THIẾT KẾ XÂY DỰNG VÀ CHUẨN BỊ AO NUÔI
Nuôi tôm sú trên vùng đất cát ven biển không chỉ là mô hình nuôi trồng
thủy sản mới đối với tỉnh ta , mà còn được xem là một tiến bộ vượt bậc
trên lĩnh vực nuôi trồng thủy sản của cả nước . Nghề nuôi tôm trên cát
tuy chỉ mới xuất hiện ở tỉnh ta trong vài năm gần đây nhưng nó đã sớm
khẳng định được hiệu qủa kinh tế khá cao so với nuôi tôm ở các vùng
mặt nước ven biển khác . Thấy được hiệu quả của nghề này , nhiều đơn
vị, cá nhân trong tỉnh đã mạnh dạn đầu tư hàng tỷ đồng để xây dựng ao
đìa nuôi tôm trên cát . Ðến nay , diện tích nuôi tôm trên cát ở tỉnh
ta đã có khoảng trên 60 ha . Ða số các hộ nuôi đều có diện tích nuôi
trên 1 ha và đều nuôi đạt hiệu quả 2 vụ/năm . Năng suất tôm nuôi đạt
rất cao 4-5 tấn/ha và hiện tượng dịch bệnh trên con tôm hầu như không
xãy ra .
Vùng nuôi tôm trên cát ở tỉnh ta hiện nay chủ yếu chỉ tập trung ở xã
Phước Dinh, huyện Ninh Phước . Do ở vùng này có những điều kiện tự
nhiên hết sức thuận lợi cho nuôi tôm . Diện tích vùng đất cát ven biển
ở tỉnh ta còn rất lớn , đây sẽ là điều kiện thuận lợi để nghề nuôi tôm
trên cát có thể phát triển với quy mô lớn.
(Phát biểu của 1-2 người dân về hiệu quả của nuôi tôm trên cát
và nêu khó khăn về kỹthuật nuôi)
Ðể đảm bảo loại hình nuôi tôm này được phát triển bền vững và thực sự
mang lại hiệu qủa cao , người nuôi tôm cần nắm vững kỹ thuật nuôi ,
làm tốt từ khâu qui hoạch , thiết kế hệ thống ao nuôi cho đến các khâu
trong qui trình kỹ thuật nuôi .
Kỹ thuật nuôi tôm trên cát nhìn chung cũng giống như kỹ thuật nuôi tôm
bán tâm canh và thâm canh đang áp dụng phổ biến hiện nay. Tuy nhiên ,
nuôi tôm trên cát cũng có một số khâu kỹ thuật khác biệt cần hết sức
lưu ý.
I. CHỌN ÐỊA ÐIỂM XÂY DỰNG AO
Chọn địa điểm xây dựng là một trong những khâu quan trọng nhất của
nghề nuôi tôm. Ðịa điểm xây dựng phải đảm các điều kiện sau :
- Gần nguồn nước biển, nước biển không bị ô nhiễm.
- Có nguồn nước ngọt đảm bảo , có thể là nước ngầm.
- Xa khu dân cư , không chịu ảnh hưởng của nước thải công nghiệp.
- Gần đường giao thông , có hệ thống điện lưới quốc gia.
II. THIẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG AO NUÔI.
Lưu ý khi thiết kế và xây dựng ao nuôi tôm trên cát cần đảm bảo các
yếu tố sau :
- Xây dựng hệ thông công trình ao nuôi tôm trên cát phải có diện tích
từ 01ha trở lên để có thể bố trí đầy đủ các công trình phụ trợ đảm bảo
nuôi tôm ổn định và có hiệu qủa.
- Nuôi tôm trên cát cần nên bố trí kết hợp với trồng rừng để tránh
hiện tượng cát bay, vừa đảm bảo giữ được lượng nước ngầm. Có thể bố
trí trồng rừng theo vành đai và theo các lối đi. ( Sơ đồ bố trí theo
hình 1).
- Phải bố trí xây dựng đầy đủ hệ thống gồm ao nuôi tôm , ao chứa lắng
dự trử nước , ao chứa nước thải đảm bảo không tháo nước trực tiếp ra
biển gây ô nhiễm môi trường .( Sơ đồ bố trí theo hình 2 ).
- Xây dựng ao phải được kè bờ và lót toàn bộ đáy ao bằng nhựa chống
thấm giải quyết vấn đề rò rỉ mất nước nhanh trong ao.( Sơ đồ bố trí
theo hình 3 ).
* Thiết kế và xây dựng ao nuôi tôm : ( Sơ đồ thiết kế theo hình 4 )
- Ao nuôi tôm có thể thiết kế theo hình vuông hoặc hình chữ nhật để dễ
chăm sóc quản lý.
- Ðáy ao bằng phẳng và hơi nghiêng về giữa ao nơi có lắp đặt hệ thống
xả đáy.
- Ðộ sâu ao từ 1,5m trở lên
- Bờ ao thoai thoải, được kè bằng nhựa chống thấm Tapolin.
- Toàn bộ đáy ao được lót bằng nhựa nilon ;nhựa Tapolin hoặc nhựa cao
cấp HDPE.
III. CHUẨN BỊ AO NUÔI TRƯỚC KHI THẢ TÔM
- Ðối với ao mới xây dựng xong , trước hết cần bơm nước vào ao sau đó
tháo cạn để rửa ao.
- Ðối với ao đã nuôi tôm . Sau mỗi vụ nuôi cần phải cải tạo ao bằng
cách nạo vét hết bùn dơ đưa lên bờ., bổ sung cát mới vào ao.
- Bón vôi [Ca(OH)2] xuống ao với lượng như sau :
+ Ao có pH đáy ao bình thường ( 6,0-7,0) dùng 500-800 kg/ha
+ Ao đất chua (pH: 4,5- 6,0 ) dùng 800-1000 kg/ ha
+ Ao đáy phèn (pH<4 ) dùng vôi 1000- 1500 kg /ha
- Ao nuôi xây dựng trên vùng đất cát rất nghèo dinh dưỡng, có thể bón
lót thêm phân chuồng đã ủ hoai với lượng 60 -100kg/sào . Phân chuồng
có thể sử dụng các loại phân như : phân Gà, phân bò, phân Dê ., khi ủ
trộn thêm 20 kg phân lân + 60kgvôi/1 tấn phân chuồng).
- Bố trí máy quạt nước đặt đúng các vị trí để tạo dòng nước chảy tuần
hoàn .
- Lúc nước triều lên cao bơm nước vào các ao nuôi, nước phải qua lớp
lưới dày hoặc vải lọc ngăn chặn các động vật khác xâm nhập vào ao.
- Cấp nước một lần đạt độ sâu 0,6- 0,8 m , giữ nước 1-2 ngày cho trứng
các loại tôm , cá nở . Sau đó tiến hành diệp tạp bằng Saponin 5- 10
ppm( 4-8 kg/sào )
- Dùng phân gây màu nước trong ao :
+ Phân hoá học sử dụng :Urê , NPK(20:20:0)
Với tỷ lệ Urê/ NPK là 2:1 hoặc 3:1 dùng với liều lượng 2-4 ppm
(1,5-3,0 kg/sào)
+ Có thể sử dụng phân chuồng ( phân gà hoặc phân bò khô ) nghiền nát
bỏ trong túi lưới treo trước máy quạt nước hoặc trước cống nước .Phân
chuồn cũng có thể rãi xuống đáy ao trước khi cấp nước vào ao.
- Sau 5- 7 ngày độ trong đạt 30- 40 cm có thể tiến hành thả tôm .
Tóm lại : Trong khâu thiết kế và chuẩn bị ao nuôi tôm trên cát cần nên
lưu ý một số điểm sau :
- Bố trí xây dựng công trình ao nuôi phải đảm bảo phù hợp để nuôi tôm
vừa ổn định lâu dài vừa mang lại hiệu qủa cao nhất.
- Nuôi tôm trên cát cần nên bố trí hệ thống công trình ao nuôi gồm ao
chứa lắng , ao xử lý nước , đảm bảo nuôi theo qui trình khép kín tuần
hoàn tránh gây ra ô nhiễm môi trường.
- Nên kết hợp nuôi tôm với trồng rừng để đảm bảo chống cát bay, tạo
cảnh quang môi trường sạch đẹp .
HIỆU QỦA VÀ CÁCH SỬ DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC
EM TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG AO NUÔI TÔM.
Nghề nuôi tôm ở nước ta đã được hình thành từ lâu, song mãi đến năm
1990 mới được phát triển mạnh. Ở tỉnh ta nghề nuôi tôm sú cũng được
bắt đầu từ thời điểm đó.Với lợi thế về chiều dài bờ biển và diện tích
mặt nước ở các vùng ven biển nên đến những năm 1999, 2000 và đầu năm
2001, nghề nuôi tôm trong tỉnh phát triển mạnh, tăng nhanh về diện
tích, trình độ kỹ thuật của người nuôi cũng được nâng lên rõ rệt. Thế
nhưng, do phát triển tự phát là chủ yếu không theo đúng quy hoạch nên
chất lượng môi trường dành cho nuôi tôm ở tỉnh ta đang có nguy cơ bị ô
nhiễm nghiêm trọng, làm cho khả năng rủi ro của nghề nuôi tôm ngày
càng cao. Nếu không có biện pháp đồng bộ, hữu hiệu kịp thời thì khó có
thể lường trước được những hậu qủa xấu về môi trường.
Theo kết qủa của nhiều công trình nghiên cứu: Một trong những nguyên
nhân quyết định làm tôm tăng trưởng chậm, giảm sức đề kháng, dễ bị
bệnh tấn công là do môi trường từ lớp bùn cặn bã hữu cơ dơ bẩn tích tụ
lâu ngày ở bề mặt đấy ao, bắt nguồn từ thức ăn dư thừa, từ các chất
mùn, vỏ tôm..các cặn bã hữu cơ co sẵn trong nguồn nước. Chính những
lớp bùn dơ bẩn đó là nguồn chứa đủ mọi vi sinh vật gây bệnh và tạo ra
các khí độc. Trong ao nuôi có càng nhiều chất cặn bã hữu cơ hay thực
phẩm dư thừa, cung cấp và tạo điều kiện cho vi sinh vật gây bệnh như :
Vibrio, Aeromonas, E coli..sinh sôi nảy nở càng nhanh và sớm giết chất
tôm nuôi trong ao. Thực chất là bản thân các vi sinh vật có trong ao
nuôi không giết chết tôm nuôi hàng loạt, nhưng chúng là nhân tố làm
suy yếu hệ thóng miễn dịch của cơ thể tôm, tạo diều kiện cho virus
giết chết tôm trong ao. Mặt khác do lạm dụng việc sử dụng các loại
thuốc và hóa chất ngăn ngừa mầm bệnh, rong tảo, đã dẫn đến việc tiêu
diệt các vi sinh vật gây bệnh và cả vi sinh vật hữu ích. Mất đi sự cân
bằng sinh thái, gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường oa nuôi và dễ gây
ra dịch bệnh trên con tôm.
Nhằm từng bước khắt phục và cải thiện dần môi trường phục vụ cho nghề
nuôi tôm, với mục tiêu hướng đến một môi trường nuôi tôm bền vững,
trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ đã chọn giải pháp ứng
dụng chế phẩm sinh học vào qúa trình quản lý môi trường ao nuôi tôm và
loại chế phẩm sinh học dược sử dụng có hiệu qủa nhất là Efective
Mieroorganis gọi tắt là EM.
Qua một thời gian sử dụng thử nghiệm ban đầu ở nhiều hộ nuôi
tôm cho thấy chế phẩm sinh học EM có khả năng ; Phân giải tốt các chất
thải hữu cơ trong qúa trình nuôi; phân hủy chất thải hữu cơ hòa tan và
không hòa tan, đồng thời duy trì được chất lượng nước, màu nước cho ao
nuôi; ức chế khả năng phát triển của vi sinh vật gây hại như Vibrio,
Aeromonas và những mầm bệnh vi khuẩn khác; làm tăng lượng ôxy hòa tan
trong môi trường nước ao nuôi tôm và giảm thiểu lượng NH3; điều hòa
hàng loạt các yếu tố môi trường kèm theo sự phát sinh trong quá trình
nuôi như PH, ôxy hòa tan, cặn lắng, độ trong, phân giải, NH3, H2S,
nitric, nitrat.
(Phát biểu của những hộ nuôi tôm về hiệu qủa.)
1/ Ðặc điểm của loại chế phẩm sinh học EM,
những nhóm vi sinh vật hữu hiệu như :
- Nhóm vi khuẩn quang hợp : Rhodopreudomonas.
- Nhóm vi khuẩn lactobacillus.
- Nhóm xạ khuẩn : Strepptomyces.
- Nhóm nấm men : Sacchamyces.
- Nhóm nấm : Aspergillus và Penicillium.
Vai trò của nhóm vi sinh vật này dược thể hiện ở chỗ nó "tiêu thụ" các
chất hữu cơ phát sinh trong qúa trình sinh trưởng và phát triển vật
nuôi trong ao hồ. Nói cách khác EM có tác dụng phân giải các chất hữu
cơ hòa tan và không hoàn tan từ uế chất của tôm, từ thức ăn thừa tích
tụ ở đấy ao nuôi; tạo được sự ổn định và duy trì chất lượng nước, màu
nước trong ao nuôi. Ngoài ra còn gây ức chế có tác dụng giảm thiểu các
vi sinh v ật gây bệnh như : Vibrio, Aeromonas, E.Coli..Bản chất
sinh-hóa lý của EM còn được thể hiện ở chỗ nó không hoạt động ở môi
trường khô, chỉ hoạt động mạnh trong môi trường nước, khi gặp nước,
các Enzym được kích hoạt và bắt đầu thực sự phân giải rất mạnh.
Chính sự phân giải đó đã tạo ra các cơ chất làm thức ăn cho các chủng
Rhodopreudomonas, lactobacillus.phát triển sinh khối tăng nhanh tạo ra
duy truyền phân hủy các chất thải, các chất lơ lửng rồi kết tụ lắng
xuống đấy ao, giúp môi trường ao nuôi trong sạch, qúa trình này diễn
ra liên tục theo chu kỳ kép kín, chiều hướng tích cực có lợi cho môi
trường nuôi.
2/ Các bước tiến hành:
a/ Nhân giống:
EM trước khi đưa vào sử dụng phải trải qua giai đoạn kích thích tạo
môi trường sống thích hợp làm tăng trưởng sinh khối, nghĩa là các nhóm
vi sinh vật đang ở trạng thái nghĩ, tạo môi trường thuận lợi để vi
sinh vật phát triển mạnh đảm bảo số và chất lượng trước khi đưa vào
môi trường cần phân hủy, giai đoạn này được gọi là giai đoạn nhân
giống.( Thời gian cần cho nhân giống là bao nhiêu)
b / Sử dụng EM để sử lý nước ao:
Sau giai đoạn nhân giống, EM giồng cần được pha loãng với nguồn nước
ngọt sạch ở nồng độ nhất định, đối với tôm thường dùng với tỷ lệ 1/50,
1/60 và 1/100, tuỳ theo độ sâu, nguồn nước nuôi, tỷ lệ nồng độ EM
giống có thể khác nhau. Trong trường hợp ao nuôi bị ô nhiễm thì tỷ lệ
nồng độ có thể dùng 1/20. Căn cứ điều kiện thời tiết, yếu tố mùa vụ
việc sử dụng EM giống có thay đổi nhất định:
- Nếu thời tiết tốt điều kiện môi trường ổn định việc sử dụng EM để
rãi 1 tuần/ lần, liều lượng bình quân 0,5 - 1 lít EM giống / sào.
- Nếu thời tiết thất thường, biến động liên tục việc rãi EM giống liên
tục hàng ngày là tốt nhất, liều lượng bình quân là 0,2-0,4 lít / sào
Cách rãi: Nên rãi đều mặt nước vào buổi sáng, tốt nhất là khi
mặt trời vừa hé sáng.
c/ Sử dụng EM để sản xuất thức ăn cho tôm:
Dùng EM giống để lên men thức ăn cho tôm, thành phần thức ăn cho tôm
bao gồm:
- Protein thực vật ( khô)
- Protein động vật ( khô)
- Cám gạo
- Bột vỏ hải sản
- Các khoáng chất.
Mục đích:
Cho lên men để kích thích khả năng tạo Enzyme ngoại bào, hình thành
một số acid amin và cơ chất làm thức ăn cho tôm.
Kích thích tiêu hóa và hạn chế khả nănggây bệnh đường ruột cho tôm
nuôi.
Hạn chế khả năng gây ô nhiễm từ nguồn uế chất do tôm thải ra.
3/ Kết qủa bước đầu:
* Về yếu tố môi trường: Duy trì ổn định một số chỉ tiêu môi trường
PH
Ðộ trong đạt được:
NH3
BOD
COD
N02
N03
Ôxy hòa tan.
* Về khả năng sinh trưởng của tôm: Thời gian theo dõi 40 ngày, đối với
ao nuôi tôm có sử dụng về EM giống, thức ăn lên men từ EM giống, Sức
ăn mạnh hơn, nhanh hơn so với ao đối chứng ( không dùng EM) là 260kg/
180kg
* Mức tăng trọng: ao sử dụng chế phẩmEM mức tăng trọng đo được: 7,63g/
con, ao đối chứng đạt 5,9g/con.
Kết qủa theo dõi trong 40 ngày nuôi khi sử dụng chế phẩm sinh học EM
môi trường nước ao nuôi hết sức ổn định, không có mùi hôi lạ, mật độ
tảo ổn định, tôm khỏe, ăn nhiều, mức độ tăng trọng bình thường, hạn
chế được tối đa việc sử dụng các hoá chất khác.
PB hộ nuôi tôm những kinh nghiệm khi sử dụng chế phẩm sinh học EM
Việc sử dụng chế phẩm sinh học vào nuôi tôm vốn đã được khuyến khích
từ lâu. Bởi có như vậy, mới hạn chế được việc dùng hoá chất trong nuôi
tôm và đây cũng là điều kiện cần thiết để có được môi trường nuôi tôm
bền vững, phù hợp với quy trình nuôi tôm thâm canh.
(P/b trung tâm khuyến ngư hướng đẩy mạnh việc sử dụng các chế phẩm
sinh học trong nuôi tôm.)
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG AO NUÔI
TÔM SÚ TRÊN CÁT
Tôm sú là loài giáp xát nên chúng phát triển và tăng trọng thông qua
các chu kỳ lột xác . Trong quá trình lột xác tôm hầu như giảm ăn và
rất nhạy cảm với sự biến động môi trường nước trong ao. Chúng chỉ sinh
trưởng tốt và cho năng suất cao khi điều kiện môi trường phù hợp với
đặc điểm sinh học và phải luôn ổn định .Vì vậy việc tìm hiểu , theo
dõi các yếu tố môi trường , biết được diễn biến để từ đó có những tác
động kỹ thuật điều khiển và tạo ra môi trường thuận lợi phù hợp với
đặc điểm sinh học của tôm nuôi là một việc làm hết sức cần thiết . Ðặc
biệt là đối với nuôi tôm trên cát quá trình này càng phải thực hiện
một cách thường xuyên :
I. Một số yếu tố thủy hóa có liên quan với tômnuôi.
Muốn quản lý một ao nuôi tôm sú trên cát có hiệu qủa cần phải có những
thông tin đặc trưng về các yếu tố môi trường như : Nhiệt độ, độ mặn,
pH, độ kiềm, độ trong, màu nước, oxy hòa tan, H2S, NH3 ,..với các số
liệu đo hàng ngày và nhận biết được sự biến đổi của nó trong ao nuôi.
1/ Nhiệt độ :
Nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp đến qúa trình trao đổi chất bên trong
cơ thể tôm, ảnh hưởng trực tiếp và gían tiếp đến sự lột xác , liên
quan đến khả năng bắt mồi và sự sinh trưởng của tôm.
Nhiệt độ tối ưu cho tôm sinh trưởng từ 28 - 320C, nếu nhiệt độ cao hơn
330C hoặc thấp hơn 250C khả năng bắt mồi của tôm giảm đi 30 - 50%.
Do đặc điểm thổ nhuỡng của vùng đất cát nên khi xây dựng công trình ao
nuôi phải kè bạt bờ và lót bạt đáy ao cho nên khả năng hấp thụ nhiệt
vào ban ngày rất lớn, do đó nhiệt độ nước trong ao có khả năng tăng
lên rất cao >360C nếu mực nước trong ao < 1m.
Ðể khắc phục được việc tăng cao của nhiệt độ nước , biện pháp kỹ thuật
tốt nhất là nâng cao mực nước trong ao từ 1,2m trở lên, độ dày lớp cát
phủ đáy ao >0,5m.
2/ Ðộ mặn :
Tôm sú có thể chịu đựng được sự biến thiên độ mặn rất lớn, chúng có
thể thích nghi được với độ mặn từ 0,2 - 70%o.
Tuy nhiên ngưỡng độ mặn phù hợp cho sinh trưởng và phát triển từ 15
-25%o.
Trong quá trình chăm sóc quản lý việc cấpnước ngọt hoặc nước biển cần
có một giới hạn nhất định, nếu thay đổi qúa đột ngột thì chúng rất dễ
sock và nhiễm bệnh .Khác với các vùng nuôi khác nguồn nước ngọt cấp
vào ao nuôi tôm trên cát chủ yếu là sử dụng nước ngầm từ các giếng
khoan có độ sâu từ 5 -40m cho nên khi cấp nước cần kiểm tra các yếu tố
: hàm lượng kim loại nặng ( Cu, Zn, Fe....) , các khí độc( H2S, NH3
,SO2 ,CH4 ...) để có biện pháp xử lý từ ao lắng trước khi cấp vào ao
nuôi
3/ pH :
pH là chỉ tiêu chỉ thị cho qúa trình biến đổi sinh học và hóa học xảy
ra trong ao nuôi để đánh gía chất lượng nước.
pH thích hợp cho tôm dao động từ 7,5 -8,5 , tốt nhất từ 7,8 - 8,3 . pH
< 7 hoặc >9,5 sẽ gây ảnh hưởng đến sinh trưởng của tôm.
Qua nghiên cứu cho thấy tính độc của các loại khí( NH 3 , H2?/sub>S..)
có lên quan đến pH:
Tính độc của NH3 càng tăng khi pH cao.
Sự biến động của pH hàng ngày trong ao phụ thuộc rất lớn vào sự phát
triển của tảo. Vào thời điểm 14 -16 giờ trong ngày cường độ quang hợp
của tảo mạnh giá trị của pH đạt cao nhất, Vào ban đêm khi không có ánh
sáng mặt trời gía trị pH xuống thấp nhất.Cho nên điều khiển pH tức là
điều khiển mật độ tảo trong ao nuôi.
4/ Oxy :
Như chúng ta đã biết bất kỳ sinh vật sống nào cũng cần phải hô hấp.
Tôm là loài sinh vật sống trong môi trường nước cho nên hoạt động hô
hấp của tôm dựa vào hàm lượng oxy hòa tan có trong ao nuôi .
Ngưỡng oxy thích hợp cho tôm nuôi 4-7 mg/l Nếu oxy thiếu tôm sẽ có
biểu hiện giảm ăn , chậm lớn, mang tôm có màu hồng. Nếu tình trạng
thiếu oxy kéo dài tôm sẽ bị nổi đầu chết hàng loạt.
Ðể tăng cường lượng oxy hòa tan trong ao nuôi người ta sử dụng các
loại thiết bị như : máy quạt nước , máy thổi oxy đáy, máy sục khí...
Tuỳ theo mật độ thả nuôi , thời gian nuôi mà có biện pháp bố trí và
vận hành các loại máy cho phù hợp đảm bảo cung cấp đầy đủ oxy trong ao
,vừa giảm được chi phí sản xuất. Ngoài ra oxy hòa tan trong ao còn
liên quan mật thiết đến sự phát triển của tảo , bị tiêu hao do quá
trình phân hủy các chất hữu cơ trong ao. Khi mật độ tảo trong ao nhiều
vào ban ngày do qúa trình quang hợp sẽ cung cấp một lượng lớn oxy hòa
tan trong ao,nhưng ngược lại vào ban đêm tảo lại sử dụng oxy cho qúa
trình hô hấp , do đó oxy thường giảm thấp vào ban đêmnhất là vào lúc
4-5giờ sáng nên cần tăng cường hoạt động các loại máy cung cấp oxy ở
những thời điểm này tránh tình trạng tôm bị ngạt và nổi đầu.Ngoàiệc
cung cấp đầy đủ oxy trong ao còn tạo điều cho các vi sinh vật có lợi
phát triển thúc đẩy qúa trình phân hủy các chất hữu cơ làm sạch đáy
ao.
5/ Ðộ trong - màu nước :
Ðộ trong - màu nước là hai yếu tố có liên quan đến sự phát triển của
tảo ,nó chi phối đến nhiều yếu tố như : nhiệt độ nước, pH, oxyhòa
tan.các muối dinh dưỡng....
Ðộ trong phù hợp nhất cho tôm phát triển từ 30 -40cm.
Khi độ trong cao >40cm chứng tỏ tảo trong ao phát triển chậm, cần cung
cấp thêmcác muối dinh dưỡng cho tảo phát triển. Nếu độ trong thấp <
30cm tảo phát triển qúa mạnh sẽ làm cho pH , hàmlượng oxy biến động
lớn trong ngày , có nguy cơ tảo tàn hàng loạt gây ô nhiễm môi trường .
Do đó cần có biện pháp khống chế sự phát triển của tảo như thay nước ,
xử lý Formol 3-5ppm vào lúc 9-10giờ sáng...
Ngoài ra hàng ngày cần theo dõi sự thay đổi của màu nước trong ao để
đánh gía sự phát triển của tảo, từ đó có thể dự đoán được biện pháp xử
lý trước khi có tình huống xấu xảy ra.
Qua nghiên cứu cho thấy màu nước trong ao : xanh nhạt, xanh lục, vàng
nâu phớt xanh là tốt nhất . Chúng được tạo ra bởi nhóm tảo không có
độc tố , kích thước nhỏ, có vòng đời dài nên màu nước ao nuôi ổn định
. Ngoài ra nhóm tảo này còn có
khả năng ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn phát sáng Vibrio.
Ngoài một số yếu tố cơ bản trên , trong nuôi tôm cũng cần theo dõi
thêm một số yếu tố như : độ kiềm , hàm lượng khí NH3, khí H2S.
|
Thông số môi trường
|
Khoảng phù hợp |
Chú ý |
|
Oxy hòa tan |
5- 7 mg/lit |
Không được < 4mg/lit |
|
Ðộ trong |
30 - 40cm |
|
|
Ðộ kiềm |
80 - 200mg/lit |
Tùy thuộc vào tuổi tôm |
|
Khí H2S |
< 0,02mg/lit |
Ðộc hơn khi pH thấp |
|
Khí NH3 |
< 0,1 mg/lit |
Ðộc hơn khi pH và nhiệt độ cao |
II. MỘT SỐ
BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG AO NUÔI TÔM
1/ Cấp và thay nước:
Chế độ cấp và thay nước trong nuôi tômtrên cát hiện nay thực hiện theo
phương pháp nuôi tôm ít thay nước hoặc phương pháp tuần hoàn khép kín.
Việc cấp và thay nước không theo một chế độ nhất định, phụ thuộc vào
chất lượng nước trong ao nuôi và ngoài môi trường .Chỉ nên thay nước
khi các yếu tố thuỷ hoá trong ao nằm trong khoảng không thích hợp cho
tôm, đặc biệt khi dao động pH trong ngày quá lớn. Nước cấp trước khi
đưa vào ao phải được lắng lọc ở ao chứa lắng , hoặc khi nguồn nước lấy
vào có nguy cơ mang mầm bệnh thì phải xử lý bằng hóa chất trước khi
cấp vào ao nuôi.
Mỗi lần thay nước không nên thay vượt qúa 20% lượng nước trong ao để
tránh gây sock cho tôm.
2/Khác với những vùng nuôi tôm khác do tính chất hấp thụ nhiệt lớn nên
độ sâu trong trong ao theo thời gian nuôi từ 1,2 - 1,4 m nhằm ổn định
môi trường, tạo độ thông thoáng cho tôm , hạn chế sự phát triển của
thực vật đáy.
3/ Sử dụng thường xuyên các loại vôi nông nghiệp có công thức CaCO3
định kỳ 7 - 10 ngày/lần với lượng 15 - 20 kg /1000 m2/lần để tăng hệ
đệm, ổn định pH, ổn định môi trường .Ðặt biệt những ngày có mưa , thời
tiết thay đổi cần tăng cường sử dụng loại vôi này.
Ðối với ao nuôi trên 60 ngày tuổi sử dụng định kỳ Zeolite với liều
lượng 7-10kg/ sào/tuần bón vào buổi chiều mát để giảm lượng khí độc
trong ao. cải thiện được nền đáy ao , giảm thiểu các loại khí độc giúp
tôm lớn nhanh và phòng được một số bệnh do môi trường như : đen mang ,
phồng mang , vàng mang...
4/ Ðặc điểm của ao nuôi tôm vùng đất cát là đáy trơ nghèo dinh dưỡng
ngoài việc sử dụng phân chuồng ủ hoai 200 kg +20kg supe lân +10kg vôi
nung/sào bón lót cho ao nuôi . Trong quá trình nuôi cần bón bổ sung
lượng phân này bằng cách treo các túi phân bọc lưới trước máy quạt
nước hoặc đầu cống cấp nước để đảm bảo dinh dưỡng cho tảo phát triển
ổn định trong ao.
Ðối với những ao tảo phát triển chậm có thể sử dụng phân hóa học: DAP
2-3kg/ sào, Robited 1l/ sào., phân vi sinh kết hợp sử dụng vôi đen
Dolomite
CaMg(CO3)2 với lượng 5 -10kg/sào/lần vào thời điểm 8 -9giờ sáng.
5/ Ðối với những ao tảo phát triển quá mạnh , pH tăng cao trước hết
cần thay một phần lượng nước trong ao sau đó áp dụng các biện pháp sau
:
- Có thể sử dụng vôi tôi Ca(OH)2 xử lý ao với lượng 5 -7kg/1000m2 /lần
vào buổi tối lúc 21 -22giờ.
- Dùng đường cát hòa tan vào nước tạt đều xuống ao với lượng 2
-3kg/1000m2 , hoặc Formalin1-2ppmvào lúc 9 -10 giờ sáng và mở máy sục
khí mạnh.
6/ Sử dụng chế phẩm sinh học thường xuyên trong suốt vụ nuôi có tác
dụng phân huỷ các chất hữu cơ, chất thải từ thức ăn thừa, phân tôm,
kìm hãm sự phát sinh các khí độc NH3, H2S, tạo sự ổn định và cân bằng
sinh thái môi trường ao nuôi .Chế phẩm sinh học còn có tác dụng át chế
các vi khuẩn gây bệnh, tăng cường oxy hoà tan.
7/ Tăng cường sử dụng hệ thống quạt nước , sục khí là biện pháp không
thể thiếu trong quá trình nuôi:máy quạt nước được bố trí và vận hành
sao cho đạt hiệu quả cao nhất, vừa cung cấp đầy đủ oxy vừa làm sạch
đáy, gom các chất thải vào giữa ao,taọ độ thông thoáng đều trong ao,
máy sục khí cung cấp oxyhòa tan đầy đủ cho các tầng nước trong ao.
8/ Ðể ổn định và nâng cao hiệu quả cho nghề nuôi tôm trên vùng đất
cát, hạn chế việc ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh trong xây dụng
ao nuôi bà con nên dành lại 15-20% diện tích để làm ao chứa lắng, ao
xử lý nước thải. Trong ao xử lý nước thải có thể thả nuôi cá rô phi,
các loài nhuyễn thể : vẹm, sò huyết... sau đó cấp lại ao nuôi,vận hành
theo mô hình tuần hoàn khép kín để giảm bớt chi phí sản xuất.
MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở TÔM SÚ NUÔI TRÊN CÁT
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
Nghề nuôi tôm thương phẩm là một trong những nghề mang lại hiệu quả
kinh tế cao trong nuôi trồng thủy sản . Nó đã góp phần làm thay đổi bộ
mặt nông thôn ven biển . Tuy nhiên , tôm nuôi thường mắc một số bệnh
,nhất là trong nuôi bán thâm canh và thâm canh.Người nuôi tôm có thể
bị phá sản nếu không có phương pháp phòng và trị bệnh hữu hiệu . Khi
giải quyết vấn đề trị bệnh cho tôm nuôi là phải chấp nhận sự thiệt hại
về kinh tế, tôm sẽ hao hụt nhiều hay ít tùy thuộc vào quá trình điều
trị , bệnh nặng hay nhẹ và ảnh hưởng đến sự tăng trưởng tôm nuôi.Cho
nên trong nuôi tôm việc phòng bệnh là chính còn điều trị thường không
mang lạihiệu quả.
Khác với những vùng nuôi khác , nuôi tôm ở vùng đất cát có ưu điểm là
nguồn nước tương đối sạch ít bị ô nhiễm bởi nước thải: nông nghiệp,
sinh hoạt..... Tuy nhiên , qua thực tế cho thấy dịch bệnh vẫn xảy ra
cho các ao nuôi trên vùng đất cát và đã gây thiệt hại không nhỏ cho
một số bà con nuôi tôm.
Bệnh ở tôm nuôi có thể phân thành 4 nhóm chính :
- Bệnh do siêu vi khuẩn( Virus) .
- Bệnh do vi khuẩn .
- Bệnh do môi trường
- Bệnh do dinh dưỡng
Trong đó bệnh do siêu vi khuẩn ( Virus ) là nguy hiểm và gây thiệt hại
nghiêm trọng nhất.
I . BỆNH DO SIÊU VI KHUẨN (VIRUS.)
Hiện nay người ta đã phân lập trên 12 loài vi rus gây bệnh cho tôm .
Trong nuôi tômhiện nay, bệnh do vi rus gây ra là chủ yếu như : bệnh
thân đỏ đốm trắng(SEMBV), bệnh đầu vàng( YHVD)?,bệnh virus Monodon
Baculovirus(MBV). Ðiều đáng lưu ý là mầm bệnh ( Virus) có thể ẩn trong
các giai đoạn của vật chủ(tôm nuôi) nhưng có thể gây phát bệnh và làm
chết tôm nuôi khi điều kiện môi trường quá xấu hoặc thay đổi đột ngột
gây sốc cho tôm nuôi, ảnh hưởng đến sức đề kháng của tôm nuôi tạo cơ
hội cho virus xâm nhập và lây lan rất nhanh gây chết hàng loạt.
1/ Bệnh thân đỏ đốm trắng (SEMBV):
Ðây là loại dịch bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng cho nghề tôm sú .Loại
bệnh này được phát hiện từ năm1992- 1993 ở vùng Ðông bắc châu Á và đến
nay đã lây lan sang nhiều nước trên thế giới: Thái lan,Indonesia, Ấn
độ, Ðài loan,Việt nam, các nướcTrung mỹ.....Bệnh thân đỏ đốm trắng có
thể xảy ra ở tất cả các giai đoạn phát triển của tôm , tuy nhiên bệnh
thường gây chết nhiều nhất ở giai đoạn tôm nuôi từ 30 -65 ngày tuổi
nhất là sau các lần lột xác tôm dễ mẫn cảm với tác nhân gây bệnh .
* Tác nhân gây bệnh :
Bệnh thân đỏ đốm trắng là do một loại virus có tên khoa học viết tắt
là SEMBV gây ra. Virus này cảm nhiễm ở các mô có nguồn gốc trung bì và
ngoại bì như : Mang , lớp biểu mô của vỏ , thần kinh , dạ dày và một
số cơ quan khác.Khi xâm nhập vào cơ thể tôm sẽ lan ra các bộ phận khác
của cơ thể , khi chúng xâm nhập được vào tế bào sẽ xâm nhập tiếp vào
nhân và phát triển về số lượng rất nhanh làm cho kích cỡ của nhân to
ra ta thấy rõ qua kính hiển vi . Khi virus phát triển đến một mức độ
nào đó nó sẽ giết chết tế bào và virus sẽ bung cùng với tế bào ra khỏi
cơ thể tôm lan truyền ra nguồn nước , khi gặp tôm khỏe khác lại tiếp
tục xâm nhập và cứ thế tiếp diễn . Nếu virus không xâm nhập được vào
tế bào của tôm thì nó sẽ chết vì nó chỉ sống được tự do trong môi
trường nước 4 ngày . Virus này sống và tồn tại được trong môi trường
nước ngọt và mặn do đó tôm nuôi ở các độ mặn khác nhau từ 5 - 40%o đều
cảm nhiễm virus và gây bệnh . Như thế cho thấy rằng virus này có khả
năng gây bệnh cho tôm ở bất cứ ao nuôi tôm nào . Ðiều tệ hại hơn virus
loại này không chỉ gây bệnh cho tôm sú mà còn gây bệnh cho tất cả các
loại tôm, cua biển kể cả tép nước ngọt do đó mà chúng thường xuyên tồn
tại trong môi trường nước . Ngoài ra trên cơ thể những con tôm bệnh
thân đỏ đốm trắng còn bị nhiễm các tác nhân cơ hội khác như : Vi
khuẩn, nấm , nguyên sinh động vật( Protozoa)......
* Dấu hiệu của bệnh :
Khi bệnh thân đó đốm trắng xuất hiện ở tôm sú thường có những dấu hiệu
như sau :
- Có từ ít đến nhiều con tôm yếu dạt vào bờ .
- Trên thân tôm xuất hiện các đốm trắng tròn, to nhỏ khác nhau nằm
dưới lớp vỏ kitin ở phần đầu ngực và vỏ các đốt bụng . Cũng có một số
ít trường hợp tôm bị bệnh này nhưng không có đốm trắng .
- Màu sắc tôm chuyển sang màu hồng tối hoặc nhợt nhạt.
- Khả năng tiêu hoá thức ăn bị giảm sút nghiêm trọng, đa phần các con
tôm dạt bờ đều không ăn.
- Tôm chết từ rải rác tới hàng loạt, có thể chết cả ao trong vòng 5 -
7 ngày , đặc biệt chết nhiều sau khi lột xác.
Kết quả kiểm tra mô học cho thấy nhân ở tế bào bị cảm nhiễm phình to
chiếm chỗ cả nguyên sinh chất.
* Biện pháp ngăn ngừa :
Khi phát hiện trong ao nuôi có dấu hiệu bệnh thân đỏ đốm trắng , biện
pháp trị bệnh gần như không có , việc làm được chỉ có thể ngăn chặn
tránh lây lan sang ao tôm khác .
Ðối với bệnh thân đỏ đốm trắng , biện pháp ngăn ngừa là chính . Việc
ngăn ngừa bệnh này phải ngăn chặn triệt để cả 2 con đường lây lan :
-Ao trước khi đưa vào nuôi phải được dọn kỹ , nạo vét sạch bùn đáy,
phơi nắng đáy ao , tiêu diệt toàn bộ các ký chủ trung gian mang mầm
bệnh như : Cua, Ghẹ, Tôm, Tép.
-Chọn giống tốt không nhiễm virus SEMBV bằng máy PCR
-Thực hiện nuôi tôm đúng vụ , không thả nuôi trong các thời điểm nhiệt
độ thấp, thời tiết có nhiều biến động .
-Ao nuôi phải rào lưới xung quanh ngăn chặn cua , còng bò vào ao, phải
có ao chứa lắng xử lý nước trước khi cấp sang ao nuôi .
-Sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp, không sử dụng thức ăn tự chế
biến , thức ăn tươi dễ lây lan mầm bệnh .
-Trường hợp ao nuôi đã nhiễm bệnh nếu tôm đạt kích cỡ thương phẩm nên
thu hoạch ngay, sau đó dùng hóa chất xử lý nước trong ao trước khi
tháo ra môi trường
2/ Bệnh Monodon Baculovirus (MBV)
* Tác nhân gây bệnh :
Bệnh MBV gây ra trên tôm bỡi một loại virus thuộc giống Baculovirus,
thuộc nhóm virus có hình thể ẩn trong nhân tế bào mà nó cảm nhiễm.
* Dấu hiệu bệnh :
Bệnh MBV có thể cảm nhiễm ở nhiều giai đoạn phát triển của tôm. Bệnh
MBV không phải chỉ phụ thuộc vào mức độ cảm nhiễm cao hay thấp ma ?òn
phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường ao nuôi .
-Nếu tôm giống thả nuôi có mức độ nhiễm MBV cao thì có thể gây chết
hàng loạt trong hai tuần đầu , nếu không gây chết loại virus này cũng
làm tôm mẫn cảm hơn với các tác nhân khác nên tôm nuôi thường hay bị
còi cọc, chậm lớn và thường xuất hiện các dấu hiệu khác như : đen
mang, cụt râu,đỏ thân.
- Một dấu hiệu bệnh lý đặc trưng của những con tôm bị nhiễm MBV là sự
tồn tại các thể ẩn hình cầu trong nhân tế bào gan, nhờ vậy có thể phát
hiện được dễ dàng bệnh này dưới kính hiển vi.
* Biện pháp phòng bệnh MBV :
Khác với các loại virus khác , virus MBV có khả năng tồn tại lâu dưới
đáy ao chờ cơ hội xâm nhập vào cơ thể tôm. MBV có khả năng chịu đựng
khá tốt với các chất sát trùng như : Chlorine, BKC. nhưng lại mất khả
năng cảm nhiễm rất nhanh dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời. Các biện
pháp ngăn ngừa bệnh MBV như sau :
- Khi chọn giống cần kiểm tra giống không nhiễm bệnh MBV.
- Thực hiện tốt phương pháp tẩy dọn ao, phơi nắng đáy ao.
- Quản lý môi trường ao nuôi ổn định là biện pháp hữu hiệu nhất có tác
dụng giảm thiểu tác hại của MBV và các tác nhân khác.
3/ Bệnh đầu vàng( YHVD)
* Tác nhân gây bệnh:
Gây bệnh đầu vàng trên tôm nuôi là loại virus có tên Rhabdovirus. Ðây
là loài virus có nhân ARN. Virus này có thể ký sinh ở nhiều nội quan
khác nhau của tôm như : Gan tụy, mang, máu, dạ dày..Ngoài ra , tôm bị
bệnh đầu vàng còn có khả năng bị cảm nhiễm một số tác nhân cơ hội khác
như: Vi khuẩn , nguyên sinh động vật..
*Dấu hiệu bệnh lý:
Khi tôm bị bệnh đầu vàng , thường có dấu hiệu sau:
-Bệnh có dấu hiệu rất đặc thù là tôm nuôi đột nhiên tiêu thụ thức ăn
mạnh hơn bình thường trong vài ngày liên tiếp. Sau đó bỏ ăn hoàn toàn
.
-Tôm bị bệnh lờ đờ , bắt đầu dạt vào bờ ao. Màu sắc của tôm trở nên
nhợt nhạt, phần đầu ngực có màu vàng do gan tụy và mang tôm chuyển
sang màu vàng , giáp đầu ngực bị phồng , mang tiết dịch có mùi hôi.
-Sau 2-3ngày kể từ khi có hiện tượng dạt bờ , tôm bắt đầu chết . Sau
5-7ngày có khả năng chết toàn bộ tôm trong ao.
Qua kết quả kiểm tra mô học cho thấy tại các cơ quan bị nhiễm virus ,
các tổ chức tế bào có sự thay đổi bất bình thường : Nhân tế bào bị
nhăn nhúm , phát triển không bình thường, có sự tồn tại của thể vùi
nằm trong nguyên sinh chất.
-Bệnh thường xảy ra ở tôm trong ao nuôi trong giai đoạn 40-60 ngày
tuổi
-Bệnh này thường xuất hiện trong hệ thống nuôi thâm canh và bán thâm
canh trong điều kiện môi trường ao nuôi bị biến động và bị ô nhiễm.
-Nhiều nhà khoa học trên thế giới đãnhận định: bệnh đầu vàng( YHVD) là
nguyên nhân gây nên sự thất bại của ngành công nghiệp nuôi tômở Ðài
loan năm 1997-1998. Ở Việt nam , Trường Ðại học Thủy sản Nha trang cho
biết dịch bệnh đầu vàng đã xuất hiện ở các tỉnh ven biển miền Trung:
Bình định, Phú yên..
*Biện pháp phòng bệnh:
-Giữ cho môi trường ao nuôi ổn định tránh gây sốc cho tôm nuôi Tăng
cường hoạt động của các thiết bị cung cấp oxy cho ao nuôi hạn chế hàm
lượng khí độc ( NH3 , H2S, CH4.)
-Nên áp dụng các mô hình nuôi tôm tiên tiến và trong điều kiện hiện
nay bà con không nên thả tôm mật độ cao(.>40con/m2)
(Nguồn: Đài THNT) |