|
* Chọn địa điểm xây
dựng trại
Địa
điểm xây dựng trại sản xuất giống cần phải đạt được các yêu cầu sau:
- Nguồn nước biển: Phải
đảm bảo chất lượng theo yêu cầu và các chỉ tiêu môi trường nước biển
như: Độ mặn (ppt) > 100-120; độ đục (m) 1; kim loại nặng (ppm) <
0,01.
Tuy nhiên, đối với trại
giống sử dụng qui trình lọc sinh học tuần hoàn, nguồn nước mặn có thể
chở từ nơi khác vì nước sử dụng cho sản xuất giống ít hơn nhiều so với
qui trình thay nước và ta có thể tái sử dụng nguồn nước.
- Nguồn nước ngọt: Phải
đảm bảo về chất lượng
Các chỉ tiêu môi trường
của nguồn nước ngọt như: PH 7,0-8,5; KH 80-120; sắt tổng (ppm)<1; Mn (ppm)<0,2;
Hg (ppb) <0,001.
- Nguồn tôm bố mẹ: Có thể
chủ động theo yêu cầu sản xuất.
- Năng lượng: Có sẵn (điện,
máy phát)
- Thời tiết, khí hậu:
Nhiệt đới.
- Công nhân, kỹ thuật
- Vốn
- Thị trường tiêu thụ
* Qui mô trại
Nhằm tiến hành thiết kế xây dựng trại được thuận lợi trong quá trình
sản xuất như sau:
Qui mô sản xuất giống như sau: (xem bảng)
|
Các chỉ tiêu |
Qui mô nhỏ |
Qui mô trung bình
|
Qui mô lớn
|
|
Sở hữu và điều hành hoạt động |
Các thành viên trong gia đình
|
Các hợp tác, giống cung cấp cho
các thành viên hay đại trà
|
Hợp tác lớn, cơ quan Nhà nước,
giống sản xuất bán đại trà
|
|
Diện tích |
Tận dụng diện tích đất quanh
nhà |
2.000 5.000m2 |
5.000m2 - 1ha
|
|
Sản lượng |
1-5 triệu PL/năm |
10-20 triệu PL/năm
|
Trên 20 triệu PL/năm
|
|
Số công nhân, kỹ thuật |
1 kỹ thuật, 2 công nhân |
3 kỹ thuật, 3-4 công nhân
|
3 - 6 kỹ thuật, 6-10 công nhân
|
|
Tổng thể tích bể ương |
20-100m3
|
100-1.000m3
|
Trên 1.000m3
|
1/ Qui trình kín (không
thay nước)
Qui trình này đã được phổ
biến từ thập niên 80, nhìn chung qui trình này chủ yếu sử dụng kháng
sinh để ức chế môi trường, sử dụng kháng sinh con giống được sản xuất
ra kém chất lượng do dùng thuốc kháng sinh quá liều, việc sử dụng
kháng sinh làm ức chế môi trường trong điều kiện khắc nghiệt dẫn đến
tôm phát triển chậm so với qui trình thay nước (nửa kín, nửa hở) và
qui trình lọc sinh học.
2/ Qui trình nửa kín, nửa
hở (thay nước)
- Giai đoạn đầu từ khi bố
trí naupli cho đến lúc chuyển Postlarvae chỉ châm thêm nước (có một số
trại bố trí naupli cho nước đầy bể từ đầu).
- Sau đó từ Postlarvae về
sau thay nước từ 10-50%, tuỳ theo kỹ thuật chăm sóc tôm ương.
- Sử dụng các chế phẩm
sinh học để cải thiện môi trường nước ương.
- Hạn chế sử dụng kháng
sinh, hoá chất.
3/ Qui trình lọc sinh học:
- Sử dụng hệ thống lọc
sinh học tuần hoàn để cải thiện môi trường nước bể ương nuôi.
- Kết hợp sử dụng hiệu quả
các chế phẩm sinh học
- Hạn chế sử dụng kháng
sinh hoá chất
- Hạn chế thay nước (tiết
kiệm nước) nên môi trường nước trong bể ương được ổn định.
(T.S) |