tầm Ngân.v.v...,Anh Dũng chúng lùa xuống khu tập trung Ðá Tang, Ma Nới, Trại Thịt, ú Tà Lam.
    Bộ máy lãnh đạo thu hẹp, đội ngũ cán bộ cốt cán bị xáo trộn. Ban cán sự điều một số cán bộ sang công tác Tỉnh khác, số bị bệnh chuyển ra sống hợp pháp, số bị địch bắt và số ra Bắc học. Về tổ chức mạng lưới giao liên có thay đổi: đồng chí Ðào Tấn Ðạt ra Bắc chữa bệnh, đồng chí Nguyễn Văn Trách (Biên) ở vùng 3 về thay. Cuối năm 1958, tỉnh điều đồng chí Biên về nắm tổ vũ trang, đồng chí Năm Nhỏ tức Nguyễn Mảnh ở vùng 3 về thay. Trạm Châu Ðát - đồng chí Hoàng (Siêng) cũng ra Bắc chữa bệnh. Ðối với cán bộ và giao liên vùng: một số đưa ra hợp pháp, một số bổ sung Trạm Tổng phát hành, riêng Tổ giao liên vùng 5 giao cho vùng 1. Ðầu mối liên lạc vùng 4 không còn. Thị xã Phan Rang – Tháp Chàm đặt hòm thư chết tại núi Cà Ðú móc nối với cơ sở bên trong (mỗi tháng có 2 chuyến thư).
Tháng 3-1958, Liên khu ủy 5 chỉ đạo tập trung xây dựng vùng dân tộc miền núi thành căn cứ cách mạng và xây dựng lực lượng vũ trang để bảo vệ căn cứ, bảo vệ cán bộ. Thực hiện chủ trương trên, huyện Bác Aựi tổ chức bộ phận liên lạc xuống các mé núi hướng dẫn đồng bào bảo vệ tài sản, bảo vệ sản xuất; bộ phận liên lạc khác xuống các đội công tác đang bám khu tập trung, vận động nhân dân chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng nổi dậy phá khu tập trung trở về rừng núi buôn làng. Dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy Bác ái, đêm 30 tháng chạp âm lịch (tức ngày 7-2-1959 dương lịch) đồng bào các nơi như: Bà Râu, Ruông Dân, Ðồng Dày... nhất tề nổi dậy phá banh khu tập trung bung về làng cũ Bác Aựi Ðông, tháng 4-1959 đồng bào khu Tầm Ngân phá khu tập trung trở về làng cũ Bác Aựi Tây.
    Vùng vẫy trước thất bại, Mỹ – Diệm liên tiếp đưa quân càn quét, bắn phá vùng căn cứ nhưng chúng không bắt được người dân nào, vì ta nhận định và chuẩn bị thế trận vững vàng. Tháng10-1959, địch điên cuồng huy động trên 1200 lính càn quét trên diện rộng, nhiều ngày để dồn dân xuống vùng đất bằng Tà Lú, Ma Ty, với mục đích dựng lại khu tập trung, củng cố, xây dựng con đường chiến lược từ Tân Mỹ (Quốc lộ 11) xuyên qua Tà Lú, Ma Ty đến Ba Ngòi (Quốc Lộ 1). Hơn một tháng càn quét, chúng chỉ dồn được số đồng bào lâu nay ở dưới đồng bằng (Trà Co, Tà Lú, Ma Ty) vào khu tập trung và xây đồn bót. Một mặt, chúng đóng đồn ở Ðầu Suối thuộc địa bàn xã Phước Chiến, nhằm khống chế việc liên lạc của ta với đồng bào dân tộc miền núi. Tuy nhiên, các trạm giao liên đóng trên địa bàn phối hợp các tổ liên lạc huyện, xã gắn với đồng bào miền núi tổ chức bố phòng:giăng bẫy, cắm chông, đào hố, cài đá nhọn.v.v..., bảo vệ được buôn làng, bảo vệ đường giao thông liên lạc.
    Cuối năm 1959, đồng chí Trần Lê – Bí thư Liên Tỉnh ủy 3 tiếp thu Nghị quyết 15 từ Trung ương về triệu tập Hội nghị mở rộng quán triệt Nghị quyết Trung ương. Hội nghị đề ra nhiệm vụ cho các tỉnh: Tiếp tục phát động nhân dân miền Tây các tỉnh nổi dậy phá khu tập trung còn lại, đưa đồng bào về buôn làng cũ, xây dựng, mở rộng vùng căn cứ cách mạng, khẩn trương phát triển lực lượng vũ trang, chuyển lên dùng bạo lực tấn công địch, đẩy mạnh đấu tranh chính trị lên song song với đấu tranh vũ trang, đưa cục diện chính trị chuyển sang giai đoạn phát triển mạnh, tạo thế và lực cho lực lượng vũ trang trên đà tấn công địch phá kìm, giành quyền làm chủ vùng nông thôn, đồng bằng. Trong Hội nghị này, Liên Tỉnh ủy 3 nhấn mạnh phải nhanh chóng củng cố, xây dựng đường hành lang Bắc – Nam và trong tỉnh.
Ðầu năm 1960, theo quyết định của Liên tỉnh 3, vùng dân tộc Bác Aựi tách ra khỏi Ninh Thuận cùng 2 huyện Khánh Sơn, Vĩnh Sơn của Khánh Hòa xây thành khu căn cứ ái Vĩnh Sơn . Cơ quan Tỉnh ủy chuyển qua đóng ở huyện Anh Dũng tại thôn Giá Trên. Mạng lưới giao liên cũng thay đổi theo tình hình mới, chặt chẽ hơn, bấy giờ có Trạm Tổng phát hành mang bí danh là X90 do đồng chí Thanh – trạm trưởng, gồm 5 chiến sĩ giao liên có nhiệm vụ làm trung tâm giao thông liên lạc, đưa đón cán bộ trong tỉnh và ngoài tỉnh. Lúc đầu Trạm đóng ở thôn Giá, sau chuyển về Là A huyện Anh Dũng. Dưới Trạm Tổng phát hành có các trạm giao liên huyện, thị xã và các trạm trực thuộc mang bí danh: X91, X93:
Phía Bắc tỉnh, Trạm X93 đóng ở Suối Khô, là Trạm trung tâm đầu mối có nhiệm vụ liên lạc với Trạm X90, Trạm Phước Hòa, Rắc Lây (Phước Bình) ra Gia Lễ lên B5.(Ðắc Lắc). Hướng thứ hai, Trạm X93 xuống vùng 1 liên lạc với Ðội công tác thị xã Phan Rang – Tháp Chàm và liên lạc với Bác Aựi Ðông. Riêng Bác Aựi Tây để liên lạc với X93 phải qua trạm trung chuyển ở Phước Hòa.
    Phía Nam tỉnh, từ Trạm X90 nối liên lạc với Bình Thuận qua trạm trung chuyển đóng ở Là A Trong, rồi vào Trạm Bá Ghe (Bắc Bình Thuận), xuống Trạm X91 - vùng 3. Từ Trạm X91 xuống Trạm vùng 2 phải qua điểm giao trực tại Eo Gió. Ðối với các xã, giao liên vùng đảm nhiệm và trực tiếp giao nhận với xã. Riêng giao liên huyện Anh Dũng đến giao nhận tại Trạm X90, đồng thời móc nối liên lạc xuống các Ðội, Mũi công tác đang bám trong các khu tập trung và nối liên lạc với Ðội công tác Lâm Viên.Có Nghị quyết 15, Trung ương chi viện cán bộ và vũ khí cho chiến trường miền Nam, nhưng đường hành lang chiến lược từ Trung ương vào đến đường 19 - Bắc Ðắc Lắc nằm kẹt ở Gia Lai Komtum và Bắc đường 21. Do đó, Liên Khu ủy V thành lập Ban chỉ đạo xoi đường qua Nam Tây Nguyên do đồng chí Vũ Anh Ba, Bí thư Tỉnh ủy Ðắc Lắc phụ trách, đồng thời Trung ương cử đoàn cán bộ 24 đồng chí phối hợp với địa phương xoi đường thông đến Ðông Nam Bộ. Sau khi đường giao thông của tỉnh được củng cố, tổ chức sắp xếp lại ổn định, Tỉnh ủy chỉ đạo huyện Anh Dũng khẩn trương chuẩn bị phối hợp tấn công địch bằng quân sự và vận động quần chúng nổi dậy phá các khu tập trung. Thực hiện chỉ thị của Tỉnh ủy, ngày 28-8-1960, lực lượng vũ trang của tỉnh tập kích đánh địch, hỗ trợ đồng bào nổi dậy phá các khu tập trung: Ðá Tang, Trại Thịt, Ma Nới, ú Tà Lam, nhân dân bung về núi xây dựng căn cứ, tăng gia sản xuất, bố phòng chống địch.
    Như vậy, đến tháng 9-1960, đồng bào dân tộc miền núi tỉnh Ninh Thuận được hoàn toàn giải phóng. Nhân dân nô nức đẩy mạnh sản xuất, bố phòng chống địch, thanh niên hăng hái tham gia lực lượng vũ trang, xây dựng buôn làng thành căn cứ vững chắc, xây dựng và bảo vệ đường hành lang Nam-Bắc...Phong trào Ðồng Khởi của cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ đánh bại chiến lược, "Chiến tranh đơn phương" của Mỹ, buộc chúng chuyển sang chiến lược "Chiến tranh đặc biệt". Ðây là chiến lược dùng người Việt đánh người Việt mà thực dân Pháp đã thất bại ở Việt Nam. Sau khi đánh giá tình hình Ðồng Khởi ở miền Nam, Bộ chính trị Trung ương Ðảng quyết định: "Ðẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị tấn công địch hai mặt chính trị và quân sự".
2. Ðường dây liên lạc hợp pháp :
    Sau Hiệp định Giơnevơ, Tỉnh ủy bố trí cán bộ vào họat động hợp pháp để xây dựng đường dây liên lạc phục vụ sự chỉ đạo của Ðảng với phong trào cách mạng của nhân dân trong thôn, ấp, thị trấn, thị xã, hệ giao liên hợp pháp là những cơ sở mật sống trong dân, đi trong dân nối liên lạc từ tỉnh đến cơ sở và ra ngoài tỉnh, hoạt động đơn tuyến do cán bộ chủ chốt mỗi Cấp ủy trực tiếp nắm, chỉ đạo. Lợi dụng lúc nội bộ địch mãi lo tranh giành, cắn xé lẫn nhau giữa tay sai Mỹ và tay sai Pháp, chưa kiểm soát được tình hình cách mạng trong nhân dân, ta bố trí một số cán bộ Thị ủy, Vùng ủy vào sống nửa hợp pháp trong dân để xây dựng lực lượng và chỉ đạo đấu tranh. Tỉnh ủy giao Thị ủy Phan Rang – Tháp Chàm bố trí trạm giao liên hợp pháp tại Tháp Chàm nối liên lạc với số cán bộ vùng 1, 2, 3 sống bán hợp pháp bên trong và liên lạc với bộ phận hợp pháp của Tỉnh ủy đặt tại Krông – Pha do đồng chí Châu phụ trách. Bộ phận này nối về cơ quan Tỉnh ủy qua Trạm Tổng phát hành đi theo đường dây không hợp pháp.
    Năm 1957, tình hình tổ chức Ðảng và cơ sở cách mạng liên tiếp bị bể vỡỷ, thế đứng bất hợp pháp gặp khó khăn. Liên Khu ủy V chủ trương chuyển hệ thống chỉ đạo bám sát dân, sát phong trào hoạt động dưới ba hình thức: hợp pháp, bất hợp pháp và nửa hợp pháp, nửa bất hợp pháp. Ðể chuẩn bị chổ ở và nơi làm việc cho anh em, Tỉnh ủy rút đồng chí Thống lên tỉnh khắc dấu làm chứng minh giả, đồng chí Diệp Xương lo việc chụp hình, bố trí cơ sở lấy mẫu dấu và chữ ký của ngụy quyền, chọn vợ chồng các đồng chí Hoành, Quật, Chương, là những cơ sở tin cậy vào Sài Gòn làm ăn, chuẩn bị chổ tiếp nhận người vào, đồng thời chuẩn bị kế hoạch đưa anh em ra khi cần thiết. Ðường dây liên lạc này họat động đưa cán bộ vào, ra thông suốt an toàn.
    Nhưng phương thức hoạt động này duy trì không lâu. Cuối năm 1957, Liên khu V đình chỉ việc đưa cán bộ ra hợp pháp và chủ trương xây dựng miền núi thành căn cứ địa vững chắc, xây dựng lực lượng vũ trang tự vệ, tiến hành bố phòng, diệt ác tạo đà chuyển phong trào cách mạng lên tình thế mới. Ðường dây liên lạc hợp pháp vẫn duy trì và được tổ chức gọn nhẹ, bí mật.
    Với hình thức liên lạc khôn khéo này, có lần đồng chí Lê Văn Hiền bí thư Tỉnh ủy được dân che chở vào sống bán hợp pháp tại thôn Dư Khánh để chỉ đạo nhân dân đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Giơnevơ nhân ngày 20-7-1954.
3. Giao thông liên lạc đường biển và thông tin vô tuyến điện :
    Sau tháng 8 năm 1954, cũng như các lực lượng khác ở cơ sở, cán bộ giao thông đường biển một số đi tập kết, số đông bố trí về sống trong các làng ven biển làm ăn, khi có việc cấp trên điều đi công tác hợp pháp dưới dạng thuyền buôn. Tỉnh giữ lại 2 đồng chí hoạt động bí mật đường biển là Ðặng Chí Thanh (Bính) và đồng chí Năng nằm trong tổ liên lạc đường biển của Liên tỉnh 3. Tổ này có nhiệm vụ liên lạc vào Bình Thuận ra Khánh Hòa.
    Thuyền ra khơi như những thuyền ngư dân đánh bắt hải sản, chủ yếu chuyển nhận công văn, tài liệu, thư từ, không hoạt động thường xuyên theo chuyến trực. Thuyền được gửi trong ngư dân, thủy thủ vào ẩn trong núi rừng ven biển (Sơn Hải, Vĩnh Hy), nhiều lúc không có lương thực phải ăn cây chuối, bắt đôi con thằn lằn ăn đỡ đói, tối đến mò xuống núi lấy nước, khi có công văn tài liệu mới cho thuyền ra khơi.
    Có chuyến vào liên lạc với Bình Thuận, trên thuyền 4 thủy thủ do đồng chí Ðặng Chí Thanh – Tiểu đội trưởng phụ trách. Thuyền xuất phát từ làng Sơn Hải, trên đường đi ghé vào Bực Lở –Vĩnh Hảo –Tuy Phong – Bình Thuận lấy nước ngọt. Theo sự phân công, đồng chí Thanh cùng một đồng chí chài lưới bắt cá chuẩn bị cho bữa ăn, 2 đồng chí khác lên bờ lấy nước, vừa đến nơi gặp bọn địch phục kích bao vây bắt sống, 2 đồng chí còn lại nhanh chóng đẩy thuyền chạy thoát dưới hàng chục cây súng của địch nhả đạn như mưa bấc. Càng về sau, địch phát hiện tuyến đường biển của ta, chúng cho lập nhiều đồn bót ven biển, tàu chiến, tàu tuần tiểu, máy bay thường xuyên giám sát chặt chẽ, việc liên lạc tuyến này ngày càng khó khăn, gay gắt. Cuộc đấu tranh giữa ta và địch ngày càng ác liệt, địch tăng cường kìm kẹp, khủng bố, cơ sở bị vỡ lở, điều kiện hoạt động hết sức khó khăn, nên giao thông hợp pháp đường biển chỉ tồn tại vài năm đầu, những năm sau không còn nữa.
    Năm 1960, sau khi có Nghị quyết 15, Liên tỉnh 3 bố trí đồng chí Ðặng Chí Thanh và đồng chí Năng ra miền Bắc dẫn đường đưa tàu theo đường mòn Hồ Chí Minh trên biển bí mật chi viện vũ khí cho Liên tỉnh 3 và các tỉnh miền Nam. Ðồng chí Thanh được bổ nhiệm chính trị viên trên con tàu Không Số và năm 1967 được Nhà nước phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam".
    Ðiện đài là bộ phận rất quan trọng, bảo đảm tính chính xác, kịp thời sự chỉ đạo và lãnh đạo thống nhất của Liên tỉnh ủy 3 đối với phong trào cách mạng các địa phương. Sau Hiệp định Giơnevơ, Tỉnh ủy giữ lại một Ðài, loại máy 694; một Ragonote phát điện (quay tay); một điện báo kiêm đài trưởng – Vũ Ðình Thịnh và đồng chí Long (My) cơ công; quay viên (quay Ragonote) chủ yếu sử dụng anh em bảo vệ cơ quan. Bộ phận điện đài luôn luôn bám sát Tỉnh ủy và Ðài đóng trong cơ quan Tỉnh ủy. Ðầu năm 1955, Liên tỉnh 3 điều đồng chí Huỳnh Ngọc Táng về làm đài trưởng thay cho đồng chí Vũ Ðình Thịnh và đồng chí Long đi tập kết, giữa tháng 6-1956, Ðài của Tỉnh ủy được nhập vào Ðài của Liên tỉnh 3, lúc này 2 cơ quan ở gần nên tỉnh không sử dụng đài vô tuyến điện. Cuối năm 1957, sau khi Liên tỉnh 3 chuyển ra Xóm Cỏ – Khánh Sơn – Khánh Hòa, Liên tỉnh 3 giao lại bộ máy 694 -15W, 1 Ragonote loại G 58 để Tỉnh ủy sử dụng, đồng chí Nguyễn Ðức Long đài trưởng kiêm báo vụ đóng trong cơ quan Tỉnh ủy ở vùng Giá, huyện Anh Dũng.
Xuất phát từ yêu cầu của nhiệm vụ và tính chất công việc hết sức hệ trọng, nên số báo vụ được Liên tỉnh 3 chọn ở lại phục vụ là những báo vụ giỏi, đảng viên có bề dày phục vụ nghề nghiệp trong chiến tranh, bố trí về các tỉnh hình thành mạng lưới liên lạc vô tuyến điện bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ðảng đối với phong trào cách mạng từng địa phương. Dù lúc bấy giờ hoạt động heo hút giữa rừng sâu, núi thảờm, điều kiện sống và làm việc thiếu thốn mọi bề, anh em điện đài vẫn một lòng một dạ vì sự nghiệp cách mạng miền Nam, vượt qua sự phong tỏa của địch, phát cánh sóng lên không trung nối thông sự liên lạc của Tỉnh ủy với cấp trên và các tỉnh bạn.
    Thông tin liên lạc Ninh Thuận trong những năm 1954-1960, nhất là sau khi có Nghị quyết 15 của Ban chấp hành Trung ương Ðảng, được sự phối hợp đồng bộ giữa các tỉnh Nam Trung Bộ, đường giao liên trong tỉnh cũng như đường giao liên từ tỉnh điự các nơi được tổ chức chặt chẽ hơn. Lực lượng giao liên và thông tin vô tuyến điện góp phần cùng với lực lượng vũ trang địa phương và đồng bào các dân tộc miền núi Bác Aựi, Anh Dũng nổi dậy đánh phá các khu tập trung đưa dân về lại đất cũ sinh sống. Ðể chuẩn bị bước vào cuộc đấu tranh mới, gian khổ, ác liệt hơn, theo chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban hành lang nhanh chóng tổ chức xây dựng các trạm giao liên mang những mật danh "X", đặt những nơi theo yêu cầu phục vụ chiến trường, ngoài việc đảm bảo thông tin liên lạc, đưa đón cán bộ còn phải chuẩn bị lực lượng sẵn sàng phối hợp với lực lượng vũ trang huyện, du kích xã đánh địch càn quét bảo vệ cán bộ, bảo vệ các cơ quan lãnh đạo tỉnh. Lực lượng giao liên và thông tin liên lạc là những tổ chức góp nhiềứu công sức về thông tin, liên lạc cho Cấp ủy lãnh đạo nhân dân chớp lấy thời cơ trong phong trào Ðồng Khởi và góp phần dấy lên phong trào đấu tranh bằng bạo lực chính trị–vũ trang giành thắng lợi, làm phá sản chiến lược "Chiến tranh đơn phương" của địch.
II - BẢO ĐẢM THÔNG SUỐT MẠCH MÁU GIAO LIÊN THÔNG TIN GÓP PHẦN PHỤC VỤ ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT CỦA ĐỊCH (1960 - 1965).
    Sau thất bại chiến lược "Chiến tranh không tuyên bố". Ngày 29-4-1961, Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ duyệt y bản "Chương trình hành động của Mỹ ở Việt Nam". Nhằm cứu vãn thất bại, giữa tháng 5-1961 Kenơdi quyết định đưa lực lượng cố vấn và lực lượng hỗ trợ chiến đấu vào miền Nam Việt Nam, đồng thời tiến hành phá hoại miền Bắc. Ðây là quyết định cơ bản trong chuyển hướng chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam.Kế hoạch chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" gồm 3 bước :
Bước 1 : Bình định miền Nam trong 18 tháng, kết thúc vào cuối năm 1962.
Bước 2 : Phục hồi kinh tế miền Nam, hoàn thiện công cuộc bình định và tiếp tục tăng cường quân lực.
Bước 3 : Phát triển kinh tế, ổn định miền Nam Việt Nam.
Trong các bước trên, bước 1 có tầm quan trọng bậc nhất.
Với chiếc gậy Mỹ, Diệm gấp rút tăng cường đôn quân bắt lính, xây dựng đồn bót, củng cố ngụy quyền các cấp, mở rộng chiến tranh ra các vùng tranh chấp, đánh sâu vào vùng căn cứ núi rừng. Mỹ tăng cố vấn và lực lượng hỗ trợ chiến đấu. Ðối phó với chiến tranh du kích, chúng khẩn trương tiến hành kiểm soát gắt gao, phong tỏa vùng biển, càn quét đánh phá các tuyến hành lang miền núi và biên giới nhằm ngăn chặn việc chi viện từ miền Bắc vào, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động phá hoại miền Bắc.
    Về quân sự, với đạo quân Ngụy, chỉ huy Mỹ, vũ khí Mỹ và các chiến thuật "Trực thăng vận", "Thiết xa vận", chúng vừa tăng quân chủ lực, vừa tăng lực lượng bảo an và dân vệ phối hợp với bọn tề vệ, đại diện xã, bình định nông thôn, mật thám, chỉ điểm đối phó kịp thời tại chỗ với quân du kích ta đang lớn mạnh sau Ðồng Khởi. Cùng với việc càn quét, Mỹ – Diệm tiến hành bình định lập "ấp chiến lược" có hàng rào và giao thông hào che chắn, lùa dân vùng tranh chấp, vùng ven rừng núi vào sống trong khu tập trung dưới sự kiểm soát gắt gao của bọn tề vệ, liên gia. Chúng coi đây là một quốc sách nhằm tiêu diệt cách mạng ở cơ sở hạ tầng, xiết chặt ách kèm kẹp quần chúng, cách ly phong trào cách mạng với nhân dân, dã man hơn là chúng sử dụng chất độc hóa học để phát quang vùng căn cứ cách mạng, các tuyến hành lang, vùng nương rẫy, buôn làng đồng bào dân tộc làm ăn sinh sống.
    Mỹ - Diệm đỗ vào nhiều tiền của, vũ khí hiện đại, lực lượng tinh nhuệ cũng không cứu vãn được tình thế trước sức lớn mạnh của cách mạng miền Nam. Cuối năm 1962, kế hoạch bình định 18 tháng không thực hiện được, buộc Mỹ phải kéo dài thời gian bình định miền Nam trong hai năm (1963-1964) và hoàn tất năm 1965. Ðược Mỹ tăng thêm viện trợ, phương tiện chiến tranh đủ loại quân lực, chính quyền Diệm ráo riết bắt lính tăng ngụy quân hơn nữa triệu (vào năm 1964), hơn 2 vạn quân Mỹ cũng tăng vào thời gian này. Với đạo quân lớn, chúng tổ chức nhiều cuộc càn quét, diện đánh phá rộng, tăng cường đánh phá miền Bắc.
    Trước đà tiến công cả về quân sự và chính trị của cách mạng miền Nam, giữa năm 1965 lực lượng ngụy quân tỏ ra bất lực. Nhằm trấn an tinh thần binh lính đang suy sụp, Mỹ âm mưu thay ngựa giữa dòng bằng nhiều cuộc đảo chánh thay chính phủ, nhưng chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" vẫn đứng trước nguy cơ thất bại. Mỹ đang trong thế lựa chọn hoặc rút lui hoặc thay đổi chiến lược, đưa cuộc chiến tranh lên bước leo thang mới.
    Về phía ta, sau phong trào Ðồng Khởi, tháng 1-1961 Bộ Chính trị Trung ương Ðảng đánh giá tình hình miền Nam trong thời kỳ mới và khẳng định: "Thời kỳ tạm ổn của chế độ Mỹ – Diệm đã qua và thời kỳ khủng hoảng liên tiếp, suy sụp nghiêm trọng của nó đã bắt đầu" và quyết định "Ðẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tiến công địch cả hai mặt chính trị và quân sự". Tháng 2-1961, Hội nghị Liên Khu ủy V đề ra nhiệm vụ "Làm chủ rừng núi, củng cố và xây dựng căn cứ địa cách mạng, giành lại đồng bằng, tiêu diệt sinh lực địch. Phương châm đấu tranh ở ba vùng: vùng căn cứ rừng núi đấu tranh vũ trang là chủ yếu; vùng đồng bằng đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang có thể ngang nhau; vùng đô thị đấu tranh chính trị là chủ yếu".
Triển khai Nghị quyết của Trung ương và Liên Khu ủy V, tháng 3-1961 Liên tỉnh 3 mở Hội nghị tại Xóm Cỏ – Khánh Hòa. Ðối với tình hình của Ninh Thuận, Liên tỉnh 3 chỉ đạo : Ninh Thuận tranh thủ thời gian địch đang lo củng cố, ta vừa thắng lớn ở Bác Aựi, Anh Dũng (phá khu tập trung) và một số nơi, phát huy kết quả đánh thắng địch bằng phương châm kết hợp đấu tranh chính trị với vũ trang.
Thời kỳ này, cùng với quân và dân trong tỉnh quán triệt sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, các lực lượng giao thông liên lạc Ninh Thuận hăng hái bước vào cuộc chiến đấu mới.
1. Giao thông liên lạc đường bộ :
    Ðể đẩy mạnh việc vận dụng phương châm bạo lực chính trị–vũ trang vào tình hình cụ thể ở địa phương, một trong những công tác cấp bách mà Tỉnh ủy rất quan tâm là tăng cường việc củng cố tổ chức và xây dựng phát triển mạng lưới giao thông liên lạc đảm bảo đưa đón, tiếp nhận thông suốt sự chỉ đạo và chi viện từ miền Bắc vào. Hơn nữa, cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước của quân và dân miền Nam đã chuyển sang giai đọan mới nhiều gian khổ ác liệt hơn. Yêu cầu của chiến trường là vũ khí đạn dược, lương thực thực phẩm, thuốc men phải chuyển tải lớn hơn, nhanh hơn. Ðường dây liên lạc thông suốt các huyện, thị xã, các lực lượng vũ trang, các mảng công tác và các cơ quan ban ngành xung quanh tỉnh phải được mở rộng tuyến, tăng chuyến thư.
    Giữa năm 1961, Tỉnh ủy quyết định thành lập Ban hành lang chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy gồm ba đồng chí: Giang, Cửu và Tự phụ trách chung, sau đó bổ sung thêm 2 ủy viên: đồng chí Nguyễn Sở, Ha Ra tức Nguyễn Thanh Xuân (Năm 1969 đồng chí Tự được rút về làm ủy viên Ban Hành lang khu, đồng chí Nguyễn Thanh Xuân lên thay). Quân số Ban Hành lang gồm 50 đồng chí, trong đó có 5 nữ và thành lập một chi bộ Ðảng, 5 đảng viên có nhiệm vụ củng cố, xây dựng và phát triển các tuyến hành lang, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ giao liên phục vụ nhanh chóng, kịp thời sự lãnh đạo và chỉ đạo của Tỉnh ủy trong việc xây dựng vùng căn cứ miền núi, mở rộng phong trào đấu tranh ở đồng bằng. Về cơ cấu tổ chức, Ban Hành lang tỉnh có văn phòng Ban gồm các tổ: văn thư lưu trữ, nghiệp vụ bưu chính, y tế, bảo vệ và bộ phận sản xuất, làm các công việc theo dõi quản lý nghiệp vu bưu chính, đường thư, sản xuất lương thực.
    Bên cạnh văn phòng có đội hỏa tốc. Dưới Ban có Trạm Tổng phát hành đóng chung với cơ quan Ban, dưới Trạm Tổng phát hành có nhiều trạm trực thuộc để liên lạc với các tỉnh Lâm Viên, Bình Thuận, Khánh Hòa. Các trạm trong tỉnh đóng theo Huyện, Thị ủy, các cơ quan ban ngành, Tỉnh đội để móc nối liên lạc với Trạm Tổng phát hành. Ban Hành lang tỉnh còn chịu sự chỉ đạo về công tác chuyên môn của Ban Hành lang khu VI được thành lập vào tháng 7-1961 do đồng chí Vũ Anh Ba ủy viên thường vụ Khu ủy làm trưởng Ban. Triển khai nghị quyết của Tỉnh ủy, hai huyện Bác Aựi, Anh Dũng đẩy mạnh công tác bố phòng, các trạm giao liên đóng trên địa bàn tổ chức phối hợp với lực lượng vũ trang, dân quân du kích bẻ gãy nhiều trận càn quét của địch vào căn cứ như: trận càn tháng 4-1961 vào xã Phước Bình, hai trận càn vào suối Rua xã Phước Chính, Phước Ðại (tháng 6-1964), đặc biệt địch sử dụng một trung đoàn quân ngụy, cố vấn Mỹ chỉ huy, phối hợp với pháo binh yểm trợ, máy bay dọn đường. Các trạm X90, X92, X93, Phước Hòa, Phước Bình, Tô Hạp nằm trong vùng càn quét của địch. Cùng với dân quân du kích, chiến sĩ giao liên tham gia bố phòng và chiến đấu chống địch bảo vệ căn cứ, bảo vệ đường hành lang, đồng thời bảo đảm phục vụ sự chỉ đạo của Tỉnh ủy xuống các huyện, vùng có địch càn quét. Thời điểm này, miền Bắc tăng cường chi viện cán bộ, vũ khí, thuốc men cho các tỉnh Cực Nam với số lượng lớn, trong lúc ở tỉnh địch càn quét liên miên. Mặc dù vậy, trên trục giao liên vẫn bảo đảm đưa nhiều đoàn cán bộ và đoàn vận tải vũ khí qua lại an toàn.
    Cùng với việc củng cố, xây dựng, bảo vệ vùng căn cứ, Tỉnh ủy quyết định tăng cường lực lượng vũ trang địa phương xuống bám sát đồng bằng, hỗ trợ nhân dân nổi dậy diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ vùng nông thôn. Trước hết, Liên Tỉnh ủy 3 tăng cường đơn vị 120 xuống vùng 1, phối hợp với lực lượng chính trị, vũ trang tại chỗ hỗ trợ liên tục tấn công địch, quần chúng nổi dậy diệt ác, phá kìm giành quyền làm chủ, phá lỏng bộ máy tề điệp, trong đó nhiều nơi ta làm chủ hoàn toàn: Mỹ Tường, Phương Cựu, Xóm Bằng, Vĩnh Hy, Thái An... Trực tiếp với Ban Hành lang là Trạm Tổng phát hành mang ký hiệu X90 cơ động đóng ở Là A – Giá Hà Dài huyện Anh Dũng. Trạm X 90 là đầu mối giao thông liên lạc của tỉnh có nhiệm vụ giữ vững liên lạc với các hướng. Do đặc tính thời cuộc lúc bấy giờ, phong trào cách mạng trong tỉnh ngày càng phát triển rộng khắp, nên năm 1962 Ngành Hành lang đặt thêm Trạm X92, năm 1964 đặt Trạm X94, năm 1965 đặt Trạm An Phước. Theo hoạch định của Ban hành lang tỉnh, các trạm tổ chức tuyến liên lạc gồm các hướng :- Từ năm 1961 đến cuối năm 1963, khu VI đóng ở Ðầm Ròn, thì đường giao liên từ tỉnh ra khu VI phải theo đường từ Bác ái ra Gia Lễ , Tà Gộc – Vĩnh Sơn, lên vùng 5 – Nam Ðắc Lắc. Ðầu năm 1964, khu VI chuyển vào đóng giữa Lâm Ðồng và Phước Long, đường giao liên phải đi từ Anh Dũng vào Bình Thuận lên Lâm Ðồng gặp B’Salao Siêng mới liên lạc với khu VI.- Tuyến phía Bắc tỉnh, bắt đầu từ Trạm X90 theo trục đường giao liên đến Trạm trung chuyển X93, địa điểm giao trực giữa 2 trạm là thôn Rồ Ôn huyện Anh Dũng. Từ đây, Trạm X93 nối liên lạc với: vùng 1, vùng 4 , vùng 5, thị xã và Bác ái.- Ðối với các vùng, huyện, thị, xã giao trực chủ yếu sử dụng cán bộ giao liên không chuyên trách. Theo định kỳ, dù có văn thư hay không, mỗi vùng, huyện, thị, xã cử người đi nối trực tiếp với Trạm X93. Việc liên lạc giữa hai Trạm X93 với X90 đi qua cung đoạn quá dài, giao liên phải xuyên qua Quốc lộ 11 và đường sắt Phan Rang – Ðà lạt đầy khó khăn, nguy hiểm nên đầu năm 1962 Ban Hành lang đặt thêm Trạm X92, đóng ở Kiểu, do Phạm Xuân Thạch làm trạm trưởng, sau đó anh á thay, có nhiệm vụ trung chuyển giữa X90 và X93. Tuy nhiên, việc liên lạc giữa X92 và X93 vẫn cách xa nhau và qua nhiều sông suối, nên Ban Hành lang đặt thêm trạm trung chuyển đóng ở ú Tà Lam, do anh Thống trạm trưởng, anh  trạm phó. Trạm X92ự còn có nhiệm vụ nối liên lạc với Khánh Hòa. Cũng giai đoạn này, từ X93 đi vùng 1 rất xa, năm 1964 Ban Hành lang cho lập thêm Trạm X94 tại xã Phước Kháng, do anh Sáu Một trạm phó Trạm X93 được bổ nhiệm làm trạm trưởng, có thời gian anh Thật làm trạm trưởng. Từ Trạm X94 đến vùng 1 giao trực tại điểm dưới đường Quốc lộ 1A. Trạm giao liên vùng 1 phải bảo đảm liên lạc giữa Vùng ủy với các thôn, xã. Từ vùng 1, giao liên xuống các ấp, vùng căn cứ miền núi (Cầu Gãy, Ðá Hang), đến Ðội công tác Vĩnh Hy, Thái An, Mỹ Hòa, Mỹ Tường, Khánh Nhơn 3, Phương Cựu, Tri Thủy và qua Ðội công tác vùng 5 đóng tại Cà Ðú.
Ngoài ra, Trạm X93 còn liên lạc với hai đội công tác của thị xã Phan Rang – Tháp Chàm: Một đội đóng ở vùng 4, do đồng chí Thiện phụ trách, một đội đóng ở Cà Ðú, do đồng chí Giang phụ trách. Ðồng chí Giang là cán bộ của Ban Hành lang điều về tăng cường cho Ðội công tác Phan Rang.
    X93 là Trạm giao liên hoạt động suốt cả thời kỳ chống Mỹ. ở đây, chiến sĩ giao liên phải trãi qua vô vàn gian khổ, ác liệt, không những chịu đựng sự đói khát, rách rưới mà cái chết đối với họ như đường tơ, kẻ tóc. Cái gian khổ, ác liệt được xác định qua từng chuyến thư phải giáp mặt với quân thù trên các tuyến xuyên Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc – Nam. Cái gian khổ khắc nghiệt ở đây là đường giao liên vượt qua những con sông nguy hiểm bởi dòng nước cứ cuồn cuộn chảy xiết vào mùa mưa, như muốn cuốn trôi tất cả những ai lội qua. Hễ mùa mưa đến, giao liên thường xuyên vật lộn với mưa nguồn, nước lũ trên sông Trà Co, sông Cái, sông Ông. Trạm X93 là đường giao liên huyết mạch nối liền giữa hai mảng Bắc – Nam, Quốc lộ 11, tạo hành lang vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược để bộ đội ta tập kích các cứ điểm địch như sân bay Thành Sơn...chính vì thế, địch luôn luôn tìm cách ngăn chặn, đánh phá. Ðể đối phó với điùch trên đường giao liên này, ta phải thường xuyên thay đổi 2 phương án: thứự nhất đi bằng đường trên qua cây số 36, đoạn này vượt sông Ông rất gần nhưng cũng đầy nguy hiểm. Nhiều đêm nếu không quét đèn pha từ Krông – Pha xuống thì địch dùng trực thăng quầng đảo pha đèn sáng rực dọc Quốc lộ 11, nhất là những đoạn nghi vấn ta hay qua lại. Có đêm trời đổ mưa gặp trực thăng nổ phành phạch trên đầu hỗ trợ cho biệt kích dưới đất, các chiến sĩ giao liên phải trùm nilon ém mình trong bụi rậm, quần áo, bồng hàng, báng súng bê bết bùn đất. Thứ hai đi qua đường Chó Mo – Bến Thuận Giang tức giữa Ðồng Mé và Tân Mỹ đến làng Do huyện Anh Dũng, đoạn này địch phát quang không còn bụi rậm, nên cũng nguy hiểm không kém. Nhiều cán bộ chiến sĩ giao liên trên trục giao thông này anh dũng hiến dâng tuổi trẻ cho Tổ Quốc, trong đó có các đồng chí: Ðương, Theo, Chiến, Ðoan, Ðông, Hai, Kiểu, Nữ đồng chí Kính và đồng chí Ðừng người dân tộc Bác Aựi...
    Trạm X94 có nhiệm vụ tổ chức liên lạc vơí các xã trong huyện Thuận Bắc (vùng 1 cũ), tổ giao liên gồm các đồng chí: Thống, Cử, Cảnh trong cơ quan Huyện ủy do Huyện ủy trực tiếp chỉ đạo. Trên đường hành lang khó khăn nguy hiểm nhất vẫn là mũi công tác Văn Sơn, cán bộ xã đóng ở Cà Ðú. Muốn liên lạc với đội công tác, giao liên phải vượt qua đầm nước Phương Cựu vô cùng nguy hiểm. Nơi đây là vùng địch tạm chiếm, chủ yếu giao liên phải vượt đầm vào đêm khuya bằng phương tiện thúng chai (loại thúng đan bằng tre, trét dầu rái) của nhân dân trong vùng, có lúc lội bơi qua đầm. Ðoạn này càng gian khổ ác liệt hơn từ khi địch xây dựng sân bay Thành Sơn và cảng dầu Ninh Chữ (tháng 8-1965), chúng lập các đồn bót dọc trên Quốc lộ 1 sát chân núi Cà Ðú, dùng quân Nam Hàn bảo vệ sân bay, khống chế đường giao liên của ta. Trên tuyến giao thông này nhiều chiến sĩ giao liên anh dũng ngã xuống như: đồng chí Nam, Cử, Ðược, Thạch, Viễn...
    Tuyến liên lạc phía Nam tỉnh, đi từ Trạm X90 theo trục giao liên xuống Trạm X95 đóng ở Thuận Nam (vùng 2 cũ), do Huyện đội quản lý, hai trạm hẹn giao trực tại một điểm nằm giữa 2 đầu, nhưng Trạm X95 muốn đến điểm giao trực phải vượt qua hai giao lộ: Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc – Nam. Trạm trưởng Trạm X95 từ năm 1958-1961 là đồng chí Ta, năm 1962-1969 là đồng chí Tú. Trạm X90 liên lạc với giao liên của huyện An Phước (thành lập năm 1965) qua Trạm trung chuyển X91 (vùng 3). Trạm X91 có nhiệm vụ liên lạc xuống vùng 2, điểm giao trực giữa 2 trạm đặt tại Eo gió. Sau đó, phong trào phát triển mạnh, đòi hỏi việc giao thông liên lạc phải nhanh chóng, kịp thời, Ban Hành lang đặt thêm trạm ở giếng Cây Cau làm nhiệm vụ liên lạc với Vùng ủy đóng ở CK35. Trạm thuộc Vùng ủy liên lạc xuống các đội công tác Sơn Hải, Vĩnh Trường, Từ Thiện, xã Thuận Diêm. Các Ðội, Mũi công tác núi Chà Bang liên lạc với Trạm Giếng Cây Cau, nhưng có "hỏa tốc" thì đi thẳng về trạm của Vùng ủy. Ngoài ra, Trạm vùng 3 liên lạc với các Ðội, Mũi công tác Ðá Trắng, Hoài Trung, Thuận Dân, Thuận Thành. Ðể vào được Bình Thuận, Trạm X90 nối liên lạc với Trạm Anh á đóng gần bờ sông (vùng Cha Vơ), từ đây qua Tà Nôi lên Nhau, Karơlú vào đầu suối Kálm giáp Bắc Bình Thuận.
Những năm 1961-1963, nằm trong thế tiến công chung của cách mạng miền Nam, chiến trường Ninh Thuận có bước chuyển biến đáng mừng: phong trào diệt ác phá kèm, giành quyền làm chủ, cơ sở phát triển sâu rộng, nhiều thôn ấp được giải phóng. Ðể đối phó với tình hình trên, địch tăng cường càn quét, đánh phá căn cứ cách mạng, đưa quân đi phục kích đánh phá lực lượng ta, mặt khác bao vây, phong tỏa đường hành lang, nhất là con đường Bắực – Nam ta mới xoi thông, nhằm cắt đứt mạch máu giao thông từ Bắc vào Nam, từ Trung ương Cục xuống các miền, từ khu xuống các tỉnh, phong tỏa kinh tế, vũ khí, đạn dược miền Bắc chi viện cho miền Nam và các tỉnh Cực Nam Trung Bộ, gây cho ta không ít khó khăn trên các tuyến hành lang. Nạn thiếu đói kéo dài là thời gian này, bữa ăn của chiến sĩ giao liên không phải là cơm, là bắp hay củ sắn nữa mà thay vào đó là măng tre, rau tàu bay, củ nầng, chuối luộc... Nhưng nỗi khổ, gian nan nhất vẫn là nạn thiếu muối.
    Năm 1964-1965, trước khí thế tấn công mạnh mẽ của quân và dân ta đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ. Ngày 10-4-1965, tại kỳ họp Quốc Hội khóa 3, Chủ Tịch Hồ Chí Minh tuyên bố "Dù địch đưa thêm mấy chục vạn binh sĩ Mỹ và cố lôi kéo thêm quân đội các nước chư hầu vào cuộc chiến tranh tội ác này thì quân ta cũng đánh bại chúng". Chính quyền Sài Gòn đang đứng trước nguy cơ sụp đổ, đế quốc Mỹ nhanh chóng thay đổi chiến lược chiến tranh. Nhằm xoay chuyển tình thế, chúng tăng cường cảnh sát dã chiến, cảnh sát tài nguyên, cảnh sát đặc biệt..., cài vào từng khu vực phố, phường, thôn, ấp vùng chúng kiểm soát. Tháng 5-1965, địch bắt đầu xây dựng sân bay Thành Sơn và cảng Ninh Chữ. Ngày 24-8-1965, chúng đưa đến Ninh Thuận 900 lính kỹ thuật và lính chiến đấu thuộc sư đoàn "Tia chớp nhiệt đới". Ðầu tháng 12-1965, chúng đưa thêm 800 lính thuộc lữ đoàn dù 101 đến xây dựng, bảo vệ sân bay Thành Sơn và ống dẫn dầu từ cảng Ninh Chữ về sân bay.
    Song với tinh thần vượt khó khăn thử thách, chiến đấu anh dũng, đội ngũ giao liên Ninh Thuận vẫn kiên trì bám trụ các tuyến liên lạc giáp ranh đồng bằng; giữ vững đường hành lang miền núi, kịp thời phục vụ Tỉnh ủy chỉ đạo, nâng cao phong trào cách mạng ở địa phương lên một bước mới ngang tầm với cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước. Ðịch chốt chặn tuyến giao liên này anh em ta mở thông tuyến giao liên mới, những đọan ban ngày đi không được thì tổ chức đi đêm, những điểm đi thẳng không được thì tìm cách đi vòng để gặp nhau. Có tuyến đường, lẽ ra chỉ đi nữa ngày đến điểm trực, nhưng địch càn quét, chốt chặn, nên giao liên phải đi vòng mất một, hai ngày mới đến điểm giao trực. Gian khổ ác liệt là vậy, nhưng giao liên vẫn đảm bảo "khách" qua lại an toàn, công văn, thư từ, hàng chiến lược không bị ứ đọng.
    Với những thành tích trên, lực lượng giao liên đã góp phần tạo thuận lợi cho lực lượng vũ trang ta liên tục tấn công địch ở các vùng đồng bằng, nông thôn (trọng điểm là phía Nam tỉnh) làm rối động hàng ngũ địch. Ta càng đánh, địch càng dao động. Từ giữa năm 1965 trở đi, mức độ hoạt động của địch giảm sút dần (không đủ sức đánh phá lớn), chủ yếu củng cố, phòng thủ và hoạt động nhỏ, lẻ. Bộ máy tề vệ xã, ấp lần lượt tan rã, lực lượng quân ngụy bắt đầu đào ngũ từng bộ phận.
2. Ðường dây liên lạc hợp pháp :
    Nghị quyết 15 của Trung ương Ðảng là đường lối cách mạng sáng suốt thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị của cách mạng miền Nam lên song song với đấu tranh vũ trang. Phong trào diệt ác ôn, phá tề điệp được phát động sâu rộng trong thôn ấp. Phối hợp với lực lượng bên ngoài đột ấp diệt tề, các tổ công tác mật hoạt động bên trong trừ khử những tên có nợ máu với nhân dân, cảnh cáo bằng truyền đơn với những tên chưa đáng tội chết. Thông qua hình thức đấu tranh mới, Cấp ủy địa phương chú trọng xây dựng cơ sở cốt cán, tổ chức các phong trào đoàn thể quần chúng thanh niên, hội phụ nữ, tổ binh vận ..., qua đó vận động thanh niên thoát ly tham gia kháng chiến, vận động binh lính địch bỏ ngũ.
Tuy tuyến giao liên hợp pháp được xây dựng ở nhiều nơi, nhiều cơ sở, nhưng để liên lạc với cấp lãnh đạo, chỉ đạo từ bên ngoài vào qua đường dây không hợp pháp, ta chú ý tập trung một vài đầu mối cốt cán tin cậy. Hầu hết cơ sở bên trong đều hoạt động đơn tuyến, không ai biết ai. Khi cần, tập hợp một vài cơ sở ra địa điểm núi rừng phổ biến chủ trương, chính sách, tất cả đều được che mặt nhằm tuyệt đối giữ bí mật cho nhau. Họ là những đầu mối giao thông liên lạc, có mặt khắp nới, trong vùng địch kiểm soát, ngay cả những trung tâm chính trị, quân sự của địch, khiến địch hết sức đau đầu. Nhờ vậy, ta nắm được mọi âm mưu, hoạt động của ngụy quân, ngụy quyền, trên cơ sở đó đề ra chủ trương đối phó, hoặc tấn công địch giành thế chủ động.
    Một yêu cầu hết sức quan trọng đối với người làm nhiệm vụ nối liên lạc giữa Ðảng với nhân dân trong vùng địch chiếm đóng là lập trường kiên định, ý thức tổ chức, kỷ luật rất cao, trí thông minh, linh hoạt đối phó mọi tình huống xảy ra, kể cả trường hợp bị rơi vào tay giặc, tù đày, tra tấn dã man...ở Ninh Thuận, tuyến giao liên hợp pháp hoạt động trong lòng địch có nhiều tấm gương sáng điển hình như: chị Hoành vợ anh Bấc ở Sơn Hải, ông Bảy Sói ở Ðô Vinh, các anh Bửu, Quyết, Diệp Xương nguời Hoa ở Phan Rang… còn có má Sửu ở Hoài Trung, má Bảy Xiết ở Phú Quý, má Phiến trong lòng thị xã. Người thì dựng chòi, phát rẫy ngoài rừng tạo thế đào hầm để cán bộ ta bám trụ; có người cắn răng chịu đòn tra tấn của địch để bảo vệ cán bộ đang ở trong nhà; rất nhiều má động viên chồng, con làm liên lạc, nắm tình hình và vận động người giàu có bán bớt ruộng, vườn gởi tiền ủng hộ cách mạng. Nhưng nổi bật hơn cả phải kể đến tấm gương kiên trung của chị Nguyễn Thị Chạ, bí danh Bình Minh, người xã Thuận Tâm nay là xã Phước Hải huyện Ninh Phước. Năm 1955 khi tuổi tròn 16, thời điểm đẹp nhất đời người con gái và cũng là lúc chị bước vào cuộc đời cách mạng và trở thành cơ sở tin cậy của Cấp ủy xã Thuận Tâm nhận lãnh nhiệm vụ làm đầu mối liên lạc giữa các cơ sở xã bên trong với Cấp ủy Ðảng xã bên ngoài. Chị tổ chức móc nối liên lạc bằng nhiều phương pháp: giao thư trực tiếp với cán bộ tại điểm hẹn hoặc đặt hộùp thư, vận động binh lính bỏ ngũ, vận động quần chúng ủng hộ tiền bạc, lương thực (gạo), thuốc men..., rồi gom lại và chuyển đến chôn tại điểm hẹn, xây dựng phát triển cơ sở nội tuyến... Quá trình hoạt động, Chị xây dựng nhiều cơ sở cách mạng, thông tin tình hình địch để ta tổ chức tập kích đồn bót địch, vận động giác ngộ nhiều gia đình cảm tình cách mạng. Chẳng may có tên chiêu hồi khai báo, tháng 2-1960 đến ngày lấy thư theo lịch hẹn, hộp thư đặt ở mé rẫy. Tại đây, địch phục sẵn và bắt Chị cùng một đồng chí cán bộ xã. Bị bắt trong điều kiện đầy đủ tang vật, chứng cứ nên chúng tra tấn Chị vô cùng dã man: đưa roi trắc vào cửa mình, đỗ nước xà phòng vào mồm cho bụng căng chướng, rồi lót ván lên đạp cho vọt nước và máu tràn ra ngoài, dí điện vào người, cho đi "tàu bay", "tàu thủy"(1). Ðịch dùng nhiều cực hình tra tấn nhưng không khuất phục được ý chí kiên cường, bất khuất của người con gái kiên trung. Chúng chuyển qua thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ đánh sâu vào tâm lý người con gái vừa tròn tuổi18, đôi mươi: đưa vật chất cám dỗ, dùng tình cảm nhằm lung lạc ý chí chiến đấu, khai thác số cơ sở đang hoạt động và những tài liệu mật chị cất dấu chưa kịp triển khai. Cuối cùng cả một đội quân tay sai với nhiều loại hung khí tra tấn dã man phải khuất phục người Con Gái nông dân bình thường mà vô cùng anh dũng. Sau khi tra tấn không moi móc được điều gì, chúng đem Chị giam vào xà lim (nhà lao Phan