|
I.GIỚI
THIỆU VỀ CÁ RÔ PHI ĐƠN TÍNH
Cá rô phi là loài cá dễ
nuôi, lớn nhanh sau 4-5 tháng nuôi nếu được cho ăn đầy đủ sẽ đạt trọng
lượng 0,4-0,6kg/con. Chúng sử dụng được hầu hết các loại thức ăn tự
nhiên, các mùn bã hữu cơ, các Ditrit trong môi trường ao nuôi. Do đó
nếu được nuôi trong ao, cá rô phí vừa có tác dụng tiêu diệt các loại
động vật nhỏ mang mần bệnh vừa có tác dụng làm sạch môi trường và cho
sản phẩm có giá trị .
Gần đây cá đại phương có
nghề nuôi cá trong
cả
nước đã đưa đối tượng cá rô phi vằn O.niloticus đã được chuyển hoá
giới tính (cá rô phi đơn tính đực ) vào nuôi luân canh, xen vủtong ao
nuôi tôm và bước đầu chứng tỏ có hiệu quả cao. Thực hiện chủ trương
của Ngành thuỷ sản Ninh thuận từng bước đưa đối tượng cá rô phi đơn
tính vào nuôi trong ao nuôi tôm, nhằm thay thế con tôm trong cá vụ phụ
và theo yêu cầu của bà con nuôi tôm địa phương. chúng tôi soạn thảo kỹ
thuật nuôi cá rô phi giúp bà con có điều kiện tham khảo những kiến
thức cơ bản về đối tượng này, trên cơ sở đó vận dụng vào thực tế ao
nuôi của mình có hiệu quả.
Tài liệu chắn chắn không
tránh khỏi những sai sót, kính mong bà con, các đồng nghiệp đóng góp
nhiều ý kiến bổ sung để tài liệu được hoàn chỉnh hơn.
II. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CỦA CÁ RÔ PHI
1. Đặc điểm phân
loại:
Dựa vào đặc điểm sinh
sản, người ta chia cá rô phi thành 3 giống là Tilapia ( cá đẻ cần giá
thể ), Sarotherodon ( Cá bố hay cá mẹ ấp trứng trong miệng ). Cá rô và
Oreochromis (cá mẹ ấp trứng trong miệng). Cá rô phi hiện đang nuôi phổ
biến ở Việt Nam thuộc :
Bộ cá vược PerciForms
Họ
Cichlidae
Giống
Oreochromis
Loài Cá
rô phi vằn O.niloticus.
Hiện nay có 3 loài
chính được phổ biến tại Việt Nam là :
-
Cá rô phi cỏ Oreochromis Mossambicus, được nhập vào Việt Nam
năm
1953 qua ngã Thái Lan.
-
Cá rô phi văn ( Rô phi Đài Loan O.niloticus ) được nhập vào
Việt Nam năm
1974 từ Đài Loan.
-
Cá rô phi đỏ ( red Tilapia ), có màu hồng được nhập vào Việt
Nam năm 1985 từ Maliaxia.
2. Đặc điểm về hình
thái:
Cá rô có thân hình mùa
hơi tím, vảy sáng bóng, có 9-12 sọc đậm song song nhau từ
lưng xuống bụng. Vi đuôi
có màu sọc đen sậm song song từ phía trên xuống phía dưới và phân bổ
khắp vi đuôi. Vi lưng có những sóc trắng chạy song song trên nền
xám đen. Viền vi lưng và vi đuôi có màu hồng
nhạt.
3. Các đặc điểm phân
biệt cá đực, cá cái:
|
ĐẶC ĐIỂM
PHÂN BIỆT
|
CÁ ĐỰC
|
CÁ CÁI
|
|
Đầu
|
To và nhô cao
|
Nhỏ, hàm dưới trề do
ngậm trứng và con
|
|
Màu sắc
|
Vi lưng và vi đuôi
sặc sỡ
|
Màu nhạt hơn
|
|
Lỗ niệu sinh dục
|
2 lỗ : lỗ niệu sinh
dục và lỗ hậu môn
|
3 lỗ : lỗ niệu. lỗ
sinh dục và lỗ hậu môn.
|
4. Đặc
điểm môi trường:
Các loài cá rô phi hiện
đang nuôi có đặc điểm sinh thái gần giống nhau.
4.1-Nhiệt độ
:
Nhiệt độ cần thiết cho
sự phát triển của cá rô phi từ 20-320C, thích hợp nhất là
25-320C. khả năng chịu đựng với biến đổi nhiệt độ cũng rất
cao từ 8-420C, cá chết rét ở 5,50C và bắt đầu
chết nóng ở 420C. Nhiệt độ càng thấp thì cá càng giảm ăn,
ức chế sự tăng trưởng và tăng rủi ro nhiễm bệnh.
4.2-Độ
mặn :
Cá rô phi là loài rộng muối, chúng có khả năng sống được trong môi
trường nước sông, suối, đập tràn, hồ ao nước ngọt, nước lợ và
nước mặn có độ muối từ 0-40%.
Trong môi
trường nước lợ ( độ mặn 10-25‰) cá tăng trưởng
nhanh, mình dày, thịt thơm ngon.
4.3 - Độ HP:
Môi
trường có độ HP từ 6,5-8,5 thích hợp cho cá rô phi, nhưng cá có thể
chịu đựng trong môi trường nước có độ PH thấp
bằng 4.
4.4 – Oxy
hoà tan:
Cá rô phi có thể sống được trong ao, đìa có màu nước đậm, mật độ tảo
dày, có hàm lượng chất hữu cơ cao, thiếu Oxy. Yêu cầu hàm lượng oxy
hoà tan trong nước của cá rô phi ở mức thấp hơn 5-10 lần so với tôm
sú.
5.
Đặc điểm về dinh dưỡng và sinh trưởng.
5.1-
Tính ăn:
Khi còn nhỏ, cá rô phi
ăn dinh vật phù du ( tảo và động vật nhỏ ) là chủ yếu ( cá 20 ngày
tuổi , kích thước khoảng 18mm). Khi cá trưởng thành ăn mùn bả hữu cơ
lẫn các tảo lắng ở đáy ao, ăn ấu trùng, côn trùng,
thực vật thuỷ sinh. Tuy nhiên trong nuôi công nghiệp cá cũng ăn các
loại thức ăn chế biến từ cá tạp, cua, ghẹ, ốc, bột cá khô, bột bắp,
bột khoai mì, khoai lang, bột lúa, cám mịn, bã đậu nành, bã đậu
phộng.Trong thiên nhiên cá thường ăn từ tầng đáy có mức sâu từ 1-2m.
5.2- Sinh
trưởng:
-
Khi
nuôi trong ao, cá sử dụng thức ăn tự nhiên sẵn có kết hợp với thức ăn
chế biến, cá rô phi vằn đơn tính lớn nhanh từ tháng đầu đến tháng thứ
5-6.
-
Trong điều kiện ao nuôi tôm ( Đầm Nại- Ninh thuận ), cá rô phi vằn sau
5,6 tháng nuôi có thể đạt trọng lượng 0,5-0,6 kg/con từ cá giống
(0,65g/con).
III. KỸ THUẬT NUÔI
1. Chuẩn bị ao nuôi :
Là khâu quan
trọng để tạo ra nhiều thức ăn tự nhiên cho cá trong suốt vụ nuôi.
-
Đối với ao nuôi luân canh, xen vụ, một vụ tôm-một vụ cá với mật
độ 1-2
con/m2 thì việc chuẩn bị ao nuôi trở nên đơn giản, nhưng
chú ý đến vấn đề diệt cá tạp, rắn nước. Có thể bón thêm vôi sống được
xay trực tiếp từ đá vôi, vỏ sò, ốc … số lượng từ 300-500 kg/ha và phân
hữu cơ ( phân heo, gà, trâu, bò …) ủ thật hoai, bón lót vào nền đáy ao
từ 300-500 kg/ha.
-
Đối với các ao nuôi tăng sản, mật độ từ 5-7 con/m2
trở lên, thời gian nuôi
kéo dài, việc chuẩn bị
ao cần làm kỹ các khâu dọn bùn dơ, phơi nắng 5-7 ngày, cày xới nền
đáy. Lượng vôi và phân bón nhiều hơn so với mật độ nuôi thưa và phải
bón bổ sung thêm trong quá trình nuôi.
2. Gây màu nước:
Sau khi thu
hoạch tôm và công việc bón vôi, phân, diệt tạp đưụơc thực hiện xong,
đóng khung lưới lọc cá tạp và cho nước vào 30-40
cm sau 4-5 ngày nước lên màu xanh nhạt, xanh vàng hoặc xanh lá chuối
thì tiếp tục cấp nước vào ao đạt mực 1m và chuẩn bị thả cá giống.
Nuôi cá rô phi trong ao,
đìa nuôi tôm cần chú ý :
-
Nên tận dụng lại các nguồn nước thải ra từ các ao nuôi tôm vì
nguồn nước này chứa nhiều loại tảo là nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào
cho cá rô phi.
-
Có thể nuôi cá rô phi trong ao nước ngọt hoặc
ao ương 1-2 tháng với mật độ dày (15-20 con/m2) vào thời
điểm tháng 6,7. Đến khi thu tôm ( tháng 9,10 ) chuyển số cá này sang
ao nuôi tôm, cá sẽ lớn nhanh, rút ngắn được thời
gian nuôi.
3.
Cá giống: Cá
giống đạt các tiêu chuẩn :
- Hình
dạng cân đối, không dị hình, không xây xát.
- Màu
sắc tươi sáng, bơi lội nhanh.
Khi thả cá ta phải để
bao, túi chứa cá xuống ao từ 15-20 phút, sau đó đổ cá ra các thau,
chậu để thuần dưỡng độ mặn. Thêm nước mặn từ từ
vào thau, chậu để tăng dần sau 1 giờ tăng lên 2-3‰ ( độ mặn ) và tăng
dần đến khi bằng độ mặn của nước ao.
- Nên
thả cá giống vào buổi sáng hoặc chiều mát. Tránh thả cá vào buổi trưa
hoặc trời nắng gay gắt,
cá giống vừa phải chống chịu với nhiệt độ cao vừa phải thích nghi với
độ mặn làm cho các bị và hao hụt sau khi mới thả.
Đối với ao đìa
có độ mặn từ 15‰ trở xuống thì không cần phải thuần dưỡng mà có thể
thả cá giống trực tiếp xuống.
4.
Mật độ nuôi:
Khi mới thả
cá giống có trọng lượng 0,5-1 gam/con tương đương với 1000-2000
con/kg. Cá giống có thể thả nuôi trong ao nhỏ với mật độ 15-20 con/m2,
sau một tháng chuyển sang ao lớn hơn, giảm mật
độ xuống còn 7-10 con/m2 và sau 2 tháng có thể chuyển sang
ao có mật độ nuôi phù hợp 2-3 con/m2.
- Trong
điều kiện bình thường nuôi luân canh một vụ tôm,
một vụ cá có thể
nuôi ở mật độ 2-3 con/m2.
-
Trong điều kiện chăm sóc quản lý tốt và quản lý tốt có thể nuôi
ở mật độ 3-5
con/m2 .
- Trong
nuôi tăng sản, có máy quạt nước có thể nuôi ở mật độ 5-10 con.m2
5. Cho cá ăn:
Sử
dụng thức ăn tự chế biến gồm các thành phần:
-
Cá tạp, cá vụn, cua, ghẹ nhỏ hoặc các chế phẩm từ các lò mổ gia
súc
tỷ lệ : 40-50%
-
Bột bắp, bột mì, bột khoai lang, bột gạo : 20-30%
- Cám
gạo : 10-20%
-
Bã đậu nành, đậu phộng : 10-20%
Cộng
: 100%
+ Cách chế biến :
Các thành phần trên được nấu chín, trộn với cám gạo, xay đùn ra
sợi, phơi ráo và cho ăn hết trong ngày.
+ cho ăn : 02 lần
mỗi ngày: - Sáng vào lúc 5-6 giờ và - Chiều vào lúc 17-18 giờ.
+ Lượng thức ăn :
- Tháng đầu : lượng
thức ăn trong tháng bằng 3-5% trọng lượng đàn cá.
- Tháng thứ 2 : lượng
thức ăn trong ngày bằng 2-3% trọng lượng đàn cá.
- Tháng thứ 3 trở đi :
lượng thức ăn trong ngày bằng 0,5-1% trọng lượng cá.
+ Trong nuôi cá
rô phi cần chú ý kết hợp cho ăn với việc bón
phân hữu cơ sẽ gia tăng năng suất cá nuôi.
- Để tạo
thức ăn tự nhiên phong phú có thể bón phân hữu cơ ( thường là phân
heo, gà, vịt, trâu, bò ...) và phân vô cơ ( Urê, N.P.K…) hai loại
phần này được dùng kết hợp hoặc riêng lẻ tuỳ
điều kiện màu mỡ của từng ao nuôi.
Ví dụ : Cho ăn kết hợp
bón phân gà ( đã ủ hoai) ở mức độ 5kg phân khô/ha/ngày và bón
5ngày/tuần sẽ cho kết quả tốt.
Việc tạo ra
thức ăn tự nhiên tốt ( màu nước đậm, mật độ tảo dày) hoặc những ao đìa
giàu dinh dưỡng được xem là biện pháp hữu hiệu nhất để tăng năng suất
cá nuôi trong ao, đìa.
6.
Chăm sóc quản lý :
Hàng ngày
quan sát rò rỉ xung quanh bờ ao, khung lưới cống và hoạt động của cá.
-
Nếu thấy cá nuôi nổi đầu từ lúc sáng sớm thì phải cung cấp thêm
nước.
- Định
kỳ 10-15 ngày kiểm tra cá bằng chài, cân đong tự tăng trưởng của cá
để điều chỉnh lượng thức ăn của cá hàng ngày.
7.
Thu hoạch:
Sau khi nuôi
5-6 tháng, cá đạt trọng lượng 0,5-0,6 kg/con, có thể thu hoạch cá
thịt, có hai cách thu.
- Thu
tỉa : tháo nước ao cạn ở mức nước 40-50cm, kéo lưới thu tỉa cá
lớn.
- Thu
sạch : kéo lưới bắt nhiều lần sau đó bơm cạn bắt hết số cá còn lại.
Kết luận: Cá rô phi dễ nuôi, có khả
năng thích nghi tốt với sự biến đổi của môi trường. Chúng ăn
các loại tảo, động vật nhỏ, mùn bã hữu cơ làm sạch môi trường trong ao
nuôi.
Nuôi cá rô
phi đơn tính trong ao nuôi tôm vụ đông xuân vừa tạo ra thu nhập cho
người nuôi tôm, đồng thời tạo sản phẩm ý nghĩ cho xã hội, đó là nguồn
đạm tươi sống cung ứng cho thị trường trong nước và xuất khẩu.
|