MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÒNG TRỊ Ở CÁ

 

 I. NGUYÊN TẮC CHUNG VỀ PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH Ở CÁ

* Phòng bệnh:

Bất kì một bệnh nào xảy ra cũng có nguyên nhân và điều kiện của nó. Do vậy ta phải hạn chế nguyên nhân và điều kiện phát sinh ra bệnh, trong công tác phòng bệnh cần chú ý.

Dọn, tẩy ao: đáy ao là nơi chứa, nơi tích tụ của vi trùng, ký sinh trùng và kí chủ trung gian, dùng vôi để tẩy ao có tác dụng diệt những nguyên nhân gây bệnh và cải tạo đáy ao.

Kiểm tra bệnh cá: cần kiểm tra cá giống trước khi thả hoặc trước khi vận chuyển để phát hiện cá bị bệnh kịp thời xử lý, tránh lây lan và truyền bệnh từ nơi này đến nơi khác.

Dùng thuốc để phòng bệnh: trước mùa thường xảy ra bệnh. Thường là tháng 12 và tháng 2 dương lịch.

Tiêu diệt kí chủ trung gian và kí chủ cuối cùng, đánh bắt hết cá bệnh, săn bắn các loại chim bắt cá.

* Trị bệnh:

khi phát hiện bệnh phải kiểm tra, chuẩn đoán đúng bệnh, chữa bệnh kịp thời, dùng thuốc thích hợp và đúng liều lượng. Một số phương pháp chữa bệnh.

* Tắm cá : khi phát hiện các ao cá bị bệnh kí sinh trùng hoạt nấm kí sinh nếu ở cơ sở có điều kiện thì đánh bắt cá sang ao mới sạch sẽ hơn thì dùng phương pháp tấm cá để chữa bệnh cho cá. Phương pháp này hiệu qủa rất cao, nhanh và lẽ tiền.

* Ngâm hoặc cho thuốc trực tiếp xuống ao: Nếu cơ sở không có điều kiện đánh chuyển cá sang ao khác thì cho thuốc trực tiếp xuống ao để diệt trùng và chữa bệnh cho cá. Phương pháp này đạt hiệu qủa cao, tỷ lệ sống lớn hơn cách tắm cá và không đòi hỏi nhiều nhân lực nhưng tốn kém vì lượng thuốc chữa bệnh cho cá tương đối nhiều.

*Trộn thuốc vào thức ăn cho cá ăn: Ðể chữa bệnh viêm đường ruột ở cá trắm cỏ. Bệnh đốm đỏ ở cá chép ta thường trộn thuốc vào thức ăn cho cá ăn và phơi khô thức ăn thành viên cho cá ăn.

* Tiêm cho cá : Ở một số cá bố mẹ qúi hiếm khi phát hiện bệnh ta thường dùng thuốc kháng sinh tiêm trực tiếp vào lưng của cá.

* Bôi trực tiếp : Trường hợp cá bị bệnh đốm đỏ mãn tính hay bị xay xát trong đánh bắt thì chúng ta có thể dùng cồn iốt để bôi trực tiếp vào vết thương.  

II. MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở CÁ  

1/ Bệnh đốm đỏ ở cá chép: ( Truyền Nhiễm ).

- Phòng bệnh: Trong qúa trình nuôi phải thỏa mãn những điều kiện sống tối thiểu của cá. Không nuôi với mật độ qúa dày cho cá ăn đầy đủ hợp vệ sinh, phải thường xuyên vệ sinh ao hồ. Dùng CuSO 4 cho xuống ao hoạt cho vào túi treo gần chỗ cho cá ăn ăn với nồng độ 0,5 -0,7 ppm. Ðể tiêu diệt kí sinh trùng ở mang và những vạch mở đường cho vi trùng xâm nhập vào cơ thể cá.

-Trị bệnh: Dùng kháng sinh Tetracycline và Biomycyl trộn vào thức ăn rồi ép từng viên phơi khô cho cá ăn với liều lượng 1gr thuốc cho 40 -50 kg cá/ngày. Cho ăn liên tục 5 -7 ngày. Hoặc dùng sunfatiagin trộn vào thức ăn với liều lượng 1gr thuốc/10kg cá/ngày, cũng cho ăn liên tục 5 -7 ngày. Dùng cồn iod bôi trực tiếp vào vét thương.

2/ Hội Chứng Lở Loét Ở Cá( Epizootic Ulcerative Syndrome ).

a/ Nguyên nhân gây bệnh:

Hội chứng dịch lở loét ở cá là một bệnh, rất nguy hiểm, lây lan nhanh và xuất hiện tại nhiều nước trên thế giới.

ở việt nam, bệnh xuất hiện hầu hết các Tỉnh, trên các loài cá như: Trắm cỏ, chép, Rô phi, mè, trê. nguyên nhân gây bệnh khá phức tạp với các tác nhân truyền nhiễmgồm virus, vi trùng, nấm và cả ký trùng.

-Virus được xem như là tác nhân nguyên phát của bệnh. Các nhà khoa học đã phát hiện được Virus có tên Rhabdovirus trên cá bệnh. Virus này chỉ xuất hiện vào giai đoạn đầu của bệnh, làm kìm hãmhệ thống miễn dịch, từ đó cá dễ mẫn cảm với các loài mầm bệnh khác, sau đó virus bị tiêu diệt trước khi xuất hiện triệu chứng lở loét.

-         Vi khuẩn: một loài vi khuẩn gây bệnh được phân lập trên cá bao gồm:

+ Aeromonas hydrophyla

+ Aeromonas sobria

+ Pseudomonas fluorescens

+ Flavobacterium sp.

+ Micrococcus sp.

+ Vibrio sp.

+ Nocardia sp.

-         Nấm: nấm không phải là tác nhân gây bệnh, song sự cảm nhiễm nấm sẽ làm gia tăng mức độ trầm trọng của bệnh, tăng tỷ lệ chết. Một số loài nấm được phân lập từ vết loét của cá thuộc giống Aphanomyces, Achlya và Saprolegnia.

Các yếu tố khác bao gồm vài loại ký sinh trùng đơn bào, đa bào, các yếu tố về môi trường như nhiệt độ nước không thích hợp, sự ô nhiễm nguồn nước hoặc thiếu dinh dưỡng cũng góp phần gia tăng tỷ lệ mắc bệnh.

b/ Triệu chứng:

Hiện nay có trên 100 loài cá mẫn cảm với bệnh, bao gồm cá trong tự nhiên, cá nuôi nước ngọt và cá nuôi nước lợ.

Triệu chứng bệnh gồm có: Da trở nên sậm màu xám, trên thân, đầu, vây, đuôi xuất hiện các đốm màu xám, trắng hoặc đỏ rồi hình thành vết loét. Các vết loét lan rộng dần, có khi ăn sâu đến xương, vảy bị rụng. ....

Thời gian mắc bệnh thay đổi tùy thuộpc vào loài cá, khí huậ và chất lượng nước. Bệnh thường xảy ra khi nguồn nước có nhiệt độ thấp (từ tháng 11 - tháng 12).

c/ Phòng bệnh:

Nên áp dụng các biện pháp phòng bệnh chung như dọn tẩy ao, phơi đáy ao, bón vôi Ca(OH)2 với liều 7-10 kg/100m2 để tiêu diệt mầm bệnh.

-         Quản lý tốt chất lượng nước trong ao nuôi.

-         Chọn giống tốt, khoẻ mạnh.

-         Cho ăn đầy đủ chất dinh dưỡng. Nên trộn liên tục các loại thuốc bổ như:

BIO-ACTIVIT, NUTRI-FISH, BIOZYME, BIO-SORBITOL, BIO-PREMIX 22, VITAMIN C PREMIX, vào thức ăn để cá luôn khoẻ mạnh, tăng sức đề kháng bệnh.

d/ Ðiều trị:

-         Dùng các loại kháng sinh như: KANA-AMPICOL, COLI-NEOFLUM, KANEOQUINE-ADE, COLI-FAC, BIOFLUM, F-2, BIO-FLOX, ENRO-COLISTIN,ENRO-AMPITRIM trộn vàothức ăn theo liều lượng hướng dẫn, trong 5-7 ngày liên tục.

-         Trên cá con, có thể dùng muối ăn (NaCl) nồng độ 2-3%, tắm trong 3-10 phút hoặc dùng formalin nồng độ 500ppm (500ml/m3 nước), tắm trong 10-15 phút.

-         Ðối với cá lớn, dùng formalin nồng độ 150ppm, tắm trong 30-45 phút.

3/ Bệnh Nhiễm Trùng Máu.

a/ Nguyên nhân gây bệnh:

Do vi khuẩn thuộc giống Aeromonas, gram âm gây nên.

b/ Triệu chứng:

Bệnh này còn có tên gọi là bệnh đốm đỏ, bệnh xuất huyết hoặc bệnh lở loét trên cá. Bệnh xuất hiện dưới hai thể, với các triệu chứng khác nhau:

-         Thể nhiễm trùng: thường xuất hiện trên cá chép, trắm cỏ, trê, tai tượng, ... Cá bệnh có dấu hiệu ban đầu là kém ăn hoặc bỏ ăn, da ca bị sậm màu, cá bị mất nhớt và trở nên khô ( còn gọi là bệnh tuột nhớt). Tỷ lệ chết ở thể nhiễm trùng máu đối với cá thịt từ 30-70% và có thể đến 100% đối với cá giống.

-         Thể nhiễm trùng toàn thân: các đốm đỏ xuất hiện trên thân cá, gốc vây, quanh miệng rồi biến thành vết loét ăn sâu vào bên trong, vây bị rách và dần dần cụt đi, bụng trướng to, xoang bụng bị viêm, chứa nhiều dịch nhầy có mùi hôi, xuất huyết nặng ở mô mỡ, tuyến sinh dục, ruột, dạ dày và bóng hơi, thuỷ tinh thể bị đục và lòi ra ngoài, túi mật sưng to, gan đổi sang màu xanh tái, ruột bị loét.

c/ Phòng bệnh:

-         Quản lý môi trường nuôi thật tốt.

-         Tránh làm cá bị xây xát.

-         Hạn chế các bệnh ngoài da cho cá.

-         Sát trùng ao bằng vôi. Ðối với ao nuôi, trong mùa thường xảy ra bệnh, định kỳ 2 tuần một lần rải vôi xuống ao với liều lượng 10-12kg/100m2. Các mùakhác , mỗi tháng rải vôi một lần.

-         Khi cho thức ăn nên trộn thêm khoáng chất, vitamin và thuốc bổ để tăng sức đề kháng bệnh.

d/ Ðiều trị:

-         Ðối với cá giống, dùng kháng sinh tắm cho cá. Nên dùng các loạikháng sinh có phổ kháng khuẩn rộng như: F -2 For fish, Bioflum, N-200, Bio-Flox để tắm cá theo liều hướng dẫn ghi trên toa thuốc. Ðồng thờitrong thức ăn nên trộn thêm các loại thuốc phòng và trị bệnh nhiễm khuẩn như đã liệt kê ở phần phòng bệnh. Cho ăn liên tục trong 5-7 ngày.

-         Ðối với cá thịt nên dùng các loại thuốctrị bệnh nhiễm khuẩn như: KANA-AMPICOL, COLI-NEOFLUM, KANEOQUINE-ADE, COLIFAC, BIOFLUM, F-2, BIO-FLOX, ENRO-COLISTIN, ENRO-AMPITRIM trộn vào thức ăn, cho ăn liên tục trong 5-7 ngày.

4/ Bệnh Thối Vây ( Columnaris Disease).

a/ Nguyên nhân gây bệnh:

Do vi khuẩn Flexibacter columnaris, gram âm gây ra.

b/ Triệu chứng:

Thường trong điều kiện nhiệt độ nước ao thấp(>= 150C), trước đó cá bị stress hoặc dinh dưỡng sẽ dễ mắc bệnh.

Ðầu tiên ở phần đầu hoặc vây xuất hiện các đốm trắng, vi khuẩn sau đó xâm nhập vào sâu bên trong gây tổn thưong mang và các mô dưới da, làm da chuyển sang màu nâu hoặc tạo vết loét, vảy và phần rìa vây thường chuyển sang màu trắng, sau đó vây có thể bị rụng. Bên ngoài vết loét phủ một lớp màu trắng như nấm. Vi trùng sau đó xâm nhập vào máu gây nhiễm trùng máu, tiết chất độc làm chết cá hàng loạt.

c/ Phòng bệnh:

-         Tháo cạn nước ao, rải vôi với liều 7-10kg/100m2 và phơi ao 5-7 ngày trước khi cho nước vào ao và thả cá giống.

-         Nên trộn các loại vitamin, khoáng, thuốc bổ đã liệt kê liên tục vào trong thức ăn để tăng cường sức đề kháng cho cá.

-         Cứ khoảng 2 tuần nên dùng một đợt thuốc kháng sinh như: KANA-Ampicol, Coli-NeoFlum, KANeoquine-ADE trộn vào thức ăn. Cho ăn liên tục trong 3 ngày.

d/ Ðiều trị:

-         Dùng các loại kháng sinh trộn vào thức ănnhư: KANA-Ampicol, Coli-NeoFlum, KANeoquine-ADE, Coli-Fac, Bioflum, F -2, Bio-Flox, Enro- Colistin, Enro-Ampitrim. Cho ăn liên tục trong 5-7 ngày.

-         Kết hợp dùng muối ăn ( NaCl) nồng độ 2-3%, tắm cá trong 3-10 phút.

5/ Bệnh Trắng Ðuôi

a/ Nguyên nhân gây bệnh:

Do vi khuẩn Pseudomonas dermoalba gây ra. vi khuẩn tấn công vào da khi trên da cá bị tổn thương.

b/ Triệu chứng:

-         Ðầu tiên ở phần cán đuôi xuất hiện một điển trắng, sau đó lan dần về phía trước đến vây lưng và vây hậu môn, sau cùng cả đoạn thân sau của cơ thể đều cómàu trắng nên gọi là bệnh trắng đuôi.

-         Da cá bị xuất huyết, đặc biệt là phần gốc hoặc toàn bộ vây đuôi, vảy bị rụng. Các tia vây bị rách và cụt dần. cá bệnh ăn ít, hoạt động yếu, lờ đờ, chậm chạp, đuôi cứng dần. Sau cùng cả phần thân sau cũng trở nên cứng. cá nằm ngay trên mặt nước, đuôi ve vẩy yếu ớt. Trường hợp bệnh nặng, cá treo phần đuôi trên mặt nước, đầu cắm xuống đáy, sau đó cá chìm dần rồi chết. Thời gian từ khi mắc bệnh đến lúc chết rất ngắn, chỉ 2-3 ngày.

-         Cá giống thường mẫm cảm với bệnh cao hơn cá thịt, nhất là khi trên da bị tổn thương.

c/ Phòng bệnh:

-         Cẩn thận khi đánh bắt cá như dùng lưới thích hợp để tránh xây xát, nên đánh bắt cá lúc trời mát.

-         Chọn giống khoẻ mạnh, quản lý tốt chất lượng nước troing ao nuôi.

-         Nên trộn các loại khoáng chất, vitamin, thuốc bổ vào trong thức ăn để tăng cường sức đề kháng cho cá.

-         Cứ khoảng 2 tuần nên dùng một đợt thuốc kháng sinh, đã liệt kê trộn vào thức ăn. Cho ăn liên tục trong 3 ngày.

d/ Ðiều trị:

Ðối với cá thịt: Trộn KANA-Ampicol, colineoflum, Kaneoquine-ADE, Coli-fac, Bioflum, F-2, Bio-flox, Enro-Colistin, Enro-Ampitrim vào thức ăn theo liều khuyến cáo liên tục trong 5-7 ngày. Nên trộn thêm các loại thuốc bổ vào thức ăn để cá mau lành bệnh.

6/ Bệnh Nấm Da (Nấm Thuỷ Mi)

a/ Nguyên nhân gây bệnh:

-         Bệnh này do một số loài nấm thuộc hai giống Saprolegnia và Achlya gây nên. Nấm có dạng sợi và trong, chiều dài khoảng 3cm hoặc hơn, đường kính sợi nấm thay đổi từ 6-14mm, có hoặc không phân nhánh và có cấu tạo đa bào. sợi nấm chia làm phần: phần gốc bám vào cơ thể cá, phần ngọn tự do ngoài môi trường nước.

-         Bệnh thường xuất hiện sau khi cá đã bị nhiễm một bệnh nào đó như bệnh đốm đỏ, bệnh do ký trùng, cá bị trầy sướt trong quá trình đánh bắt và vận chuyển hoặc do nguyên nhân về thiếu dinh dưỡng, nhiệt độ nước giảm làm cơ thể cá bị suy yếu, sức đề kháng giảm. Khi đó nấm mới có điều kiện bám vào cơ thể cá để gây bệnh. Cá nuôi thường bị bệnh này sau khi bị đốm đỏ mãn tính hoặc bị rận cá ký sinh làm cho da bị thổn thương, tạo điều kiện cho nấm tấn công vào những vết thương này và làm cho bệnh càng nặng hơn. Do các bào tử nấm có khả năng bơo lội trong nước bằng tiêm mao nên khả năng lây bệnh rất cao.

b/ Triệu chứng bệnh lý:

-         Khi nấm mới ký sinh thìo rất khó nhìn thấy bằng mắt thường do sợi nấm còn nhỏ và số lượng còn ít. Khi nấm phát triển với số lượng nhiều trên cơ thể cá sẽ tạo thành từng chùm màu trắng giống như cục bông gòn, do đó bệnh này còn được gọi là bệnh bọ gòn.

-         Khi nấm đã phát triển và đâm sâu phần gốc vào cơ thể cá thì việc trị bệnh gặp nhiều khó khăn. Khu vực bị nhiễm nấm ngày càng phát triển to ra và tạo điều kiện cho các loài vi khuẩn sống trong nước tấn công vào cơ thể qua khu vực này. Kết quả là bệnh ngày càng nặng hơn. Cá có cảm giác ngứa ngáy, hay cạ cơ thể vào những vật cứng trong ao hoặc bè nuôi, da trở nên sân hơn. Cá bị bệnh nặng sẽ bị lở loét và và phần cơ tại khu vực này sẽ bị rời ra khỏi cơ thể. Do đó đôi khi cá còn sống nhưng nhiều chỗ trên cơ thể chỉ còn xương mà thôi.

c/ Mùa vụ xuất hiện bệnh:

Bệnh thường xuất hiện vào mùa mưa, khi môi trường nước có nhiệt độ thấp.Nấm phát triển mạnh nhất khi nhiệt độ nước từ 18-250C.

d/ Phòng bệnh:

-         Nuôi dưỡng cá tốt, cho ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, giữ gìn ao sạch sẽ, tránh các xây xát khi đánh bắt.

-         Giữ ấm cho cá khi trời rét bằng cách đào ao sâu, trồng cây chắn gió trên bờ ao.

-         Chọn mua cá giống khoẻ mạnh, có xuất xứ từ các trại giống có quy trình vệ sinh phòng bệnh tốt.

-         Nên trộn các loại bột khoáng, vitamin, thuốc bổ liệt kê.

e/ Ðiều trị:

-         Dùng Iodine Complex For Fish phun trực tiếp xuống ao nuôi với liều 2-3ml/m3 nước. Mỗi tuần phun thuốc 2 lần.

-         Dùng muối ăn ( NaCl) nồng độ 2-3% tắm cá trong 3-10 phút.

-         Dùng sulfate đồng ( CuSO4) nồng độ 0,5g/m3 nước để tắm cá trong 30 phút.

7/ Bệnh Nấm Mang

a/ Nguyên nhân gây bệnh:

Do nấm thuộc Branchiomyces gây nên. Ao, hồ nước đọng, có nhiều chất hữu cơ, tảo phát triển đày đặc, thả nuôi với mật độ cao sẽ tạo điều kiện cho nấm phát triển và gây bệnh.

b/ Triệu chứng:

-         Nấm gây bệnhqua hai con đường: thông thường nhất là xâm nhập trực tiếp vào mang, hoặc bào tử nấm xâm nhập vào ruột, sau đó vào mạch máu rồi đến mang để gây bệnh.

-         Bào tử sau khi đến mang phát triển thành sợi nấm, sợi nấm phân nhánh dọc theo các mạch máu của lá mang rồi tiến vào sâu bên trong tổ chức mang gây loét mang, đứt rời các sợi mang làm cá ngạt thở. Bệnh phát triển rất nhanh, chỉ trong vài ngày có thể lan toàn bộ số cá nuôi nếu ao dơ bẩn. tỷ lệ chết có thể lên đến 50%.

c/ Phòng bệnh:

-         Ðối với các ao thường xảy ra bệnh nấm mang, sau khi thu hoạch phải tháo cạn nước, dùng vôi diệt trùng ao (7-10kg/100m2 ao) và phơi đáy ao khoảng một tuần trước khi cho nước mới vào.

-         Bổ sung các loại thuốc,khoáng, vitamin để tăng cường sức đề kháng cho cá.

-         Cứ khoảng 2 tuần nên dùng một đợt thuốc kháng sinh như: KANA- Ampicol, Coli-Neoflum, Kaneoquine-ADE, Coli-Fac, Bioflum, F-2,Bio-flox, Enro-Colistin, Enro-Ampitrim trộn vào thức ăn, cho ăn liên tục trong 3 ngày.  

d/ Ðiều trị:

-         Cần bón thêm vôi nung ( Ca(OH)2) để nâng PH của nước ao lên 8,5-9,0. Khi bón vôi cần lưu ý: không được để PH nước ao vượt quá giá trị 9,0. Thông thường, giá trị PH= 8,5-9,0 sẽ đạt được khi ta bón vôi nung vào ao với liều 2kg/100m2.

-         Cho cá ăn vừa phải để tránh làm dơ ao.

-         Hoà tan Sulfat đồng (CuSO4) vào nước rồi tạt đều khắp ao với liều 0,5-0,7 ppm (tương đương 0,5-0,7 g/m3 nước). với phương pháp điều trị trên, thường sau một tuần cá sẽ khỏi bệnh.

8/ Bệnh Trùng Bánh Xe:

a./ Nguyên nhân gây bệnh:

Bệnh do một số loàitrùng bánh xe thuộc ba giống: Trichodinosis, TripartiellaTrichodinella gây nên. Trùng có dạng hình tròn, đường kính thay đổi từ 25-96mm, khi vận động chúng quay tròn cơ thể như bánh xe nên gọi là trùng bánh xe. Chúng bám vào cơ thể cá nhờ đĩa bám. Chúng sinh sản vô tính bằng cách phân đôi và sự sinh sản diễn ra quanh năm. Sau khi rời cơ thể cá, trùng có thể sống tự do trong nước được 1-1,5 ngày. Ðây là nguyên nhân khiến cho bệnh lây lan từ cá thể này qua cá thể khác.

b/ Triệu chứng bệnh lý:

Trùng ký sinh trên mang, da và xoang miệng. Khi mới bị bệnh, da cá tiết nhiều nhớt màu trắng đục. Màu da cũng chuyển qua màu xám. Cá có cảm giác ngứa ngáy và thường nổi đầu trên mặt nước. Khi cá bệnh nặng, một số lượng lớn trùng báng xe bám gần kín bề mặt của mang khiến cá bị ngộp do không láy đủ lượng oxy cung cấp cho cơ thể. ngoài ra, chúng còn phá huỷ cấu trúc của mang làm cho mang ngày càng mất dần chức năng hô hấp. Do mang bị kích thích nên tiết ra nhiều nhớt màu trắng đục. cá bị bệnh nặng sẽ không định được hướng bơi, từ từ chìm xuống đáy ao hoặc bè rồi chết.

c/ Mùa vụ xuất hiện bệnh:

Bệnh thường xuất hiện vào mùa mưa, đặc biệt khi nước có độ đục và hàm lượng chất hữu cơ lơ lửng cao. Bệnh này thường gây hậu quả nghiêm trọng trên cá hương và cá giống. Tỷ lệ chết có thể trên 90% trong vòng 48 giờ.

d/ Phòng bệnh:

- Quản lý chất lượng nước trong ao nuôi. Cho ăn vừa đủ để tránh trường hợp thức ăn dư thừa làm tăng hàm lượng chất hữu cơ lơ lửng và ô nhiễm ao.

- Không mang cá bệnh thả chung với cá khỏe. Không cho nước từ ao cá bệnh sang các ao khác nếu chưa được triệt trùng. Trước khi ương cá phải tẩy ao, diệt trùng bằng vôi và ương với mật độ vừa phải và cho ăn đầy đủ.

- Chọn giống có chất lượng tốt.

- sau khi thu hoạch cần tẩy dọn ao thật kỹ, bón vôi và phơi nắng đáy ao trong khoảng một tuần trước khi lấy nước mới vào ao.

- Phân hữu cơ trước khi bón vào ao cần phải được ủ cho hoai với 1% vôi.

- Thường xuyên trộn các loại thuốc bổ vào thức ăn để cá luôn khoẻ mạnh, tăng sức kháng bệnh.

e/ Phương pháp trị bệnh:

- Dùng formalin nồng độ 250ppm (250ml/m3 nước) tắm cá trong 20-30 phút.

- Bón clorua calci (CaCl2 ) vào ao nuôi với liều 100g/100m2, lặp lại sau 3-8 ngày.

- Dùng muối ăn nồng độ 2 -3 % tắm cho cá 10 -15 phút.

- Dùng CuSO4 nồng độ 0,5 -0,7 ppm hòa tan cho trực tiếp xuống ao sau một tuần cá có thể bình phục.

- Nên trộn Bio-Activit, Nutri-Fish, Biozyme, Biopremix 22, Vitamin C 10% liên tục vào trong thức ăn để cá mau lành bệnh.  

(Theo Trung tâm Khuyến ngư Ninh Thuận)