Ba
ba là động vật hoang dã sống ở sông ngòi tự nhiên. Ba ba có 4 loài: Ba
ba hoa, ba ba gai, cua đinh và lẹp suối. Trước những năm 90 ngành nuôi
trồng thuỷ sản chưa quan tâm đến đối tượng này. Từ 1991 – 1992, giá ba
ba trên thị trường tăng cao, một số gia đình ở các tỉnh Hải Hưng, Hà
Tây, Hà Bắc đứng ra thu gom ba ba tự nhiên để xuất bán cho Hồng Kông,
Trung Quốc, Đài Loan, càng về sâu lượng ba ba tự nhiên càng khan
hiếm, một số gia đình mua ba ba nhỏ về nuôi lớn lên để xuất bán. Nghề
nuôi ba ba bắc đầu hình thành từ đó.
Tổng kết kinh nghiệm trong nhân
dân, một số nhà khoa học đã khuyến khích nhân dân nuôi. Đến năm 1992
tỉnh Hải Hưng đã có gần 200 gia đình nuôi có kết quả và có hiệu quả
kinh tế khá, một số gia đình thuộc các tỉnh Hà bắc, Hải Phòng, Hà Tây,
Yên Bái học tập làm theo.
Năm 1993 tổ chức khuyến ngư TW
(Vụ Nghề Cá ) Bộ thuỷ sản đã tổng kết chung và tổng kết kinh nghiệm
một số hộ gia đình nuôi khá ở một số tỉnh, tổ chức hội nghị toàn quốc
khuyến khích phát triển, sản xuất ba ba giống, nuôi ba ba thương phẩm
trong các gia đình.
Thực hiện chủ trương đó nhà nước
đã đầu tư cho các tỉnh miền núi, trung du, đồng bằng mỗi tỉnh 1 – 2 mô
hình trình diễn, làm cơ sở rút kinh nghiệm mở rộng ra đại trà. Hệ
thống khuyến ngư từ trung ương đến các tỉnh đã theo dõi và tổng kết
khuyến cáo từng bước mở rộng.
Toàn quốc năm 1992 chỉ mới trên
200 hộ gia đình ở Hải Hưng, Hà Bắc, sau 5 năm khuyến khích hướng dẫn
nhân dân đã phát triển lên trên 6.000 hộ. Trước đây chỉ phát triển ở
một số tỉnh miền bắc, sau 5 năm đã phát triển ra 3 miền Bắc, Trung,
Nam.
Các tỉnh miền núi, trung du:
trước năm 1992 chưa có cơ sở nào nuôi, năm 1994 Yên Bái đã tổ chức
tham quan Hải Hưng xây dựng mô hình, năm 1997 đã có trên 300 hộ gia
đình nuôi, phát triển ra 34 huyện, hình thành 6 chi hội nuôi ba ba.
Các gia đình đều có thu nhập và có lãi, có gia đình thu nhập 20-30
triệu đồng. Các tỉnh miền núi khác cũng lần lượt phát triển như huyện
Việt Yên ( Hà Bắc ), cả huyện có tới 700 hộ nuôi, có cả một làng nuôi
ba ba như thôn Vân Trung. Ở tỉnh Lâm Đồng từ một mô hình trình diễn
nay đã phát triển ra trên 100 hộ gia đình; các tỉnh Đắc Lắc, Sơn La,
Lai Châu, Cao Bằng đều có cơ sở nuôi có hiệu quả, ít bệnh tật, đã và
đang có sản phẩm hàng hoá.
Các tỉnh đồng bằng: ngoài Hải
Hưng, sau những năm khuyến ngư động viên các cơ sở mở rộng nuôi khá
nhanh ở miền Bắc như Hà Bắc, Hà Tây, Hải Phòng. Miền Trung phát triển
ở các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Đà Nẵng, Quãng
Ngãi, Bình Định, Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên, Khánh Hoà.
Từ những tỉnh trước đây không có
cơ sở nào, sau 3-4 năm đã mở rộng, tỉnh ít nhất là 30-40 hộ gia đình,
tỉnh nhiều 700-1200 hộ gia đình. Tỉnh Bình Định từ một mô hình trình
diễn thành công, tỉnh đã tổng kết và dành 350 triệu đồng, tiền vốn đầu
tư mở rộng ra 11 huyện trong tỉnh. Đặc biệt các tỉnh miền Nam chưa có
tập quán nuôi giống ba ba hoa, kinh nghiệm chưa có, sau khi đi tham
quan các tỉnh miền Bắc và khuyến ngư phổ biến, nhân dân các tỉnh tiếp
thu rất nhanh và đầu tư lớn phát triển nuôi từ Tiền Giang, Cần Thơ,
Vĩnh Long, An Giang, Kiên Giang, Thành Phố Hồ Chí Minh có trên 1.000
hộ, có hộ đầu tư trên 500 triệu đồng xây dựng cơ sở và trên 1 tỷ đồng
mua giống, cho đẻ sản xuất gần 2 vạn con giống, cung cấp đủ cho các
tỉnh miền Nam thu về 200-300 triệu đồng 1 năm.
Các tỉnh ven biển: Vùng nước lợ và
nước ngọt giao lưu nhau cũng phát triển cơ sở nuôi như Xuân Thuỷ Nghĩa
Hưng ( Nam Định), Kim Sơn Ninh Bình, Hải Phòng và vùng cuối sông Kinh
Thầy ( Hải Hưng ), các tỉnh Kiên Giang, Bến Tre, Trà Vinh ba ba đều
phát triển tốt, thức ăn nhiều, giá thức ăn hạ hơn vùng nội đồng.
Giống nuôi: Từ một động vật hoang
dã, sinh sản tự nhiên, sống chủ yếu ở sông suối, đầm hồ lớn, số lượng
giống ít. Khi phát động phong trào nuôi chủ động, yêu cầu con giống
đặt ra lớn, khuyến ngư đã khuyến khích, tổng kết kinh nghiệm các gia
đình nuôi vỗ ba ba bố mẹ và cho đẻ, tự sản xuất lấy giống nuôi. Chỉ
sau 2 năm một số hộ của Hải Hưng cho ba ba đẻ, ương ấp được con giống,
đã được mở rộng ra các tỉnh Bắc, Trung, Nam cho đẻ và sản xuất được 30
vạn con năm 1994, đến năm 1997 đã sản xuất được 2 triệu con giống,
tăng gấp hơn 6 lần năm 1994, cung ứng đủ giống cho nhân dân nuôi,
không phải nhập của nước ngoài.
Qua 5 năm chỉ đạo phát triển việc
nuôi ba ba, thời gian chưa dài, song đã cho kết quả, chuyển ba ba từ
động vật hoang dã thành vật nuôi dưỡng trong gia đình, tạo ra một nghề
chăn nuôi mới có thu nhập khá, tạo ra một mặt hàng xuất khẩu tăng thêm
việc làm cho nhân dân. Về mặt kỹ thuật bước đầu có một số nhận xét như
sau:
1. Môi trường đất,
nước có vị trí quyết định quan trọng đến tốc độ lớn, đến bệnh tật của
ba ba nuôi
- Đặc điểm của ba ba thích sống ở
sông, suối, đầm, hồ nước sạch, đáy cát hoặc đất sét, ăn động vật :
tôm, cá, ốc, giun.
- Nuôi ba ba chủ động phải dùng
các thức ăn động vật như: tôm, cá, ốc, thực phẩm phế thải trâu bò,
lợn, để cho ăn. Thức ăn thừa và phân ba ba thải ra làm cho nước thối
bẩn; ở mức độ nhẹ ba ba ít ăn, nặng sẽ không ăn, ba ba gầy đi, bệnh
tật phát triển làm cho ba ba chết.
- Các ao nuôi ba ba thuộc vùng đất
bạc màu, lượng N, P, K trong dất thấp, nước cũng nghèo các chất dinh
dưỡng, ao nuôi ba ba có các thức ăn động vật, nước ít bị nhiễm bẩn, ba
ba nuôi ít bệnh ăn khoẻ, phát triển nhanh, nước lại được thay dễ dàng.
Thực tế nuôi ba ba 5 năm qua của các tỉnh miền núi Yên Bái, Lâm Đồng,
Đắc Lắc, ba ba hoa nuôi lớn nhanh, 1 năm nuôi có thể tăng trọng từ 1
kg trở lên, ba ba gai có thể tăng trọng nhanh hơn, ba ba không bị
bệnh, trên 300 gia đình nuôi phần lớn đều có lãi, có hộ lãi 30-40
triệu đồng 1 năm. Cơ sở phát triển nhanh, bước đầu có hàng hoá xuất
bán. Huyện Việt Yên ( Bắc Giang ) là vùng đất bạc màu lượng N, P, K
trong đất và nước rất thấp, song nghề nuôi ba ba lại phát triển nhanh
trong vòng 3 năm đã có 700 gia đình nuôi. Làng Vân Trung có 180 hộ
nuôi từ diện tích ao 15-20m2 đến 200-300m2 đều
cho thu nhập khá và có lãi, ba ba lớn nhanh ít bệnh.
Ngược lại các tỉnh đồng bằng: đất
nước màu mỡ, lượng muối dinh dưỡng ( N, P, K ) cao, ba ba nuôi phải
thay nước hàng tuần, nếu không nước sẽ dễ thối bẩn do thức ăn thừa và
phân thải ra, ba ba ít ăn gầy đi, bệnh tật phát sinh làm cho ba ba
chết hoặc chậm lớn, 1 năm nuôi chỉ tăng 200-300g.
Vùng nước giao lưu nước ngọt và
nước lợ: nuôi ba ba cũng tốt, nước triều lên xuống, nước trong ao được
thay đổi thường xuyên, nước sạch ba ba ăn đều nên tốc độ tăng trọng
nhanh, nuôi có hiệu quả.
Tóm lại, môi trường đất và nước
có vai trò hết sức quan trọng đối với việc nuôi ba ba: nếu đất nước
bạc màu, hàm lượng N, P, K trong đất, nước thấp thì thích hợp với việc
nuôi ba ba. Vì vậy các tỉnh miền núi, trung du nuôi ba ba tốt hơn các
tỉnh đồng bằng đất nước màu mỡ. Vùng đất nước lợ, ngọt giao lưu cũng
nuôi ba ba được, vùng này thức ăn nhiều giá thành nuôi hạ, có hiệu
quả.
2. Công trình nuôi:
Công trình nuôi được trình
bày chi tiết ở phần kỹ thuật. qua thực tế cho thấy, công trình nuôi
phải liên hoàn: có ao nuôi ba ba bố mẹ để sản xuất, ba ba giống để
nuôi thành ba ba thương phẩm gối vụ nhau, năm thứ nhất đẻ ương nuôi
đạt cỡ 200-300g cho năm thứ hai nuôi đối với miền Nam và năm thứ ba
nuôi đối với miền Bắc. Bên cạnh ao nuôi ba ba bố mẹ có nơi đẻ, ấp và
ương giống. Nuôi ba ba thương phẩm cần chú ý hệ thống bảo vệ và hệ
thống thay nước liên hoàn.
Các tỉnh miền núi, trung du
cần kết hợp gắn công trình nuôi với suối nước chảy, hệ thống sông máng
hồ chứa nước để sử dụng được nguồn nước trong vào thay, tăng nước dễ
dàng.
Các tỉnh vùng ven biển: phải
gắn với nguồn nước triều lên xuống giữa ngọt và lợ ( nồng độ muối 4-5%o
), dễ thay nước ba ba ít bị bệnh.
Những nơi đồng bằng: nguồn
nước khó khăn, có thể dùng nước giếng khoan bơm lên tăng cường thay
nước hoặc ương ba ba giống, giếng nước có hàm lượng sắt cũng giúp cho
ba ba đỡ bị bệnh.
Công trình nuôi đều phải xây
vững chắc, tường cắm sâu xuống đáy ( tránh ba ba đào ) trên mặt tường
có mũ, góc phải trát nhẵn đánh bóng không cho ba ba leo ra. Tường cao
hơn mặt nước cao nhất 0,6 – 0,8m.