|
I/
MỞ ÐẦU
Rong sụn có tên khoa học là Kappaphicus alvarezii là nguyên
liệu chủ yếu để chế biến Carrageenan - loại chế
phẩm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực kinh
tế như chế biến thực phẩm, y dược, mỹ phẩm. Ðặc
biệt có tính ưu việt về hàm lượng các nguyên tố vi lượng
hữu ích như: Mg, Cu, Fe, Mn,...là một loại Polysacharide có
tính nhũ hóa cao, có thể giải độc, chữa các bệnh mãn
tính, làm nguyên liệu keo,.... Chính vì vậy nhiều nước
trong khu vực như: Philippines, Inđônnêsia, Tanzania... đã đầu
tư cho nghiên cứu và sản xuất loài rong này, mỗi năm trên
thế giới sản xuất được hơn 100.000 tấn sản phẩm.
Một số nhà khoa học trên thế giới đã xếp rong sụn vào
thực đơn quan trọng trong đời sống con người ở thế
kỷ 21.
Rong
sụn là loài rong biển nhiệt đới, có nguồn gốc từ
Philippines. Tháng 2/1993 Phân
Viện khoa học vật liệu Nha Trang di nhập về Việt Nam
từ Nhật Bản thông qua chương trình hợp tác khoa học
Việt Nam - Nhật Bản.
Tháng 10/1993 được sự giúp đỡ của Phân Viện khoa học
vật liệu Nha Trang, Trung tâm khuyến ngư Ninh Thuận đã
nhận 5 kg rong sụn về
trồng thử nghiệm tại đầm Sơn hải và từ đó đến
nay rong sụn đã không ngừng phát triển và lan rộng ra
một số tỉnh như Phú yên, Khánh Hòa, Kiên Giang,... Ðến
nay có thể khẳng định rong
sụn là đối tượng trồng tương đối phù hợp với
mọi loại hình mặt nước và được đánh giá là có
nhiều ưu thế hơn hẳn một số loài rong biển kinh tế
hiện có ở địa phương tạo ra nguồn nguyên liệu cho
chế biến, xuất khẩu.
Cho đến nay trồng rong sụn đã trở thành một nghề nuôi
trồng thủy sản mới cho người dân ven biển Ninh Thuận
mang lại hiệu quả kinh tế cho người trồng góp phần vào
chương trình xóa đói giảm nghèo cho người dân sống ở
các vùng ven biển. Tuy nhiên nghề trồng rong sụn hiện nay
đang gặp nhiều khó khăn trong việc lưu giữ giống, giảp
pháp trồng ngoài bãi triều và cách sơ chế bảo quản đạt
tiêu chuẩn cho sử dụng trong công nghiệp. Ðể giúp cho người
trồng rong sụn đạt kết quả cao hơn, trung tâm khuyến ngư
biên soạn tài liệu: "
Kỹ thuật trồng rong sụn".
Vì khả năng có hạn, tài liệu chắc chắn không tránh
khỏi thiếu sót, chúng tôi rất mong được sự đóng góp
ý kiến của các bà con cùng bạn đọc.
II.
KỸ THUẬT TRỒNG RONG SỤN.
2.1/
Ðặc tính sinh học của rong sụn
2.1.1/
Ðộ mặn
Rong sụn là loài rong ưa mặn chỉ sinh trưởng và phát
triển tốt ở vùng nước có độ mặn cao (28 -320/00),
ở độ mặn thấp (18-200/00) rong sụn
chỉ có thể tồn tại trong thời gian ngắn (5-7 ngày) và
nếu kéo dài nhiều ngày rong sẽ ngừng phát triển và
dẫn đến tàn lụi.
2.1.2/
Dòng chảy và lưu thông
Rong phát triển tốt ở vùng nước
thường xuyên trao đổi và luân chuyển (tạo ra do dòng
chảy, dòng triều hay sóng bề mặt). đây là yếu tố
cực kỳ quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng
và phát triển cũng như chất lượng của rong sụn.
2.1.3/
Nhiệt độ
Nhiệt độ thích hợp nhất để rong sụn sinh trưởng và
phát triển là 25 -280C. Nhiệt độ cao hơn 30 0C
và thấp hơn 200C sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng
của rong, nếu nhiệt độ thấp hơn 15 -18 0C
rong ngừng phát triển.
2.1.4/
Cường độ ánh sáng
Thích hợp nhất 30.000 - 50.000 lux, ánh sáng cao quá hay
thấp quá ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển
của rong.
2.1.5/
Yêu cần dinh dưỡng
Trong điều kiện nhiệt độ không quá cao, nước được
trao đổi thường xuyên rong sụn hầu như không đòi hỏi
nhiều về các chất dinh dưỡng, các chất dinh dưỡng có
sẵn trong nước biển đủ cung cấp cho cây rong Sụn phát
triển. Chỉ trong điều kiện nước tỉnh, ít được trao
đổi và nhiệt độ nước cao (mùa nắng - nóng, trong các
thủy vực nước yên như : ao, đìa nhân tạo) rong sụn đòi
hỏi dinh dưỡng (các muối Amon và Phot phat) cao hơn cho sự
sinh trưởng. Nhìn chung ở các vùng có hàm lượng các
muối dinh dưỡng (Amon, Nitrat, Phot phat) cao, tốc độ sinh
trưởng của rong sụn cao và có thể giúp cây rong sụn phát
triển bình thường trong các điều kiện không thuận
(nhiệt độ cao, độ muối thấp, nước ít lưu chuyển,.)
2.2/
Chọn vùng trồng rong sụn
Việc chọn vùng trồng có tính quyết định đến năng
suất, chi phí sản xuất, tính ổn định ( thời gian
trồng quanh năm, hay theo mùa thích hợp) hiệu quả kinh tế
trong trồng rong sụn, các yêu cầu chủ yếu trong việc
chọn vùng trồng như sau:
- Nước có độ muối cao ( 28-300/00) và
ổn định, xa các nguồn nước ngọt trực tiếp
đổ ra.
- Ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của sóng gió mạnh (làm
gãy dàn trồng và gãy nát
rong) của các mùa gió (Ðông Bắc và Tây Nam).
- Nước luôn được luân chuyển hay trao đổi tốt (thường
tạo ra do các dòng chảy, dòng triều hay sóng gió bề
mặt). Các nơi có dòng chảy tốt nước thường xuyên lưu
chuyển với lưu tốc vừa phải ( 20 - 40m/phút) sẽ làm cho
cây rong luôn được rửa sạch, đặc biệt giúp cho cây
rong chống lại được các điều kiện môi trường
bất lợi (nhiệt độ, độ muối, pH, các chất khí
hòa tan,.) gây hại đối với sự sinh trưởng của cây
rong.
- Ðối với các bãi ngang, vùng triều cạn, khi thủy
triều rút thấp nhất nước phải còn lại ở độ sâu ít
nhất 0,5 m, đảm bảo rong không bị phơi ra ngoài không khí
và biên độ thủy triều không nên lớn quá 2m, nếu cao quá
sẽ khó khăn trong hoạt động trồng, chăm sóc, thu
hoạch,.
- Ðáy vùng trồng tốt nhất là đáy cứng ( cát thô đến
san hô vun, thêm vào đó nếu có nhiều rong biển và cỏ
biển tự nhiên mọc điều đó chứng tỏ nước ở đó
luân chuyển và trao đổi tốt. Ðáy cát (mịn) bùn
hay bùn cát đều ít tốt cho trồng rong Sụn, nó chứng
tỏ dòng chảy của nước ở đây yếu.
Nhìn chung rong sụn có thể trồng ở các thủy vực và
mặt nước khác nhau ven biển và ở các đảo từ độ sâu
0,5 -5 -10 m, có thể trồng quanh năm ( ở các diện tích có
điều kiện môi trường, nhất
là độ mặn và sóng gió, thích hợp và ổn định ; hoặc
theo mùa có điều kiện môi trường thích hợp. Song vùng
trồng thích hợp và mang lại hiệu quả cao là vùng nước
vừa đảm bảo được các yêu cầu về điều kiện sinh
thái môi trường ổn định qua các mùa, dàn trồng và cây
rong ít bị hư hại do tác động cơ học của gió to sóng
lớn qua các mùa, chi phí cho trồng rong thấp, các hoạt động
trồng (làm dàn rong, buộc giống, chăm sóc, thu hoạch,. ) có
thể thực hiện dễ dàng .. Kinh nghiệm cho thấy các vùng
bãi ngang đáy cát vùng triều có độ sâu thấp và vừa
phải ở ven biển. Ven các đầm phá, ven đảo là thuận
lợi cho trồng rong sụn.
2.3/
Chọn rong giống
- Ta chọn các loại rong
khỏe, đường kính thân rong 3-5 mm, nhánh dài 5 -7 cm, có màu
xanh lục thẫm. mượt, không có rong tạp bám.
- Rong được bẻ thành những cụm nhỏ có trọng lượng
từ 100 - 150g/cụm làm giống.
- Lưu ý khi chuyển giống từ nơi khác đến nơi trồng
cần phải có biện pháp che nắng, giữ độ ẩm cho rong.
2.4/
Cách trồng và bố trí giàn rong
2.4.1
Cách trồng ở các thủy vực.
Có thể trồng rong sụn bằng nhiều hình thức khác nhau như:
Trồng đáy, trồng bằng dàn bè, trồng bằng hình thức dây
đơn căng trên đáy, trong đó hiện nay tại Ninh Thuận phương
pháp trồng bằng dây đơn căng trên đáy được áp dụng
rộng rãi và được đánh giá là có nhiều ưu điểm hơn
cả.
a/
Trồng ở các đầm vịnh ít sóng gío theo phương pháp dây
đơn căn trên đáy:
- Chọn các khu vực bằng
phẳng, dọn sạch rong tảo và các loại thực vật khác.
- Dùng cọc tre có đường kính 3-5cm, chiều dài 1-1,2m. các
cọc được đóng thành hàng xuống đáy, mỗi cọc cách
nhau 0,7-1m, hai hàng cọc cách nhau 10m, ở khoảng giữa có
thể xen 1 cọc phụ. Các hàng cọc nên đặt thẳng góc
với hướng gió để cho các dây rong song song với hướng
gío.
-
Buộc dây căng bằng sợi cước nilon đường kính 1 -2mm
ở giữa hai hàng cọc. Dây căng cách đáy 0,2 - 0,5m, trên các
dây căng có buộc các phao để cố định cách mặt nước
0,3 - 0,4m.
- Dùng dây nilon mềm, cắt đoạn 20cm, một đầu buộc vào
bụi rong giống, đầu kia buộc vào sợi dây căng. Khoảng
cách buộc giữa hai bụi rong từ 0,25 - 0,3m.
b/ Trồng ở bãi triều, ở các khu vực nước sâu theo phương
pháp giàn bè có phao nổi
- Dùng gỗ hoặc tre ống dài 4-5m làm thành khung hình chữ
nhật có kích thước 3x4 m. Xung quanh bao lưới để giảm sóng,
tránh cá tạp ăn rong.
- Buộc dây thừng hay dây nilon
f
=0,5 -1 cm của các cạnh đối nhau.
- Buộc các dây căn trong khung thành từng dãy cách nhau 0,4
m hàng cách hàng 0,4 m
- Rong giống được buộc vào các dây căng cách nhau 0,25
-0,3 m tùy từng điều kiện và cách trồng quyết định
vật liệu làm khung.
- Các đầu góc của khung được buộc dây và neo chặt
xuống đáy, bên trên buộc các phao nổi. Dây nối giữa các
phao và giàn dài 3-4 m dưới khung cố định để giữ bè
rong luôn luôn cách mặt nước 0,4 -0,5 m
c/
Trồng trong ao nuôi tôm
- Trong ao nuôi tôm có thể trồng luân canh 1 vụ tôm 1 vụ
rong để hạn chế sự ô nhiễm môi trường ao nuôi. Chọn
những ao có 2 cống lấy nước, xả nước độ mặn ổn
định 260/00 trở
lên, mực nước trong ao từ 0,8 -1,0 m, độ trong 50 -60 cm.
- Có thể rải rong giống trực tiếp trên đáy, hoặc dùng
rong giống buộc vào dây đơn cố định bằng phao, hoặc
cọc cách đáy
0,2 -0,3 m.
- Mật độ trồng: 500g/m2.
(Theo
Trung tâm Khuyến ngư tỉnh Ninh Thuận)
|