|
I/ MÔ HÌNH NUÔI
Để hạn chế các ảnh hưởng bất lợi của môi
trường đến quá trình nuôi tôm, giảm mức độ gia tăng dịch bệnh, giảm ô
nhiễm môi trường, hiện nay có nhiều mô hình nuôi được áp dụng như: Mô
hình nuôi ghép, mô hình nuôi tổng hợp, mô hình tuần hoàn nước... Tùy
thuộc vào điều kiện ao nuôi ở mỗi vùng nuôi tôm, người nuôi tôm có thể
tham khảo áp dụng một số mô hình sau:
Mô hình nuôi tổng hợp
Mô hình nuôi tổng hợp nhằm đa dạng hóa sản
xuất và sử dụng hợp lý nguồn dinh dưỡng thừa trong ao nuôi tôm, trong
hệ thống ao nuôi bao gồm nhiều ao: Ao nuôi tôm, ao nuôi các loài cá ăn
lọc như cá rô phi, nhuyễn thể 2 mảnh vỏ như sò huyết để hấp thụ các
chất dinh dưỡng do các ao nuôi tôm thải ra.
Mô hình nuôi tổng hợp thích hợp đối với hệ
thống nuôi có nhiều ao, diện tích các ao nuôi tùy vào điều kiện của
từng hộ nuôi tôm, có thể dựa vào tỷ lệ phần trăm diện tích mặt nước
như sau: Diện tích ao nuôi tôm 60%, ao nuôi các đối tượng ăn lọc 30%,
ao chứa lắng 10%.
Mô hình nuôi ghép
Mô hình nuôi ghép nhằm tận dụng cơ sở thức
ăn trong ao nuôi, loại bỏ các chất ô nhiễm dựa vào quá trình chuyển
hóa vật chất trong ao nuôi thông qua chuỗi thức ăn. Thông thường đối
tượng được nuôi ghép với tôm là các loài động vật ăn thực vật phù du
và mùn bã hữu cơ như cá rô phi, cá măng, cá đối...
Mô hình nuôi ghép phù hợp với các hộ nuôi
tôm không có nhiều ao để nuôi tổng hợp, tỷ lệ nuôi ghép phụ thuộc vào
điều kiện ao nuôi, mức độ đầu tư, trang thiết bị phục vụ và sở thích
của từng hộ gia đình nhưng phải lưu ý đến sức tải của ao.
Mô hình nuôi luân canh
Mô hình nuôi luân canh được thực hiện nuôi
tôm 1 vụ/năm vào vụ chính, thời gian còn lại nuôi các đối tượng khác
nhằm cắt đứt chu trình lây lan dịch bệnh trên tôm. Ngoài ra một số
loài cá như rô phi có khả năng ức chế vi khuẩn vibrio gây bệnh trên
tôm sú.
Mô hình nuôi luân canh có thể áp dụng nuôi
ở tất cả các vùng nuôi tôm toàn tỉnh.
Mật độ thả nuôi trong mô hình này tùy thuộc vào điều kiện ao nuôi, khả
năng cấp thoát nước, khả năng quản lý và trình độ kỹ thuật.
II/ ĐA DẠNG CÁC ĐỐI TƯỢNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Như Báo Ninh
Thuận đã thông tin trên các số báo trước, cũng trong năm 2005, nhằm
giảm sức ép về tôm sú, cải thiện môi trường vùng nuôi hướng đến phát
triển nghề nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững, ngành thủy sản
tỉnh ta đã triển khai kế hoạch phát triển, đa dạng đối tượng nuôi nhằm
tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm. Trong đó tập trung một số đối tượng
nuôi theo kế hoạch:
1. Nuôi cá nước ngọt:
Trong năm 2005, phát triển phong trào
nuôi cá nước ngọt ở các huyện Ninh Sơn, Ninh Hải, Ninh Phước, Bác Ái
và thị xã Phan Rang - Tháp Chàm, với diện tích từ 100 đến 150 ha, sản
lượng dự kiến đạt 300 tấn, các đối tượng thả nuôi chính là cá Trê,
Tra, Chép, Rô phi, Chim trắng, Rô đồng...
Do ảnh hưởng của thời tiết nên khả năng sử dụng nước ngọt phục vụ sản
xuất rất khó khăn, vì vậy thời gian thả cá nuôi tùy thuộc vào điều
kiện thực tế ở từng vùng.
2. Nuôi cá sau vụ tôm:
Sau vụ nuôi tôm chính, ở một số
vùng có điều kiện thuận lợi, diện tích ao nuôi tôm đưa vào nuôi cá
theo kế hoạch khoảng 100 ha, ước sản lượng đạt 50 tấn cá các loại. Các
đối tượng được nuôi phổ biến hiện nay là: cá Rô phi, Chép, Trê,
Chẽm... với mục tiêu là giảm chất thải trong ao sau vụ nuôi tôm, cải
thiện môi trường để bảo đảm vụ nuôi tôm năm sau thành công và do thị
trường tiêu thụ cá còn ít nên mật độ thả nuôi vừa phải.
Đối với những
vùng không bị ảnh hưởng bởi lũ lụt, có thể tiến hành thả cá sau khi
thu hoạch tôm, bắt đầu từ tháng 10-2005. Đối với những vùng bị ảnh
hưởng, chỉ nên thả cá nuôi sau mùa lũ, bắt đầu từ tháng 12-2005. Mật
độ nuôi theo hướng dẫn của Trung tâm Khuyến ngư.
3. Trồng rong sụn:
Diện tích trồng rong sụn
trong năm 2005 là 500 ha, dự kiến sản lượng rong tươi thu hoạch được
5.000 tấn. Trong đó:
- Sơn Hải 250 ha, vùng trong
Đầm bắt đầu vụ trồng từ tháng 1 đến tháng 10/2005, vùng trồng rong
ngoài biển bắt đầu vụ trồng từ tháng 4 đến tháng 8-2005.
- Đầm Nại 60 ha, vào mùa Nam
mùn bã hữu cơ ven bờ Bắc của Đầm tăng lên và ngược lại vào mùa Bấc mùn
đã hữu cơ ven bờ Nam của Đầm tăng lên đã làm ảnh hưởng đến sự phát
triển của cây rong, đồng thời vào mùa mưa độ mặn trong Đầm giảm thấp
có thể làm rong chết, nên thời gian trồng rong ở Đầm Nại cần phải tổ
chức sản xuất phù hợp với mỗi vùng. Vào vụ Nam bắt đầu vụ trồng từ
tháng 4 đến tháng 8-2005 ở các khu vực bờ Nam của Đầm (từ cầu Tri Thủy
đến nghĩa trang Triều Châu và một số vùng ở Tri Hải). Vụ bấc bắt đầu
vụ trồng từ tháng 1-2005 đến tháng 8-2005 ở các khu vực bờ Bắc của
Đầm, vào mùa mưa nghỉ sản xuất.
- Mỹ Hiệp 120 ha, thời
gian bắt đầu từ tháng 10-2005 đến tháng 4 năm sau.
- Cà Ná 70 ha, vùng trồng
trong ao chứa mặn có thể trồng quanh năm, vùng trồng rong ngoài biển
trồng vào vụ bấc, bắt đầu vụ trồng từ tháng 10-2005 đến tháng 4 năm
sau.
4. Nuôi tôm hùm:
Tổng số lồng nuôi tôm hùm
thương phẩm theo kế hoạch năm 2005 khoảng 420 lồng, sản lượng thu
hoạch dự kiến đạt 40 tấn, được nuôi ở 2 khu vực: thôn Vĩnh Hy, thuộc
xã Vĩnh Hải và thôn Bình Tiên, thuộc xã Công Hải, huyện Ninh Hải, thời
gian bắt đầu nuôi từ tháng 6-7-8/2005.
Tổng số lồng ương tôm hùm giống theo kế hoạch khoảng 150 lồng, sản
lượng tu hoạch dự kiến đạt 22.000 con, tập trung chủ yếu tại vùng bãi
rạn Đông - Tây Giang - Đông Hải, Mỹ Tân và Vĩnh Hy, thời gian bắt đầu
nuôi từ tháng 1 đến tháng 4-2005.
5. Sò huyết, ốc hương, cua, ghẹ:
Sò huyết được nuôi trong ao,
trên bãi triều ở Đầm Nại, nguồn giống nuôi được khai thác tự nhiên
trong đầm. Diện tích nuôi sò huyết theo kế hoạch khoảng 10 ha. Sản
lượng thu hoạch dự kiến đạt 25 tấn. Ốc hương là một đối tượng nuôi có
giá trị kinh tế, có giá trị xuất khẩu đang phát triển mạnh. Hiện nay
toàn tỉnh có 4 cơ sở sản xúât giống ốc hương, diện tích nuôi thương
phẩm theo kế hoạch khoảng 10 ha, tập trung ở các ao nuôi vùng Tân An,
Tri Thủy, Phước Dinh. Dự kiến sản lượng thu hoạch đạt 65 tấn.
Cua, ghẹ được tiến hành nuôi sau khi thu hoạch tôm ở các ao nuôi vùng
Tân An, Tri Thủy, khu đìa trước Phương Cựu. Diện tích khoảng 10 ha, dự
kiến sản lượng đạt 10 tấn.
(P.V - Theo kế hoạch của
Sở Thủy sản)
|