|
1.
Kỹ thuật cấy ngọc không nhân
1.1
Dụng cụ : Dụng cụ dùng để cấy ngọc phải làm bằng những
kim loại không rỉ, các giá làm bằng gỗ phải chọn gỗ
không có độc tố hoặc không dễ biến dạng, trừ kéo,
panh và panh cong dùng ở nhãn khoa trong y tế ra các dụng
cụ khác phải chế tạo riêng theo yêu cầu thủ thuật
cấy ngọc.
Khi
dùng thìa có đường kính 3mm để đưa nhân vào thì chỉ
có thể cấy nhân to từ 5 - 6mm, khi dùng thìa đường kính
5mm thì chỉ cấy nhân to 7 - 8 mm, thìa 7mm thì cấy nhân to
9 - 10mm. Vì vậy, phải mua đồng bộ đầy đủ các qui
cỡ các dụng cụ, ngoài ra khi thao tác còn phải có thanh
tre hoặc miếng kim loại để cố định vỏ không khép
lại, miếng kính thuỷ tinh hoặc gỗ tốt để làm thớt
cắt nhân.
1.2
Trai cắt làm tế bào và trai để cấy ngọc :
(Trai
cắt để làm tế bào cấy nhân gọi là trai nhân và trai
cấy nhân vào để nuôi lấy ngọc gọi trai ngọc) 1 miếng
tế bào cấy vào sẽ thành 1 viên ngọc; một con trai có
thể cấy vào 40 miếng tế bào như vậy sẽ có được 40
viên ngọc, cho nên chất lượng của miếng tế bào cấy vào
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng ngọc sau này.
Trai nhân nên chọn loại dưới 3 tuổi, tuyến sinh dục chưa
đến thành thục và trước khi phẫu thuật phải được
nuôi vỗ tích cực từ 3 - 5 tháng để đảm bảo các
miếng tế bào cắt ra khoẻ mạnh cường tráng đầy sức
sống.
ảnh
hưởng của các miếng tế bào do độ tuổi của trai nhân
đến chất lượng ngọc xanh được nêu ra ở bảng dưới
đây :
ảnh
hưởng tuổi trai nhân đến chất lượng ngọc:
|
Tuổi trai nhân
|
Tỉ lệ ngọc tốt %
|
|
Tuổi trai ngọc
|
|
2 - 3 tuổi
|
4 - 5 tuổi
|
6 - 8 tuổi
|
10-12 tuổi
|
|
2 - 3 tuổi
|
80
|
80
|
76
|
50
|
|
4 - 5 tuổi
|
50
|
60
|
50
|
50
|
|
6 - 8 tuổi
|
20
|
25
|
25
|
15
|
Tỉ
lệ giữa trai nhân và trai ngọc ở ngọc không nhân là : 1
: 1 hoặc 1,5 : 1. ở ngọc có nhân là 1 : 10 hoặc 1 : 15.
Các
cơ sở nuôi trai cấy ngọc nên nắm vững nguyên tắc là
tự cho đẻ, tự nuôi, có như vậy, mới phòng trị bệnh
tốt và cân đối được nguồn nguyên liệu bảo đảm
sự phát triển nghề nuôi cấy ngọc.
1.3
Nguyên lý hình thành ngọc : Trong tự nhiên sự hình thành ngọc
không nhân là do các tế bào tiết ra chất ngọc tăng trưởng
một cách không bình thường dần dần thành túi ngọc, các
tế bào trong túi ngọc không ngừng tiết ra chất ngọc
cứ thế hình thành từng lớp ngọc.
Trong
nuôi cấy ngọc trai nhân tạo, người ta đưa vào nguyên lý
hình thành ngọc tự nhiên, tách các tế bào tiết chất
ngọc ở bên cạnh màn áo ngoài cắt thành từng miếng
tế bào nhỏ rồi cấy vào mô liên kết của trai, miếng
tế bào cấy vào sinh trưởng phát triển thành túi ngọc -
tiết ra chất ngọc - thành viên ngọc.
1.4
Chế tạo miếng tế bào :
1.4.1
Trình tự tiến hành :
Ðầu
tiên tách phần thượng bì bên trong và bên ngoài màn áo
ngoài, vứt bỏ phần thượng bì bên trong, giữ lại phần
thượng bì bên ngoài, chỉ có phần màu viền ngoài mới có
chức năng tiết ngọc.
Phương
pháp tách màn áo ngoài có nhiều cách hoặc cắt bỏ hoặc
tách riêng ra, dù là cách nào cũng phải bỏ sạch phần thượng
bì bên trong đi, để phần thượng bì bên ngoài rõ ràng
sạch sẽ như vậy sau khi cấy vào 2 mô liên kết mới hoà
nhập vào nhau.
1.4.2
Những điều cần chú ý khi chế tạo miếng tế bào cấy
:
-
Khi đem miếng thượng bì đặt lên tấm kính hoặc tấm
gỗ để cắt chú ý đặt phần mô liên kết áp mặt kính
còn phần tiết ngọc ở phía trên;
-
Cắt bỏ hết tế bào sắc tố và phần thịt gần màn áo
ngoài;
-
Khi tẩy lau mặt tiết ngọc dùng miếng bông ướt, nhẹ nhàng
thấm lau qua, tuyệt đối không được dùng vật cứng va
chạm vào;
-
Miếng tế bào cắt thành hình vuông để khi cấy ngọc thành
hình tròn;
-
ở phòng cấy ngọc tuyệt đối không có khói, không có mùi
các chất độc như formol, aceton, rượu ...
1.4.3
Dung dịch nuôi tế bào cấy : Các miếng tế bào cắt ra
phải cho ngay vào dung dịch nuôi dưỡng để :
-
Duy trì miếng tế bào có độ ẩm và sự trao đổi chất
bình thường;
-
Duy trì sự cân bằng thẩm thấu trong và ngoài tế bào;
-
Giữ ổn định pH và môi trường trung tính.
Các
loại dung dịch nuôi :
+
Dung dịch PVP với dịch giữa các tổ chức trong cơ thể
trai; tức là dịch nước giữa màn áo ngoài và các tổ
chức, phối hợp với 1,5% dung dịch PVP, khi sử dụng dùng
kim tiêm thọc vào chỗ mô liên kết của màn áo ngoài hút
0,5 cc + 0,5 cc dịch PVP nồng độ 1,5% (Dùng dịch 1,5% PVP là
gồm 45% PVP + muối photphoric pha loãng đến nồng độ
1,5%);
+
Hợp chất năng lượng : Gồm ATP (adenosine trìchosphate),
mỗi ống gồm ATP 20mg, coenzyme A 50 đơn vị, khi dùng lấy
nước ao lọc pha loãng 1000 lần;
+
Sắc tố tế bào C : Là hoạt chất hô hấp tế bào, mỗi
ống 15 ml khi dùng lấy nước ao lọc pha loãng 1000 lần.
1.5
Cấy tế bào :
Thủ
thuật cấy :
- Phương
pháp cấy : Dùng dụng cụ tách 2 vỏ trai cho que cố định
vào, đối với trai điệp khẩu độ mở từ 0,6 - 0,8cm,
trai nhăn có khẩu độ mở 1cm, dùng kim tạo thành miệng
lỗ trên màn áo ngoài, dùng panh kẹp miếng tế bào đưa vào
lỗ cấy trong màn áo ngoài giữa các mô liên kết. Miệng
lỗ cấy không nên quá to hoặc quá nhỏ, tốt nhất đưa
lọt miếng tế bào vào không bị thò ra ngoài. Sau khi cấy
vào dùng panh kéo miếng tế bào về phía đáy lỗ có
dạng hình cầu;
-
Số lượng cấy : Mỗi con trai có thể cấy 40 - 60 miếng
tế bào, chủ yếu tập trung ở phần nửa thân sau; phần
màn áo ngoài phía trước có thể mỏng cho nên nếu có
cấy tế bào vào chỉ nên chọn những miếng tế bào nhỏ
nếu không rất dễ sinh ra các ngọc xấu.
Mỗi
một bên trên màn áo ngoài cấy 3 - 4 hàng, mỗi hàng cấy
7 - 9 tế bào.
2.
Kỹ thuật cấy ngọc có nhân
Những
hạt ngọc có nhân thường to, mặt ngọc trơn, không có
nếp nhăn, tròn trĩnh.
2.1
Nguyên lý hình thành ngọc :
Sau
khi cấy nhân vào đồng thời cũng cấy 1 miếng tế bào,
miếng tế bào này sẽ phát triển bao quanh nhân tạo thành
túi ngọc, tế bào thượng bì của túi ngọc không ngừng
tiết ngọc ra cứ thế bao phủ lên nhân thành viên ngọc.
Nhân
ngọc làm bằng vỏ trai, qua chế biến gia công và dùng các
loại acid, base và nước oxy già xử lý để mài mòn, trơn
bóng cho nên thành phần vỏ trai để làm nhân bị thay đổi.
Ðể nâng cao năng lực hấp dẫn của nhân đối với
miếng tế bào cấy vào, trước khi cấy nhân phải xử lý
nhân. Mục đích là bổ sung thêm những thành phần bị
mất đi hoặc loại trừ những thành phần khác bám dính vào
trong quá trình gia công nhân, làm như vậy giữ được thành
phần vốn có của nhân tăng thêm lực hút đối với tế
bào cấy vào. Các nhân được xử lý như trên có tỉ lệ
kết hạt rất cao (trên 98%), phẩm chất của ngọc cũng
tốt hơn.
2.2
Thủ thuật cấy nhân : Có 3 cách :
-
Thủ thuật đặt trước : Cấy nhân trước, cấy tế bào
sau;
-
Thủ thuật đặt sau : Cấy tế bào vào đáy miệng trước
sau mới cấy nhân;
-
Thủ thuật cùng lúc : Ðem miếng tế bào đặt dính vào nhân
rồi cấy cả nhân và tế bào vào 1 lúc.
Dù
là dùng cách nào khi cấy cũng phải chú ý mấy điểm sau
:
+
Miếng tế bào phải áp chặt vào nhân;
+
Miếng tế bào phải được đặt bằng phẳng trên mặt nhân,
không có chỗ nào nhô lên, nếu có chỗ nhô thì sau này nó
sẽ thành 1 viên ngọc không nhân bám vào ngọc có nhân làm
biến dạng viên ngọc.
-
Mặt tiết ngọc của miếng tế bào đặt áp vào mặt nhân;
-
Miếng tế bào cắt thành hình vuông, cạnh hình vuông này
bằng hoặc bé hơn 1/5 đường kính nhân;
-
Miếng lỗ cấy vừa vặn nhét được nhân vào, không nên
quá to hoặc quá nhỏ, độ sâu của lỗ gấp 2 đường kính
nhân, đảm bảo sau khi cấy xong miệng lỗ khép kín thành
chữ nhất (-).
Vị
trí cấy : Viền quanh của màn áo ngoài và phần trai của
màn trung tâm đều có thể cấy nhân, nhưng chỉ hạn chế
nửa phần thân sau. Nếu cấy ở viền xung quanh thì dùng
phương pháp cấy thẳng, nếu cấy ở màn trung tâm thì dùng
phương pháp cấy ngang.
Cấy
trong vùng nội tạng : Có 2 vị trí là cấy ở phía bụng
của dạ dầy, bên trái của hạ hành tràng, và 1 vị trí
ở phía bụng của tim bên phải của thượng hành tràng.
2.3
Những yếu tố làm rơi nhân và các biện pháp khắc phục
:
2.3.1
Những yếu tố làm rơi nhân : Sau khi cấy nhân vào, có
nhiều trường hợp nhân rơi ra ngoài không bám vào cơ
thể được, có nhiều nguyên nhân :
-
Lỗ cấy quá to hoặc nhân đặt hơi nông - đó là do kỹ
thuật thao tác chưa tốt cần phải rèn luyện thêm tay
nghề;
-
Sự phản ứng của cơ thể : Trai bị cấy nhân vào bị kích
thích do có di vật, làm cho chân của nó co giãn liên tục
đẩy nhân ra ngoài, hoặc màn áo ngoài co bóp cũng đẩy nhân
ra ngoài;
- Nhân
bị hỏng : Do nhân không được xử lý tốt, các hoá
chất trong quá trình gia công hạt còn dính bám vào nhân, nên
khi cấy vào làm cho bộ phận tổ chức ở đó bị thối
đẩy nhân ra ngoài;
-
Hạt nhân quá to mà cơ thể trai lại bé, màn áo mỏng
hoặc không cấy đúng vào mô liên kết cũng làm cho nhân
bị đẩy ra ngoài.
2.3.2
Các biện pháp để giữ nhân :
- Nâng
cao tay nghề, thao tác thành thạo, tạo các lỗ cấy phù
hợp;
-
ức chế sự hoạt động của chân bằng cách gây mê.
Thuốc
gây mê được điều chế như sau :
Phenobarbital
sodium C12H11O3N2Na khối
lượng 7g (hoà tan 20 ml) cộng 10 ml cồn và 970 ml nước.
Sau khi cấy nhân 3 ngày bắt đầu tiêm, cách 1 ngày tiêm 1
lần, đến ngày thứ 7 thì thôi, mỗi lần tiêm 0,5 - 1,5
ml. Vị trí tiêm là chân;
- Ðảo
màn áo ngoài : Sau khi cấy nhân vào viền ngoài của màn áo,
đảo vị trí viền ngoài xuống phía dưới làm cho lỗ
cấy được bịt kín lại tránh được nhân rơi ra ngoài.
Làm như vậy sau một tháng nó được khôi phục lại vị
trí cũ, không ảnh hưởng gì đến chất lượng ngọc và
sinh trưởng của trai.
2.4
Rửa và thu hồi nhân bị rơi : Các nhân bị đẩy rơi ra
ngoài cần thu nhặt kịp thời. Nhân bị rơi ra sẽ kết
hợp với các chất như CO2, SO4--,
H2S ... tạo thành các phản ứng hoá học, vì
vậy phải thu nhặt ngay và đem rửa bằng acid để giữ
được nguyên vẹn và chất lượng nhân, sau này có thể dùng
lại. Có 3 cách rửa nhân :
-
Tẩy carbonatcanxi bám vào nhân : Thành phần CaCO3
ở trong nhân kết hợp với CO2 trong nước tạo
thành 1 lớp phấn Ca(HCO3)2 bám ngoài
mặt nhân : CaCO3 + CO2+ H2O -
Ca(HCO3)2 dùng acid clonhydric loãng 5% rửa
sẽ khôi phục lại chất lượng nhân 2HCl + Ca(HCO3)2
- CaCl2 + 2H20 + 2CO2;
-
Tẩy acidsulfuaric bám vào nhân : Thành phần SO4--
hoặc H2S trong nước sẽ kết hợp với nhân tạo
thành các CaS hoặc CaSO4 có màu đem bám vào mặt
nhân, cũng cùng HCl để rửa.
CaSO4
+ 2HCl - CaCl2 + H2S04
CaS
+ 2 HCl - CaCl2 + H2S
-
Tẩy vết sắt bám vào nhân : Nhân kết hợp với các ion
Fe3 trong nước tạo thành các hợp chất phức
tạp giống như các vết rỉ sắt bám vào nhân oxalic acid dùng
H2C2O4 rửa sạch các vết rỉ
ocalicacid 20g/l + acid acetic 98% 30ml - dùng dịch để rửa sau
khi rửa acid xong rửa lại bằng nước sạch.
(Theo
Thông tin KHCN Thuỷ sản)
|