|
I.
BỆNH DO VIRUS.
Hiện
nay cũng có rất nhiều bệnh do vi rus gây ra trên tôm sú nuôi.
Ở tỉnh ta bệnh do vi rus gây ra chủ yếu là bệnh thân đỏ
đốm trắng SEMBV và bệnh virus MBV.
1/
Bệnh thân đỏ đốm trắng SEMBV:
Bệnh
thân đỏ đốm trắng là loại dịch bệnh rất nguy hiểm
ở tôm sú.Bệnh này được phát hiện từ năm 1993 và từ
đó đến nay đã gây thiệt hại rất lớn ở hầu hết các
nước nuôi tôm trên thế giới.Bệnh thân đỏ đốm
trắng có thể xảy ra ở tất cả các giai đoạn phát
triển của tôm, tuy nhiên bệnh thường gây chết nhiều
nhất ở giai đoạn tôm nuôi từ 1 đến 2 tháng tuổi.
*
Tác nhân gây bệnh
:
Bệnh
thân đỏ đốm trắng là do một loại virus có tên khoa
học viết tắt là SEMBV gây ra. Virus này khi xâm nhập vào
cơ thể tôm sẽ lan ra các bộ phận khác của cơ thể, khi
chúng xâm nhập được vào tế bào sẽ xâm nhập tiếp vào
nhân và phát triển về số lượng rất nhanh làm cho kích
cỡ của nhân to ra ta thấy rõ qua kính hiển vi. Khi virus phát
triển đến một mức độ nào đó nó sẽ giết chết tế
bào và virus sẽ bung cùng với tế bào ra khỏi cơ thể tôm
lan truyền ra nguồn nước, khi gặp các tôm khỏe khác
lại tiếp tục xâm nhập và cứ thế tiếp diễn. Nếu
virus không xâm nhập được vào tế bào của tôm thì nó
sẽ chết vì nó chỉ sống được tự do trong môi trường
nước 4 ngày. Virus này sống và tồn tại được trong môi
trường nước ngọt và mặn do đó tôm nuôi ở các độ
mặn khác nhau từ 5 - 40%o đều cảm nhiễm virus và gây
bệnh. Như thế cho thấy rằng virus này có khả năng gây
bệnh cho tôm ở bất cứ ao nuôi tôm nào. Ðiều tệ hại
hơn virus loại này không chỉ gây bệnh cho tôm sú mà còn
gây bệnh cho tất cả các loại tôm, cua biển
kể cả tép nước ngọt do đó mà chúng thường xuyên
tồn tại trong môi trường nước.
*
Dấu hiệu bệnh.
Khi
bệnh thân đó đốm trắng xuất hiện ở tôm sú thường
có những dấu hiệu như sau :
-
Có từ ít đến nhiều con
tôm yếu dạt vào bờ.
-
Trên thân tôm xuất hiện các đốm trắng tròn, to, nhỏ khác
nhau nằm dưới lớp vỏ kitin ở phần đầu ngực và vỏ
các đốt bụng. Cũng có một số ít trường hợp tôm bị
bệnh này nhưng không có đốm trắng.
-
Màu sắc tôm chuyển sang màu hồng tối hoặc nhợt nhạt.
-
Khả năng tiêu hoá thức ăn bị giảm sút nghiêm trọng, đa
phần các con tôm dạt bờ đều không ăn.
-
Tôm chết rải rác tới hàng loạt, có thể chết cả ao
trong vòng 5 - 7 ngày, đặc biệt chết nhiều sau khi lột xác.
-
Kết quả kiểm tra mô học cho thấy nhân ở tế bào bị
cảm nhiễm phình to chiếm chỗ cả nguyên sinh chất.
*
Biện pháp ngăn ngừa
:
Khi
phát hiện trong ao nuôi có dấu hiệu bệnh thân đỏ đốm
trắng, biện pháp trị bệnh gần như không có, việc làm
được chỉ có thể ngăn chặn tránh lây lan sang ao tôm khác
.
Ðối
với bệnh thân đỏ đốm trắng, biện pháp ngăn ngừa là
chính. Việc ngăn ngừa bệnh này phải ngăn chặn triệt để
cả 2 con đường lây lan :
-
Ao trước khi đưa vào nuôi phải được dọn kỹ, nạo vét
sạch bùn đáy, phơi nắng đáy ao, tiêu diệt toàn bộ các
ký chủ trung gian mang mầm bệnh như : Cua, Ghẹ, Tôm, Tép.
-Chọn
giống tốt không nhiễm virus SEMBV bằng máy PCA
-Thực
hiện nuôi tôm đúng vụ, không thả nuôi trong các thời điểm
nhiệt độ thấp, thời tiết có nhiều biến động.
-Ao
nuôi phải rào lưới xung quanh ngăn chặn cua, còng bò vào
ao, phải có ao chứa lắng xử lý nước trước khi cấp
sang ao nuôi.
Sử
dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp, không sử dụng
thức ăn tự chế biến, thức ăn tươi dễ lây lan mầm
bệnh.
-Trường
hợp ao nuôi đã nhiễm bệnh nếu tôm đạt kích cỡ thương
phẩm nên thu hoạch ngay, sau đó dùng hóa chất xử lý nước
trong ao trước khi tháo ra môi trường
2/
Bệnh virus MBV.
*
Tác nhân gây bệnh :
Bệnh
MBV gây ra trên tôm bỡi một loại virus thuộc giống
Baculovirus, thuộc nhóm virus có hình thể ẩn trong nhân tế
bào mà nó cảm nhiễm.
*
Dấu hiệu bệnh lý :
-
Bệnh MBV có thể cảm nhiễm ở nhiều giai đoạn phát
triển của tôm. Ở giai đoạn tôm thịt tác hại của
bệnh MBV không phải chỉ phụ
thuộc vào mức độ cảm nhiễm cao hay thấp ma 棲42;n
phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường ao nuôi.
-Nếu
tôm giống thả nuôi có mức độ nhiễm MBV cao thì có
thể gây chết hàng loạt trong hai tuần đầu, nếu không gây
chết loại virus này cũng làm tôm mẫn cảm hơn với các tác
nhân khác nên tôm nuôi thường hay bị còi cọc, chậm
lớn và thường xuất hiện các dấu hiệu khác như : đen
mang, cụt râu,đỏ thân.
-
Một dấu hiệu bệnh lý đặc trưng của những con tôm
bị nhiễm MBV là sự tồn tại các thể ẩn hình cầu
trong nhân tế bào gan, nhờ vậy có thể phát hiện được
dễ dàng bệnh này dưới kính hiển vi.
*
Biện pháp phòng bệnh MBV trong nuôi tôm:
Khác
với các loại virus khác, virus MBV có khả năng tồn tại lâu
dưới đáy ao chờ cơ hội xâm nhập vào cơ thể tôm. MBV
có khả năng chịu đựng khá tốt
với các chất sát trùng như : Chlorine, BKC. nhưng
lại mất khả năng cảm nhiễm rất nhanh dưới tác dụng
của ánh sáng mặt trời. Các biện pháp ngăn ngừa bệnh
MBV như sau :
-
Khi chọn giống cần kiểm tra giống không nhiễm
bệnh MBV.
-
Thực hiện tốt phương pháp tẩy dọn ao, phơi nắng
đáy ao.
-
Quản lý môi trường ao nuôi ổn định là biện pháp hữu
hiệu nhất có tác dụng giảm thiểu tác hại của MBV và
các tác nhân khác.
II.
BỆNH DO VI KHUẨN.
Vikhuẩn
là một tác nhân thường xuyên có mặt trong ao nuôi tôm,
chúng có thể gây ra nhiều loại bệnh nguy
hiểm khác nhau cho các giai đoạn phát triển của tôm.
Một số bệnh do vi khuẩn gây ra trên tôm nuôi như :
-
Bệnh phát sáng
-
Bệnh đứt râu cụt đuôi
-
Bệnh Bệnh đốm đen, đốm nâu, đốm trắng ở mang
và thân tôm
-
Bệnh hoại tử gan
tụy
-
Bệnh vi khuẩn dạng sợi
*
Dấu hiệu bệnh lý :
Khi
tôm bị bệnh do vi khuẩn thường có một số dấu hiệu
bệnh lý như sau :
-
Có biểu hiện một số tôm bỏ ăn, dạt bờ.
-
Trên vỏ xuất hiện một số vùng bị hoại tử
tạo thành các đốm đen, đốm nâu, hoặc xảy ra
hiện tượng các phần phụ bị ăn mòn, cụt râu, cụt đuôi.
-
Tôm có sự thay đổi màu sắc chuyển sang màu hồng nhợt
nhạt do cảm nhiễm vikhuẩn Vibrio gây bệnh phát sáng.
-
Hoặc có hiện tượng tôm bẩn mình, bẩn mang do cảm
nhiễm vi khuẩn dạng sợi.
-
Gan tôm bị teo hoặc sưng to có màu trắng hoặc màu vàng.
Trong trường hợp này vi khuẩn thường là tác nhân cơ
hội thứ 2, tác nhân đầu tiên là do cảm nhiễm virus.
-
Tôm bị nhiễm bệnh do vi khuẩn cũng có khả năng gây
chết từ rải rác đến hàng loạt.
*
Ðiều kiện lan truyền dịch bệnh.
-
Vi khuẩn có thể xâm nhập vào ao nuôi bằng nhiều
con đường khác nhau.
-
Sự phát triển của vi khuẩn phụ thuộc vào mức độ
ô nhiễm hữu cơ trong ao, đặc biệt khi nền đáy ao bị
ô nhiễm, chất hữu cơ lắng đọng nhiều.
-
Hầu hết trong các trường hợp bệnh do vi khuẩn gây ra thường
khi môi trường nuôi có chiều hướng xấu đi, hoặc sức
khỏe của tôm nuôi bị giảm sút.
*
Biện pháp phòng trị :
-
Tuyệt đối không thả tôm giống đã bị nhiễm
bệnh phát sáng.
-
Làm kỹ công tác cải tạo ao. Phải có ao chứa lắng xử
lý nước trước khi cấp sang ao nuôi.
-
Nuôi mật độ thích hợp, không nên nuôi với mật độ qúa
cao,tôm dễ nhiễm bệnh.
-
Quản lý môi trường tốt, Không cho thức ăn dư thừa, tráng
hiện tượng tảo tàn đồng loạt trong ao gây ra ô nhiễm
nền đáy.
-
Cải thiện môi trường nuôi bằng cách thường xuyên sử
dụng các loại vôi một cách hợp lý, sử dụng máy quạt
nước để gom tụ các chất thải vào giữa ao.
-
Tăng cường sức khoẻ của tôm bằng cách sử dụng
vitamin C bổ sung vào thành phần thức ăn.
-Tăng
cường sử dụng các loại chế phẩm sinh học, sử dụng
đường cát bón xuống ao tạo điều kiện cho vi khuẩn có
lợi phát triển mạnh át chế vi khuẩn gây bệnh.
-Khi
tôm bị nhiễm bệnh có thể sử dụng các loại thuốc kháng
sinh như Furacin, Oxytetracylin, trộn
vào thức ăn cho ăn liên tục 5 -7 ngày.
III.
BỆNH DO NGUYÊN SINH ÐỘNG VẬT
Bệnh
do nguyên sinh động vật gây ra phổ biến hiện nay là
bệnh đóng rong. Bệnh này thường xảy ra khi tôm trong ao
bị yếu, tác nhân chính là các loại nguyên sinh động
vật bám vào thân tôm, cùng với tảo và các chất vẩn bám
vào bờ mặt thân tôm gây ra cảm giác tôm bị đóng rong,
bẩn mình.
*
Cách xử lý :
-Giữ
cho môi trường ao nuôi sạch bằng cách bón vôi nông
nghiệp CaCO3 hoặc vôi Dolomite, Tăng cường máy
quạt nước làm sạch đáy ao và di trì hàm lượng oxy hòa
tan ở mức cao.
-Khi
bị bệnh nặng có thể dùng Formol xử lý ao với liều lượng
10 -15ppm vào buổi sáng, có thể xử lý lập lại sau 5 -7
ngày kết hợp mở máy sục khí mạnh và thay bớt một
phần nước trong ao kích thích tôm lột xác.
IV.
BỆNH ÐEN MANG.
*
Tác nhân gây bệnh
Bệnh
đen mang là bệnh thường xảy ra khá phổ biến trong ao nuôi
tôm. bệnh đen mang có thể do nhiều nguyên nhân gây ra như
sau :
-Trong
ao xảy ra hiện tượng tảo tàn, đáy ao bị ô nhiễm các
vật chất hữu cơ lơ lửng trong ao bám vào mang tôm làm
mang chuyển sang màu nâu, đen.
-Tôm
trong ao đã xảy ra hiện tượng đóng rong
do các sinh vật bám như : động vật đơn bào, vi
khuẩn dạng sợi, nấm. Các sinh vật này cũng có thể bám
vào mang tôm làm cho mang dần dần chuyển sang màu đen.
-Tôm
sống trong điều kiện pH thấp, ao có nhiều ion kim loại
nặng như Fe3+, Al3+, muối các ion kim
loại này kết tụ trên mang làm cho mang có màu đen.
*
Biện pháp phòng bệnh
Như
vậy có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra bệnh đen mang.
Do đó muốn phòng bệnh này cần thực hiện phương pháp
phòng bệnh tổng hợp:
-
Không để hiện tượng ô nhiễm hữu cơ xảy ra
trong ao, giữ sạch đáy ao.
-
Thường xuyên dùng chế phẩm sinh học
để phân hủy chất đáy
-
Sử dụng các loại vôi và khoáng chất thường xuyên.
Khi
có hiện tượng bệnh lý cần xem xét kỹ để biết tôm
bị đem mang do nguyên nhân nào. Trước hết phải thực
hiện tốt các biện pháp cải thiện môi trường nếu
bệnh vẫn không khỏi cần phải xử lý hóa chất như
Formol, Iodin, kết hợp trộn thêm kháng sinh vào thức ăn
cho ăn 5 -7 ngày.
Chúng
tôi đã giới thiệu xong qui trình nuôi tôm bán thâm canh và
thâm canh đang được sử
dụng phổ biến hiện nay. Xin cảm ơn bà con nuôi tôm đã
lưu ý theo dõi. Nếu có ý kiến góp ý bổ sung hoặc có
những thắc mắc cần giải đáp xin vui lòng liên hệ đến
phòng kỹ thuật Trung tâm khuyến ngư ( ÐT : 830632 ).
(Theo
Chương trình Khuyến Ngư - Trung tâm Khuyến ngư Ninh Thuận)
|