|
1.
Ðối với cá nuôi bè, bệnh thường xuất hiện vào mùa mưa
nhưng vào mùa năng do lưu tốc nước yếu làm cho cá bị
stress do thiếu oxy, nhiệt độ nước cao. ... nên dẫn đến
bệnh. Vì vậy, cần sử
dụng chân vịt để quạt nước vàobè khi lưu tốc nước
thấp hoặc khi nước đứng để tăng cường lượng oxy hoà
tan trong bè. Cố gắng duy trì lượng oxy hoà tan cao trong bè,
tối thiểu là 5 mg/lít.
2.
Khi mua cá giống, nếu phát hiện thấy trong đàn cá có
một số con xuất hiện những dấu hiệu bệnh lý như lở
loét, tuột nhớt, vây đuôi bị đứt, bị gãy, trên thân
có những chấm đỏ .... thì phải loại bỏ những cá
thể đó ngay vì chúng là nguồn lây lan bệnh tật cho
những cá thể khác trong cùng đàn. Trước khi thả vào bè
hoặc ao, cá giống cần được tắm bằng formalin
250ppm(250ml/m3 nước) trong 10-20 phút hoặc dung
dịch nước muối (NaCl) 3% trong 3-10 phút để loại bỏ
một số loại ký sinh trùng như trùng mỏ neo, rận cá, trùng
bánh xe, sán lá 16 móc...
3.
Một trong những biện pháp phòng bệnh tích cực nhất là
việc giữ gìn môi trường nước trong
bè và ao luôn sạch sẽ bằng cách cho ăn đầy đủ
chất lượng và số lượng (tránh trường hợp cho ăn dư
thừa, vừa lãng phí vừa gây ô nhiễm môi trường nước
trong bè hoặc ao nuôi một cách hợp lý, tránh gây hốc
hỏang, gây sốc đột ngột cho cá. Thường xuyên trộn các
loại khoáng chất và vitamin như: Bio-Actvit, Nutri-Fish,
Vitamni C 10% .... vào thức ăn để cá có sức khoẻ tốt,
giúp phòng tránh bệnh tật. Thỉnh thoảng trộn kháng sinh
vào thức ăn như: Kana-Ampicol, Coli-Neoflum, F-2, Bio-flox,
Enro-Ampitrim, Enro-colistin. ...
4.
Không bố trí các bè quá sát nhau vì mầm bệnh sẽ dễ dàng
lây lan từ bè này sang bè khác và nước ở những bè phía
dưới sẽ có chất lượng kém hơn các bè khác và nước
ở những bè phía dưới sẽ có chất lượng kém hơn các
bè phía trên, nhất là hàm lượng oxy hoà tan. Cá sống
trong môi trường nước có chất lượng kém như vậy sẽ
yếu dần, tạo điều kiện cho mầm bệnh tấn công.
5.
Khi mua thức ăn cần quan sát kỹ để đánh giá chất lượng
thức ăn, nhất là các loại nguyên liệu dùng để chế
biến thức ăn tại bè hoặc ao nuôi. Không mua nguyên liệu
bị ẩm, mốc hoặc có mùi chua. Ðối với thức ăn viên
cần phải xem ngày sản xuất và thời hạn sử dụng, tránh
dùng thức ăn đã quá hạn. Ðể thức ăn nơi khô ráo, thoáng
mát, phải kê sàn gỗ trên nền nhà để tránh ẩm mốc. lô
thức ăn nào mua trước thì phải sử dụng trước.
6.
Vệ sinh bè sạch sẽ và sửa chữa bè sau mỗi vụ nuôi.
Nếu có điều kiện kéo bè lên bờ thì sau khi vệ sinh
sạch sẽ nên phun Iodine Complex For Fish nồng độ 3 phần ngàn
(3 ml/l nước) và phơi nắng để tẩy trùng bè nuôi. Trong
quá trình nuôi phải thường xuyên loại bỏ các loại rác
bẩn bám vào 4 mặt bè, nhất là
2 mặt khại và thức ăn thừa,
phân ở đáy bè để môi trường nước trong bè luôn
sạch sẽ. Ðối với ao nuôi, sau khi thu hoạch nên tháo
cạn, bón vôi với liều 7-10 kg/100m2 và phơi đáy
ao từ 5-7 ngày trước khi
cho nước mới vào nhằm mục đích tiêu diệt mầm bệnh,
làm khoáng hoá nền đáy và tăng cường nguồn thức ăn
tự nhiên trong ao.
7.
Ðối với cá nuôi bè, khi cho cá ăn nên cho ăn ở nhiều
cửa, tránh tình trạng cá tranh ăn sẽ gây xây xát, tạo
điều kiện cho mầm bệnh tấn công và cá lớn không đều.
8.
Thả nuôi với mật độ thích hợp để cá lớn nhanh và có
sức khoẻ tốt.
9.
Phải thường xuyên theo dõi tình trạng sức khoẻ của cá
thông qua việc quan sát bằng
mắt và lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày. Khi cá có
biểu hiện bệnh phải tiến hành điều trị ngay thì mới
đạt hiệu quả cao vì lúc đó cá còn tương đối khoẻ và
ăn được thức ăn có trộn thuốc trị bệnh. trước khi
cho ăn thức ăn xuống để cá ăn hết thức ăn, tránh lãng
phí thức ăn và thuốc cũng như gia tăng hiệu quả điều
trị bệnh.
10.
Khi bón phân hữu cơ (phân chuồng) cho ao, không nên dùng tươi
mà nên bón phân đã ủ cho hoai với 1% vôi.
(Theo
Trung tâm Khuyến ngư Ninh Thuận) |