I. Giới thiệu:
Ngao thuộc Họ Ngao Veneridae, Giống ngao Meretrix.
Họ
Ngao có khoảng trên 500 loài, phân bố rộng ở vùng bãi triều ven biển
các nước ôn đới nhiệt đới. Nước ta có khoảng 40 loài thuộc 7 nhóm
giống, phân bố dọc bờ biển từ Bắc đến Nam.
Vùng ven biển phía Bắc có ngao dầu (Meretrix lime), ngao mật (Meretrix
llusoria Rumplius). Vùng ven biển phía Nam có nghêu (Meretrix lyrata
sowerby).
Ngao là nhóm động vật nhuyễn thể có tiềm năng lớn ở vùng triều
nước ta. Kỹ thuật nuôi không phức tạp, chu kỳ nuôi ngắn, đầu tư ít lại
có giá trị xuất khẩu. Nuôi ngao, nghêu còn là biện pháp tích cực để
bảo vệ và phát triển nguồn lợi này, góp phần làm sạch môi trường đáy
vùng triều ven biển.
II.HÌNH THÁI VÀ CẤU TẠO
CỦA NGAO
1. Hình thái:
Vỏ ngao có hình tam giác, hai vỏ to bằng nhau, vỏ dày và chắc. Chiều
dài vỏ lớn hơn chiều cao vỏ. Đỉnh vỏ nhô lên uốn cong về phía bụng.
Mặt vỏ phồng lên, nhẵn bóng. Vòng sinh trưởng mịn và rõ. Ngoài vỏ ngao
dầu có lớp bì màu nâu. Từ đỉnh vỏ xuống có nhiều vành màu nâu. Ở nghêu
mặt ngoài của vỏ màu vàng sữa, ít cá thể màu nâu, vòng sinh trưởng
thô. Mầu sắc của vỏ thường biến đổi thẫm hay nhạt theo môi trường
nuôi. Phía trước của đỉnh vỏ mặt nguyệt thuôn dài. Phía sau đỉnh vỏ có
đai nề màu đen. Mặt trong của vỏ màu trắng, vết cơ khép vỏ trước nhỏ,
hình bán nguyệt, vết cơ khép vỏ sau to hình trứng tròn.
2. Cấu tạo trong:
a) Màng áo: hai tấm màng áo mỏng bao phủ toàn bộ nội tạng của ngao.
Viền mép màng áo có nhiều mấu lồi cảm giác. Phía mép của hai màng áo
gần bụng dính lại, hình thành hai vòi nước: vòi phía bụng là vòi nước
vào, vòi nằm phía lưng là vòi nước ra. Vòi nước của ngao to và ngắn,
vòi nước vào dài hơn vòi nước ra. Ngao vùi thân trong cát và thò vòi
nước lên trên cát để hô hấp, bắt mồi và bài tiết.
b) Hệ tiêu hoá, hô hấp:
Miệng ngao là một rãnh ngang nằm ở phía trước cơ thể, bên miệng có tấm
môi ngoài, môi trong, có tiêm mao dùng để chuyển vận và chọn lọc thức
ăn. Thực quản và dạ dày mỏng. Xung quanh dạ dày có các túi “nang” tiêu
hoá, có ống thông với dạ dày.
Mang là cơ quan hô hấp chủ yếu, ngoài ra các vi mạch trên màng áo
ngoài, các vi mạch trên môi cũng có tác dụng bổ trợ cho hô hấp.
c) Hệ sinh dục:
Ngao phân đực, cái riêng. Khi tuyến sinh dục thành thục ở con cái có
màu vàng, con đực có màu trắng sữa phủ khắp nội tạng
III.ĐẶC ĐIỂM
SINH HỌC CỦA NGAO:
1. Phân bố:
Ngao phân bố trên các bãi biển, trong các eo vịnh có đáy là cát pha
bùn (cát chiểm 60-80%), sóng gió nhẹ, có lượng nước ngọt nhất định
chảy vào. Ở nơi đáy nhiều bùn ngao dễ bị chết ngạt, nơi đáy cát chiếm
100% ngao bị khô nóng.
- Ngao sống ở trung, hạ triều cho đến độ sâu tới 10m ở đáy biển.
- Ngao là động vật nhuyễn thể rộng nhiệt. Thích nghi được với nhiệt độ
từ 5-35oC, ở nhiệt độ 18-30oC sinh trưởng tốt nhất. Giới hạn chịu
nhiệt cao là 43oC. Khi nhiệt độ lên tới 44oC ngao chết 50%, ở 45oC
chết toàn bộ. Ở nhiệt độ 37,5oC sống được 10,4 giờ, 40oC sống được 5,3
giờ, 42oC sống được 1,5 giờ. Khi nhiệt độ giảm xuống 0oC, các tơ mang
ngừng hoạt động. Ở nhiệt độ âm 2-3oC sau 3 tuần chỉ chết 10%.
- Ở độ mặn 19-26‰ ngao sinh trưởng tốt. Ngao có sức chịu đựng tốt ở tỷ
trọng cao, ở trọng 1,029 chỉ có một số ít bị chết.
Trong môi trường tự nhiên nếu độ mặn biến đổi đột ngột sẽ gây chết
hàng loạt. Những vùng bị ảnh hưởng nước lũ kéo dài gây ảnh hưởng lớn
đến sinh trưởng của ngao, có thể gây chết hàng loạt. Những vùng này
thường không có ngao phân bố.
- Ngao là loài sống đáy, chân phát triển để đào cát vùi mình xuống
dưới. Để hô hấp và lấy mồi ăn ngao thò vòi nước lên mặt bãi hình thành
một lỗ hình bầu dục màu vàng nhạt, nhìn lỗ có thể biết được chỗ ở của
ngao. Vòi ngao ngắn nên không thể chui sâu, thường chỉ cách mặt đáy
vài cm. Trời lạnh ngao xuống sâu hơn nhưng không quá 10cm (hình 4).
- Hiện tượng ngao di chuyển nổi trong nước: Khi gặp biểu hiện môi
trường không thích hợp, ngao có thể nổi lên trong nước và di chuyển
tới vùng khác bằng cách tiết ra một túi nhầy hoặc một dải chất nhầy để
giảm nhẹ tỷ trọng cơ thể và nổi lên được trong nước và theo dòng nước
triều di chuyển tới nơi khác. Ngao có thể nổi lên ở độ cao 1,2m. Ngao
thường di chuyển vào mùa hạ, mùa thu. Mùa hạ ngao sống ở vùng triều
cao, bãi cạn chịu thời gian chiếu nắng dài làm cho bãi cát nóng lên
ngao phải di chuyển theo nước triều rút xuống vùng sâu hơn. Mùa thu
nhiệt độ hạ dần, gió thổi liên tục làm cho nhiệt độ giảm nhanh ngao
không chịu được phải di chuyển xuống vùng sâu. Mặt khác, sự di chuyển
của ngao cũng có quan hệ tới sinh sản. Khi ngao lớn tới 5-6cm ở giai
đoạn sinh dục thành thục ngao thường di chuyển nhiều.
Đặc điểm này phải được hết sức chú ý, giữ không cho ngao đi mất. Người
ta thường dùng dây cước sợi 3 x 3 căng ở đáy 3cm theo chiều vuông góc
với đường nước triều rút, dây căng sẽ cắt đứt tuyến nhầy của ngao và
ngao sẽ bị chìm xuống đáy. Phương pháp này rất có hiệu quả với ngao cỡ
3-5cm.
2. Tính ăn:
Phương thức bắt mồi ăn của ngao là bị động. Khi triều dâng ngao thò
vòi lên cát để lọc mồi ăn, chọn những hạt, vụn hữu cơ có cỡ to nhỏ
thích hợp là được. Thức ăn chủ yếu của ngao là tảo khuê, các mảnh vụn
và chất vẩn cặn hữu cơ.
3. Sinh trưởng:
Ngao dầu 1 tuổi có khối lượng 5-7g, 2 tuổi có khối lượng 12g.
Thời gian lớn nhanh vào tháng 4-9, lúc này nhiệt độ thích hợp. Hai năm
đầu ngao lớn nhanh sau chậm dần. Ngao dầu có cỡ cá thể lớn tới 13cm,
cao 11cm, dầy 5,8cm.
Sức lớn của ngao có liên quan chặt chẽ với vùng phân bố có nhiều hay
ít mồi ăn, vùng cửa sông có nhiều thức ăn, hàm lượng oxy dồi dào ngao
lớn nhanh, ngao sống ở vùng triều thấp lớn nhanh hơn ở vùng triều cao.
4. Sinh sản:
Ngao đực, cái là dị thể. Trứng và tinh trùng phóng ra thụ tinh trong
nước. Ngao 1 tuổi có thể thành thục. Nhìn bề ngoài không phân được đực
cái, nhưng khi tuyến sinh dục thành thục có thể dựa vào màu sắc tuyến
sinh dục để phân biệt. Ngao cái có màu vàng nhạt, ngao đực có màu
trắng sữa. Mặt khác ở ngao đực đã thành thục tốt khi làm vỡ phần mềm ở
dưới bụng tinh dịch sẽ chảy ra nhưng ở con cái dù thành thục ở mức độ
tốt cũng không có hiện tượng chảy ra.
Mùa sinh sản của ngao vào hè thu; lượng trứng của ngao có quan hệ với
cỡ cá thể to nhỏ. Con lớn có tới 600 vạn trứng, ngao có khối lượng 5g
lượng ôm trứng vượt quá 20 triệu hạt. Ngao có khối lượng 5,4g mỗi lần
đẻ 40 vạn hạt.
Phương thức sinh sản của ngao là phần sau của thân thò vòi lên mặt
nước. Tinh trùng, trứng rụng vào xoang rồi qua vòi nước từ từ tuôn ra.
Sau đó khuyếch tán trong nước biển. Thời gian đẻ của một con cái kéo
dài tới 1 giờ. Trong bể đẻ khi ngao đẻ rộ làm cho nước biển trong sạch
trở nên rất vẩn đục. Phương thức đẻ của ngao rất độc đáo dù là triều
cường hay triều nhỏ, ban ngày hay ban đêm đều có thể đẻ trứng. Ngao đẻ
trứng phân theo đợt, thời gian cách nhau có khi là nửa tháng và có khi
tới một tháng.
5. Sự phát triển của phôi:
Trứng thụ tinh phát triển thành ấu trùng, qua 10 ngày sống phù du sau
đó mới chuyển sang sống bám.
Ở nhiệt độ 25oC thụ tinh sau 15 phút xuất hiện thể cực thứ nhất, 20
phút sau xuất hiện thể cực thứ hai, tiếp đó bắt đầu phân cắt tế bào.
Lần phân cắt thứ nhất cắt dọc từ cực động vật xuống cực thực vật thành
hai khối cầu to nhỏ không bằng nhau, qua phân cắt nhiều lần, tế bào
hình thành dạng xoáy ốc từng bậc từng bậc. Sau thời kỳ phân cắt thành
64 tế bào, phôi kéo dài khoảng 70-80µm, thành hình cầu, xung quanh có
nhiều lông tơ bắt đầu quay tròn trong nước là thời kỳ phôi nang, 3 giờ
sau xuất hiện vòng lông tơ, ở giữa có bó tiêm mao gọi là trùng bánh xe
(Trochophora) dài khoảng 80µm, 5-6 giờ sau xuất hiện ấu trùng vỏ,
18-24 giờ sau hình thành ấu trùng hình chữ D, rồi thành ấu trùng đỉnh
vỏ(???). Ở nhiệt độ 25oC, tỷ trọng nước 1020, sau 11 ngày phát dục của
phôi hình thành sò non, biến thái sống bám.
Ngao dầu đẻ vào mùa hạ, sau một thời gian phát triển và sinh trưởng có
vỏ dài 1cm. Mùa xuân năm sau dài 2-3cm và nuôi được một năm lớn tới
4-6cm.
IV.KỸ THUẬT NUÔI
NGAO
1. Lấy giống ngao
tự nhiên:
a) Chọn bãi lấy giống
Chọn vùng bãi, eo vịnh có sóng gió nhỏ, nước triều lên xuống êm, thông
thoáng đáy là cát bùn (cát 70-80%, bùn 20-30%). Độ mặn thích hợp
19-26‰, có lượng nước ngọt nhất định chảy vào làm bãi lấy giống.
Trường hợp có bị ảnh hưởng của lũ thì phải làm bờ chắn lũ. Bờ phải
vững chắc, đáy rộng 1-1,5m độ cao tuỳ theo mực nước tràn vào. Phía
trong bờ chắn lũ là các bờ ngăn vuông góc với bờ chắn lũ, mặt bờ rộng
khoảng 30-40cm. Trên mặt vùng bãi ngăn thành nhiều ô lấy giống.
b) Dọn bãi chỉnh bãi
Dọn bãi, chỉnh bãi vào trước mùa sinh sản của ngao. Dọn bỏ các vỏ
nhuyễn thể lớn, gạch đá và lấp các chỗ trũng, sau đó bừa cho xốp đáy
và san lại cho bằng phẳng để giống bám nhiều. Vùng có nước triều chảy
mạnh có thể cải tạo bằng cách đóng cọc để giảm lưu tốc nước, nâng cao
lượng giống bám.
c) Quản lý bãi
Nội dung quản lý chủ yếu bao gồm chống nước lũ tràn vào, chống nóng,
không cho người đi vào bãi, chống địch hại. Thường xuyên kiểm tra
giống bám, tu chỉnh bờ, dọn mương, diệt trừ địch hại.
d) Lấy giống
Sau khi giống bám được 5-6 tháng, cơ thể ngao đạt 0,5cm thì có thể thu
giống.
* Phương pháp lấy giống khô:
Chia bãi giống thành từng ô ruộng nhỏ, rộng khoảng 4-5m chiều dài tuỳ
theo địa hình. Khi triều rút, dùng cào (bừa) ngao cào cả giống và cát
từ hai bên ruộng vào giữa. Nếu ngao giống vùi sâu thì dùng cào tay làm
như vậy liên tiếp trong 2 lượt triều, tập trung ngao giữa ruộng với bề
rộng khoảng 1,5m. Khi triều dâng ngao kiểm mồi ăn sẽ bò hết lên trên,
tập trung thành đống trên mặt bãi. Sau khi hoàn thành việc dồn ngao
giống và cát vào giữa ruộng thì đào một hố dài 3m, rộng 2m sâu 20cm
ngay bên ruộng để đưa giống xuống sàng và rửa cát ở đây.
Nếu dùng phương pháp cào bằng cào ngao có 4 răng, lật cả cát và ngao
giống lên thì sau đó ngoáy cho tan thành nước bùn, đợi cho ngao bò lên
mặt bùn rồi thu giống.
* Phương pháp lấy giống nước nông:
Khi triều cạn chia bãi thành các mảnh dài, rộng khoảng 8m, sau đó dùng
cào ngao, cào xung quanh cả cát và ngao thành một đống hình tròn có
đường kính 6m. Lần triều sau dùng cào phân ở chính giữa bãi giống
thành một ô trống có đường kính 3m, sâu 3cm.
Lần triều sau nữa khi triều rút, dồn ngao giống ở xung quanh đống vào
chính giữa đất trống, sau đó là rửa giống. Khi triều rút xuống còn
khoảng hơn 1m nước sâu thì đi thuyền xuống bãi rửa giống. Khi nước còn
sâu thì người lấy giống dùng chân đạp nước xung quanh bãi giống, ngao
giống kiếm ăn ở ngoài mặt quanh đống giống do bị dòng nước kích thích
sẽ tập trung thành đống ở chính giữa. Sau đó dùng sọt tre hớt giống
vào trong thuyền. Khi triều rút tương đối cạn thì dùng bàn tay vỗ nước
ở xung quanh đống giống từ xung quanh vào giữa, nước chảy làm cho ngao
dồn vào chính giữa, dùng sọt tre lấy giống đổ lên thuyền.
* Phương pháp lấy giống nước sâu:
Ngao sống ở vùng hạ triều, khi thu giống phải dùng lưới kéo. Khi thu
giống chèo thuyền tới bãi giống, xác định vị trí thả neo sau đó thả
dài dây neo, thuyền theo nước lùi về sau khi cách neo được 50m thì
dừng lại thả lưới giống, kéo dây neo để thuyền tiến về phía trước kéo
theo lưới giống, cách khoảng 10m thì thu lưới. Tiếp đó lại thả dây
neo, thuyền lùi lại thu lần thứ hai nhưng phải giữ hướng lái tốt để
giữ cho thuyền và hướng nước chảy theo một góc độ nhất định, tránh
việc kéo giống ở trên điểm cũ.
2. Sinh sản nhân tạo
a) Chọn ngao bố mẹ
Chọn ngao có chiều dài thân trên 4cm, vỏ ngoài hoàn chỉnh không bị
thương, cầm ngao lên thấy nặng, mở vỏ thấy bên trong nội tạng đầy đặn.
b) Kích thích sinh sản
Số ngao chọn ra kích thích bằng cách để khô ở nơi không có ánh sáng
trực tiếp 5-7 giờ, sau đó dùng nước biển cho chảy kích thích 3-5 giờ.
Sau đó lại ngâm ngao trong dung dịch nước biển có NH4OH 0,15-0,25‰ (
lấy NH4OH 25-28% làm chuẩn 100%, sau cho nước biển đã qua lọc vào pha
chế theo nồng độ cần thiết). Dùng biện pháp kích thích tổng hợp 3 yếu
tố trên sau đó lại tăng nhiệt lên khi ngâm ngao trong dung dịch NH4OH
thì thích hợp, đạt kết quả kích thích sinh sản tốt. Thường ngâm không
quá 30 phút thì ngao đực sẽ phun ra tinh dịch ở vòi nước ra, trắng như
sữa, ngao cái phun trứng từ vòi nước ra có màu vàng nhạt và chìm xuống
đáy. Trứng ngao có hình cầu, đường kính 72-90µm. Trứng có màng bao thứ
cấp ở ngoài, trong suốt.
c) Thu trứng, tinh trùng, cho thụ tinh
Để thu được tinh trùng, trứng tinh khiết, khi ngao bố mẹ bắt đầu phóng
trứng, phóng tinh thì chọn ngay ngao đực, cái để riêng vào dụng cụ
bình chứa đã chuẩn bị sẵn, để chúng tiếp tục phóng trứng, tinh cho đến
khi kết thúc. Sau đó lọc sạch tinh trùng và trứng riêng, loại bỏ tạp
chất dịch nhớt, tiến hành thụ tinh. Ngao thụ tinh với đơn tinh trùng,
khi cho thụ tinh nhân tạo, tinh dịch không nên dùng nhiều, thường chỉ
có vài tinh trùng khoẻ mạnh hoạt động quanh trứng ngao là được. Thụ
tinh xong phải rửa trứng nhiều lần, loại bỏ các trứng không thành thục
chìm lắng xuống đáy chậm, và tinh dịch dư thừa. Cho trứng thụ tinh ấp
nở trong dung dịch nước biển sạch, mới. Ở nhiệt độ nước 26,5-33oC tỷ
trọng nước, 1,020-1,024, pH 8,1. Sau 12 giờ trứng thụ tinh phát triển
đến ấu trùng hình chữ D. 6 ngày sau chuyển sang thời kỳ biến thái, 8-9
ngày sau thành ngao con và chuyển sang sống vùi ở đáy. Ở thời kỳ ấu
trùng và ngao bột, bắt buộc phải cho ăn thức ăn thích hợp, có thể dùng
các loại tảo kim, tảo dẹt, tảo khuê làm thức ăn cho ấu trùng ngao và
ngao bột. Nhìn chung cho ăn hỗn hợp tốt hơn là cho ăn đơn một loại
thức ăn. Khi ấu trùng chuyển sang thời kỳ sống đáy thì phải thả chất
đáy. Chất đáy gồm 5-7% bùn, 93-95% cát. Cần lấy cát ở vùng có ngao
giống phân bố ngoài tự nhiên là thích hợp. Cát lấy về cần rang và đun
sôi khử trùng. Loại bỏ tạp chất, địch hại trong cát. Dùng sàng 46,5
mắt/cm2 để sàng cát.
Đổ cát và bùn vào bể với bề dày 0,5cm là được.
Quá trình ương nếu thấy có nhớt ở ấu trùng thì phải cho sàng ngay với
mắt lưới 46,5 mắt/cm2 để giữ lại ngao, rửa sạch nhớt và thay 100% nước
trong bể. Nếu để nhớt cuốn vào ngao, ngao sẽ chết.
Ương nuôi ngao trong bể trong phòng khi ngao đạt trên 1mm thì chuyển
ra bể ương ngoài trời.
Ương ở bể ngoài trời cho đến khi ngao đạt cỡ trên 4mm thì đưa ra bãi
ương.
3. Nuôi ngao thịt:
a) Chọn bãi nuôi
Chọn bãi triều, eo vịnh có sóng gió nhỏ, nước triều lên xuống êm,
thông thoáng, có lượng nước ngọt nhất định chảy vào, đáy là cát bùn,
cát chiếm 60-80%. Bãi ở trung, hạ triều là thích hợp; Độ mặn từ
19-26‰.
Chỉnh bãi: trước khi thả giống phải chỉnh bãi như đối với bãi ngao
giống. Chỗ bãi có đáy rắn phải làm cho xốp lên rồi san bằng; để giữ
cho mặt bãi không tích nước phải khai mương nhỏ.
Trước khi thả giống ở phía cuối bãi dùng đăng tre hoặc lưới chắn xung
quanh với độ cao 0,6-0,7m, chân đăng (lưới) vùi sâu xuống bùn cát từ
0,2-0,3m. Cắm cọc, cách đều nhau 1,2-1,5m để dựng lưới và ngả lưới vào
phía trong bãi.
Trường hợp không dùng đăng lưới thì đắp bờ.
Trên mặt bãi căng nhiều giây ngang để giữ không cho ngao đi.
b) Mật độ thả giống
Thường thả:
100kg/1000m2 với cỡ giống 5 vạn con 1 kg.
110kg/1000m2 với cỡ giống 4 vạn con 1 kg.
140kg/1000m2 với cỡ giống 3 vạn con 1 kg.
180kg/1000m2 với cỡ giống 2 vạn con 1 kg.
c) Chăm sóc quản lý:
Quá trình nuôi thường gặp hiện tượng ngao bị chết hàng loạt, nguyên
nhân chủ yếu là:
* Nhiệt độ cao xuất hiện vào tháng 7-8, lúc này ngao giống đang còn
yếu.
* Vùng bãi đã nuôi 3 mùa ngao, chất hữu cơ lắng đọng tăng lên tới 5-6
lần so với bình thường, có thể thấy lớp cát đen dày tới vài cm và có
mùi khí thối H2S, do vậy phải bừa lật mặt đáy lên phơi bãi.
Các yếu tố khác có thể dẫn tới làm chết hàng loạt là tỷ trọng thay đổi
đột ngột, vùng nước bị ô nhiễm, mật độ dày...
4. Thu hoạch: Thu hoạch vào mùa xuân, thu dễ bảo quản, thu
hoạch vào mùa hè nhiệt độ cao khó bảo quản.
Có các phương pháp thu hoạch sau:
(1) Lợi dụng tính hướng cọc gỗ của ngao để thu. Trên bãi cứ cách 1,5m
đóng một cọc gỗ có đường kính 4-5cm, dài 65-70cm. Sau một thời gian
ngao sẽ tập trung ở xung quanh cọc gỗ với bán kính 30cm, lúc này bắt
rất thuận tiện.
(2) Dùng con lăn đá, khi con lăn lăn qua rồi ngao ở dưới bị ép sẽ phun
nước lên, từ chỗ có nước phun có thể bắt ngao.
(3) Dùng chân đạp trên nước nông để bắt. |