| I.
VỀ KINH TẾ:
1.
THUỶ SẢN:
a.
Về nuôi trồng thuỷ sản:
Trong
năm diện tích đìa nuôi tôm tăng 268 ha, nâng tổng số
diện tích đìa nuôi tôm hiện có 920,9 ha. Tổng diện tích
mặt nước thả nuôi tôm sú 1.226,4 ha, trong đó diện tích
bị dịch bệnh chiếm 54,66%, năng suất bình quân
15,16tạ/ha/vụ, sản lượng thu hoạch 1.860 tấn, đạt
97,9% chỉ tiêu HĐND huyện giao ( 1.900 tấn ) và đạt
103,3% chỉ tiêu tỉnh giao ( 1.800 tấn ). So với năm 2000
diện tích thả nuôi tăng 315,2 ha, năng suất bình quân
giảm 2,39 tạ/ha/vụ, sản lượng tăng 260,5 tấn. Nguyên
nhân tình hình dịch bệnh tăng cao và năng suất giảm
so với năm 2000 là do không tuân thủ theo lịch thời
vụ, số diện tích nuôi trái vụ còn nhiều, mặt khác
do điều kiện thời tiết và môi trường không thuận
lợi, chất lượng nguồn tôm giống không đảm bảo và
tính cộng đồng của người nuôi tôm chưa cao, nên tình
hình dịch bệnh xảy ra nghiêm trọng với diện tích
670,4 ha phải thu non hoặc bị mất trắng.
Nghề
sản xuất Tôm hùm lồng tiếp tục được quan tâm đầu
tư và có sự phát triển ở Đầm Vĩnh Hy và Thôn Bình
Tiên, trong 129 lồng thả nuôi năm 2000, đã thu hoạch
xong với sản lượng đạt 11,61 tấn, bình quân 90 kg/
lồng; trong năm 2001 thả nuôi 276 lồng, số lồng này
sẽ được thu hoạch trong năm 2002; so với năm 2000 phát
triển thêm 147 lồng.
Sản xuất tôm giống tiếp tục phát triển nhanh,
tập trung chủ yếu ở các xã ven biển như Khánh Hải,
Tri Hải, Nhơn Hải. Tổng số trại hiện có trên địa
bàn 531 trại, trong đó có 330 trại đã đi vào hoạt động,
sản lượng cả năm 770
triệu con, đạt 171% chỉ tiêu tỉnh giao ( 450
triệu con ). So với năm 2000 tăng 459 trại và sản lượng
tăng 470 triệu con.
b. Khai thác đánh bắt hải sản:
Năng
lực tàu thuyền có sự phát triển, trong năm đã phát
triển thêm được 11 chiếc/482 CV, nâng tổng số tàu
thuyền hiện có của huyện lên 599 chiếc/14.322 CV, bình
quân 23,9 CV/ chiếc.
Thực
hiện chương trình đầu tư đánh bắt xa bờ và đầu
tư chiều sâu chuyển dịch cơ cấu thuyền nghề tiếp
tục được thực hiện có hiệu quả. Đã tiến hành
giải ngân được 20 dự án với tổng số vốn 3.237
triệu đồng để cải hoán, bổ sung ngư lưới cụ, nâng
cấp thuyền nghề cho loại tàu có công suất từ 45 CV
trở lên.
Tình hình ngư trường năm nay không thuận lợi
cho khai thác Hải sản, các chủng loại hải sản xuất
hiện trên ngư trường với mật độ thấp hơn so với
năm trước, ngư dân còn ảnh hưởng tập quán đánh
bắt gần bờ, kỹ thuật khai thác, khả năng tìm
kiếm ngư trường còn hạn chế. Do vậy sản lượng
khai thác Hải sản cả
năm đạt 4.060 tấn, đạt 67,7% chỉ tiêu HĐND huyện
giao ( 6000 tấn ) và đạt 65,5 % chỉ tiêu tỉnh giao
(6200 tấn), so với năm 2000 tăng 550 tấn.
Chủ động phối hợp với ban quản lý ngành
thuỷ sản trong việc thực hiện các dự án đầu tư cơ
sở hạ tầng và dịch vụ hậu cần nghề cá: Đến
nay đã hoàn thành các hạn mục công trình: Nạo vét
luồng tàu, kè biển, kè bờ công trình cảng cá Ninh
Chữ; đang tiến hành công tác đền bù giải phóng
mặt bằng để thi công bến cập tàu, đồng thời đề
nghị tỉnh qui hoạch làng cá xã Tri Hải. Công trình
bến cá Mỹ Tân – xã Nhơn Hải, đến nay đã thi công
các hạng mục công trình nạo vét luồng tàu, kè bờ,
bến cập tàu, với tổng giá trị thực hiện là
5/8,867 tỷ đồng. Dự án nuôi tôm Tân Hải + Hộ Hải,
UBND huyện đang triển khai thực hiện, Dự án xây
dựng trại tôm giống, đến nay đã hoàn thành công tác
qui hoạch và đang triển khai thực hiện các bước
tiếp theo của dự án. Đã hoàn thành công tác khảo sát,
lập dự án đầu tư vùng nuôi tôm thịt Thái An
– xã Vĩnh Hải để triển khai thực hiện trong năm
2002. Ngoài ra đang tiến hành qui hoạch 100 ha đìa nuôi
tôm thịt ở Khánh Hải, qui hoạch xây dựng trại nuôi
tôm giống ở khu vực Gò Tặng – xã Nhơn Hải, qui
hoạch vùng sản xuất
tôm giống Mỹ Hoà – xã Vĩnh Hải.
2. VỀ NÔNG NGHIỆP:
-Tổng diện tích gieo trồng các loại cây trong năm là
14.414,6 ha, so với năm 2000 tăng 1%. Trong đó:
+ Cây lúa: Gieo cấy được
8.804 ha, năng suất bình quân 45 tạ/ ha, sản lượng ước
đạt 39.623,3 tấn, so với năm 2000 diện tích tăng 1%.
+
Cây Màu: Gieo trồng được 2.542,5 ha, tăng 10% so với năm
2000, gồm các loại Bắp địa phương, Mì, Khoai lang...
Do nắng hạn kéo dài đã làm mất trắng 80% diện tích
Bắp, số diện còn lại cho năng suất thấp, sản lượng
qui thóc ước đạt 2.310,2 tấn.
Như
vậy tổng sản lượng qui thóc cả năm ước đạt
41.933,5 tấn đạt116% chỉ tiêu HĐND huyện giao ( 40.000
tấn ) và 94,9% chỉ tiêu tỉnh giao ( 44.200 tấn ), so
với năm 2000 sản lượng tăng 2%. Bình quân lương
thực đầu người đạt 374 kg/người/nă
+
Cây thực phẩm : Gieo trồng được 1.717 ha, sản lượng
đạt 7.194,4 tấn. So với năm 2000 diện tích giảm 11%,
sản lượng giảm 42% (Chủ yếu là giảm đậu các
loại).
+
Cây công nghiệp: Do tình hình thời tiết bất thường
và thị trường một số sản
phẩm ứ đọng do
không có đầu ra nên giảm cả về diện tích lẫn
sản lượng thu hoạch so với năm 2000. Cụ thể: Cây
Mía 102,7 ha, trong đó trồng mới 81,7 ha, sản kượng
ước đạt 4.621,5 tấn, bằng 185% KH năm; Thuốc lá
trồng được 134 ha, sản lượng đạt 250 tấn, diện tích
giảm 29%, sản lượng giảm 303 tấn; Cây bông vải
trồng được 43,6 ha, sản đạt 69,8 tấn, diện tích tăng
45%, sản lượng tăng 54 tấn; Cây nho số diện tích
hiện có là 124,7 ha, sản lượng thu hoạch đạt 2.014,4
tấn, diện tích giảm 19%, hiện nay kết quả trồng thí
điểm giống nho mới NH01-48 với diện tích 1,6 ha
đã cho thu hoạch sản lượng đạt 9,6 tấn, sắp
tới sẽ trồng thêm 3 ha, trên cơ sở đó để nhân
rộng ra trên các vùng đất phù hợp; Cây Đào với
tổng diện tích hiện có 1070,8 ha, đã có 293 ha cho thu
hoạch với sản lượng 380,9 tấn, tăng so với năm trước
26,9 tấn.
Đạt
kết quả trên đây nhờ thực hiện đồng bộ có
hiệu quả các giải pháp phục vụ sản xuất. Đã
kịp thời tu sữa các công trình thuỷ lợi bị hư
hỏng, chỉ đạo thực hiện tốt công tác nạo vét kênh
bắc, kênh mương
nội đồng, thực hiện tốt lịch thời vụ, cơ cấu
giống ở từng, vùng từng vụ... nên tổng diện tích
gieo trồng tăng 1%, tổng sản lượng lương thực tăng
2%
so với năm 2000,
đạt 116% chỉ tiêu HĐND huyện giao (40.000 tấn) và đạt
94,9% chỉ tiêu tỉnh giao (44.200 tấn). Tuy nhiên diện tích
và sản lượng đậu các loại giảm mạnh so với năm
2000.
-
Về chăn nuôi – thú y: Đã chỉ đạo lập bản đồ
hiện trạng để qui hoạch đồng cỏ chăn nuôi xã Tân
Hải. Ngành chăn nuôi tiếp tục ổn định, hiện có:
Trâu Bò 22.087 con, giảm 9%; Dê, Cừu 12.800 con, tăng 7%;
Heo 14.486 con, giảm 6% so với cùng kỳ năm trước.
Công
tác thú y dự phòng trừ dịch bệnh, tiêm phòng gia súc
được tập trung chỉ
đạo,
nên hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do
dịch bệnh gây ra.
Công tác củng cố
chuyển đổi mô hình hoạt động các HTX
được quan tâm chỉ đạo thực hiện. Đã củng
cố lại Ban chỉ đạo, thành lập Ban trù bị chuyển
đổi HTX ở các xã. Ngoài ra đã hoàn thành việc củng
cố chuyển đổi tổ hợp tác xã nghề cá Đầm Chông
( Mỹ Tân ), đồng thời tiến hành giải thể 17 HTX
nghề cá còn lại đúng theo qui định.
Công tác kiên cố hoá kênh mương: Đã tích cực
phối hợp với các ngành chức năng của tỉnh tiến hành
kiểm kê áp giá và đền bù thiệt hại cho nhân dân
trong vùng dự án bê tông hoá kênh bắc; kiểm kê giải
phóng mặt bằng để thi công kiên cố hoá kênh mương
cấp III ở Khánh Hải, Xuân Hải và Tân Hải.
Công tác phòng chống bão lụt được quan tâm
chỉ đạo thực hiện. Đã chỉ đạo các cấp và các
ngành trong huyện xây dựng phương án phòng chống bão
lụt giảm nhẹ thiên tai, thành lập các đội cứu
hộ, ứng phó khi có thiên tai xảy ra.
3.
VỀ LÂM NGHIỆP:
Thường
xuyên chỉ đạo tăng cường công tác quản lý bảo
vệ rừng, tổ chức truy quét vùng rừng giáp ranh, phát
hiện và xử lý các vụ vi phạm lâm luật. Công tác phòng
chống cháy rừng cũng được tăng cường chỉ đạo nên
đã bảo vệ tốt rừng trong mùa khô, không có vụ cháy
rừng nào xảy ra. Thực hiện kế hoạch trồng rừng năm2001,
cũng được chỉ đạo thực hiện có hiệu quả tốt,
đến nay đã hoàn thành trồng mới 160 ha rừng trồng,
đạt 100% kế hoạch, trong đó có 110 ha cây Đào và 50
ha cây Keo lá tràm.
4.
QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI:
Tiếp
tục thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho nhân dân. Trong năm đã cấp 1.392 trường
hợp với diện tích 914,56 ha, ( trong đó cấp mới 1.197
trường hợp với diện tích 829 ha ); nâng tổng số đựoc
cấp giấy chứng nhận 13.667/14.675 trường hợp ( đạt
93,13% ), với tổng diện tích đã cấp 7.637/8.847 ha ( đạt
86,32% ) . Công tác giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất,
chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển nhượng
quyền sử dụng đất được tiến hành đúng qui định.
Tuy nhiên tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất màu, đất nương rẫy và đất ở tiến hành
còn chậm.
Tình hình qui phạm luật đất đai xảy ra phức
tạp trên diện rộng, đã kiểm tra xử lý 127/175 trường
hợp, thu tiền phạt 220 triệu đồng.
Ngoài ra đã thành lập 2 đoàn kiểm
tra thực hện Chỉ thị 28/CP- UB của UBND tỉnh về vi
phạm luật đất đai trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ
sản.
5.
ĐỊNH CANH ĐỊNH CƯ:
Triển
khai thực hiện nguồn vốn xây dựng các công trình Định
canh định cư và kinh tế mới, đến nay đã hoàn thành
đưa vào sử dụng công trình Cầu treo, trường học,
nhà ở giáo viên thôn Cầu Gãy, nhà ở giáo viên, chi
trả hỗ trợ cho 87 hộ khu kinh tế mới Nhơn Hải. Hoàn
thành khảo sát thiết kế qui hoạch khu dân cư Đầu
Suối B, khu dân cư Đá Dăm để ổn định định canh
định cư cho nhân dân một số khu vực. Ngoài ra tiến
hành kiểm tra dự án đàn Bò miền núi, đôn đốc thu
nợ vốn vay chăn nuôi, vốn vay dân tộc đặt biệt khó
khăn.
6.
GIAO THÔNG VẬN TẢI – BƯU ĐIỆN:
Về giao thông: Triển khai thi công, nghiệm thu đưa
vào sử dụng một số công trình như:Cầu An Xuân, Tràn
Suối Rách, Đường Động Thông, đường nội bộ khu dân
cư Ba Bồn, đoạn đường ngã tư Ninh Chữ đi cầu Tri
Thuỷ, đoạn đầu cầu Tri Thuỷ đi ngã ba Mỹ Tường.
Đã chỉ đạo thực hiện công tác lập kế hoạch phát
triển giao thông nông thôn đến 2010 và cho từng giai đoạn
nhằm tranh thủ nguồn vốn phát triển cơ sở hạ
tầng giao thông nông thôn của huyện. Ngoài ra còn
triển khai thực hiện tốt tháng an toàn giao thông theo
qui định.
Mạng lưới thông tin liên lạc ngày càng được
hiện đại hoá, bảo đảm đáp ứng nhu cầu thông tin
liên lạc phục vụ nhân dân và các cơ quan, đơn vị
nhà nước. Trong năm đã phát triển thêm được 660/500
máy điện thoại, đạt 132% KH, nâng tổng số máy
hiện có lên 2.920 máy, bình quân 2,6 máy /100 người.
7.
CÔNG NGHIỆP - TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP:
Kết
quả sản xuất ngành công nghiệp và tiểu thủ công
nghiệp có sự phát triển hơn so với năm trước,
tổng giá trị đã thực hiện được 37.241,5 triệu đồng,
cụ thể: sản xuất Muối 38.070 tấn – doanh thu
12.073,3 triệu đồng, sản xuất gạch nung 25,1 triệu viên
- doanh thu 3.815,2 triệu đồng, sản xuất Xi măng
23.009 tấn – doanh thu 17.256,75 triệu đồng, sản xuất
bột khoáng 3.002 tấn – doanh thu 840,56 triệu đồng,
sản xuất nước đá 4.360 tấn – doanh thu 698 triệu đồng,
khai thác đá vôi san hô 23.300 m3 – doanh thu
395,3 triệu đồng, khai thác đá chẻ 1,8 triệu viên –
doanh thu 2.162,4 triệu đồng.
Công tác quản lý điện năng, đến nay đã thành
lập được 7 tổ điện hạ thế thuộc các ban điiện
ở 3 xã Tri Hải, Xuân Hải và Hộ Hải và xây dựng phương
án bán điện đến hộ dân nông thôn theo giá đã được
qui định.
8.
KHOA HỌC CN – MT VÀ QUẢN LÝ TÀI NHGUYÊN KHOÁNG SẢN:
Tổ chức lễ kỷ niệm “ ngày môi trường thế
giới 5/6/2001” và tổ chức phát động “ Tuần lễ
quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường” trên địa
bàn huyện bằng nhiều hoạt động thiết thực như tuyên
truyền, cổ động, ra quân làm vệ sinh thôn xóm, trường
học qua đó đã góp phần nâng cao ý thức giữ gìn môi
trường trong nhân dân. Phối hợp với các ngành chức
năng tổ chức tập huấn và ứng dụng các mô hình
kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất trong các lĩnh vực
như: khai thác, nuôi trồng thuỷ sản, trồng trọt chăn
nuôi... nhờ vậy đã góp phần tăng năng suất
và sản lượng đáng kể, bộ mặt nông thôn ngày
càng khởi sắc.
Công tác quản lý tài nguyên khoáng sản cũng được
quan tâm chỉ đạo thực hiện, đã xây dựng phương án
ngăn chặn, thường xuyên truy quét, xây dựng 2 trạm
bảo vệ nơi có trục đường chính ra vào núi Cà Đú,
có trang bị điện thoại, điện thắp sáng và các
dụng cụ khác, đồng thời thành lập 2 tổ trực bảo
vệ tại chổ, nhờ vậy đã ngăn chặn được tình
trạng lấy đất khai thác đá trái phép tại Cà Đú.
9.
XÂY DỰNG CƠ BẢN:
- Nguồn vốn khắc phục bão lụt: Đã hoàn thành
11 công trình và duyệt hồ sơ quyết toán.
-Nguồn vốn ngân sách tập trung: Gồm 24 công trình.
+ Đã hoàn thành 6 công trình chuyển tiếp và đang
trình duyệt hồ sơ quyết toán.
+ Thi công theo kế hoạch năm 2001 gồm 18 công trình,
trong đó có 5 công trình đã hoàn thành, 03 công trình bàn
giao mặt bằng để thi công; còn lại 10 công trình đang
trong quá trình hoàn chỉnh thủ tục hồ sơ.
+ Nguồn vốn các chương trình mục tiêu đã hoàn
thành 09 công trình.
+ Nguồn vốn sự nghiệp kinh kế: Đã hoàn thành
12 công trình. Riêng đường 702 đi chùa Trùng Khánh đi
ra đường 704 đang trình duyệt báo cáo đầu tư.
Nhìn chung tổng nguồn vốn và số lượng công trình
đầu tư xây dựng cơ bản năm nay nhiều hơn năm trước,
nhưng tiến độ thực hiện vẫn còn chậm, nhất là khâu
chuẩn bị hồ sơ, làm ảnh hưởng đến khâu triển
khai thi công và giải ngân vốn; mặt khác năng lực
thực tế của Ban quản lý dự án huyện chưa đáp
ứng được yêu cầu, công tác giám sát thiếu chặt
chẽ, dẫn đến chất lượng một số công trình chưa
được bảo đảm.
10.
TÀI CHÍNH TÍN DỤNG:
- Về thu ngân sách đã chỉ đạo triển khai đầy
đủ các chính sách thu thuế, hoàn thành bộ thuế môn
bài, thuế nghề cá, bộ thuế hộ kinh doanh cố định
đúng thời gian qui định và đạt hiệu quả tốt, đồng
thời tích cực chỉ đạo đốc thu tận dụng triệt để
các nguồn thu, khai thác nguồn thu mới để bù lại
số hụt thu từ miễn giảm thuế nông nghiệp theo
Nghị quyết 05 của Chính phủ nên đã hoàn thành vượt
mức kế hoạch thu ngân sách năm 2001. Kết quả đã thu
được 5.500 triệu đồng, đạt 112% KH năm so với chỉ
tiêu tỉnh giao ( 4.900 triệu đồng ) và đạt 110% KH năm
so với chỉ tiêu HĐND Huyện giao ( 5.000 triệu đồng ).
- Tổng chi ngân sách Nhà nước đạt 14.349,9
triệu đồng, trong đó: Chi ngân sách huyện 9.149 triệu
đồng, đạt 114,2%; chi ngân sách xã 5.200 triệu đồng,
đạt 115,7% kế hoạch. Nguyên nhân của tình hình chi vượt
kế hoạch là do một số nhiệm vụ chi phát sinh trong năm
ngoài kế hoạch như: Tăng lương theo Nghị định 77/ CP
423 triệu đồng; bảo vệ núi Cà Đú 174,6 triệu đồng;
phòng chống Ma tuý, mại dâm và bảo hiểm y tế người
nghèo 72 triệu đồng; đào tạo cán bộ 120 triệu đồng;
hỗ trợ cải thiện nhà ở cho đối tượng chính sách
300 triệu đồng; chi cứu đói 148 triệu đồng, chi kiên
cố hoá kênh mương 1.000 triệu đồng.
- Hoạt động Kho bạc Nhà nước huyện đã điều
tiết cho các cấp ngân sách theo chế độ qui định. Đã
phát hành trái phiếu Kho bạc nhà nước 310/1.000 triệu
đồng, đạt 31% chỉ tiêu được giao; doanh số cho vay
vốn quốc gia giải quyết việc làm 1.109/930 triệu đồng,
đạt 119% kế hoạch; doanh số thu nợ trong năm 960
triệu đồng, đạt 141% kế hoạch; nâng tổng dư nợ
hiện có lên 3.384 triệu đồng, trong đó nợ quá hạn
678 triệu đồng, chiếm 20% trên tổng thu nợ và đã
hạ thấp được tỷ lệ nợ quá hạn so với năm 2000
từ 24,2% xuống còn 20%.
- Hoạt động ngân hàng cũng có nhiều cố gắng
trong việc huy động các nguồn vốn để giải quyết
cho nhân dân vay kịp thời sản xuất kinh doanh, đáp
ứng được yêu cầu chỉ đạo đầu tư phát triển
kinh tế của huyện. Trong năm đã huy động được 15
tỷ đồng, tăng 2,3 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước;
doanh số cho vay đạt 60 tỷ đồng, trong đó có 2 tỷ
đồng vốn xoá đói giảm nghèo và 58 tỷ đồng vốn
ngân sách nông nghiệp, đưa tổng dư nợ lên 113 tỷ đồng,
trong đó có 11,6 tỷ đồng vốn xoá đói giảm nghèo và
101,4 tỷ đồng vốn ngân hàng nông nghiệp.
Tóm lại: Trong lĩnh vực kinh tế, tuy có
sự tăng trưởng trên một số lĩnh vực, các chỉ tiêu
kinh tế do HĐND đề ra đầu năm đều đạt và vượt
kế hoạch, nhưng nhìn chung còn một số hạn chế tồn
tại đó là:
1/
Về Hải sản: Tuy diện tích mặt nước thả nuôi tôm
sú nhiều hơn so với năm trước, nhưng do không thực
hiện nghiêm túc lịch thời vụ, các điều kiện kỹ
thuật chưa bảo đảm, chất lượng tôm giống và tính
cộng đồng của người nuôi tôm chưa cao, đã làm cho
tôm bị dịch bệnh tràn lan, chiếm trên 50% diện tích,
bên cạnh giá cả cũng thấp hơn so với năm trước nên
hiệu quả sản xuất còn hạn chế. Tình hình sản
xuất tôm giống phát triển với tốc độ nhanh, vốn
đầu tư của dân khá lớn, nhưng công tác qui hoạch
tiến hành còn chậm, việc đào đìa, xây dựng trại tôm
trái phép ngoài vùng qui hoạch đã gây khó khăn cho công
tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Nghề cá nhân
dân phát triển chưa vững chắc, hiệu quả khai thác
hải sản và hiệu quả chương trình đầu tư đánh
bắt xa bờ đạt thấp.
2/ Sản xuất nông nghiệp còn bấp bênh, còn phụ
thuộc vào thời tiết, giá cả không ổn định, kết
quả thực hiện chương trình lúa chất lượng cao còn
hạn chế, sản xuất miền núi gặp nhiều khó khăn do
thời tiết. Công tác qui hoạch đồng cỏ chăn nuôi, kiên
cố kênh mương, củng cố mô hình hoạt động các HTX
còn chậm, sản xuất kinh doanh của các HTX đã chuyển
đổi kém hiệu quả.
3/ Công tác quản lý đất đai chưa chặt chẽ, tình
trạng mua bán đất, sang nhượng quyền sử dụng đất,
xây dựng trái phép, lấn chiếm hành lang đường bộ,
lấn chiếm các công trình thoát lũ, công trình điện
diễn ra chưa được ngăn chặn kịp thời. Công tác
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn
chậm; qui hoạch đất ở, đất nghĩa trang, đất đổ
rác và đất xây dựng, công trình phúc lợi ở các địa
phương còn chậm.
4/ Tình hình khai thác tài nguyên rừng có chiều hướng
gia tăng, nhất là vùng giáp ranh với Khánh Hoà; tình
trạng phá rừng làm rẫy, lấn chiếm đất lâm nghiệp
đào đìa nuôi tôm, xây dựng trại nuôi tôm giống trái
phép còn xảy ra chưa được ngăn chặn kịp thời.
5/ Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát
triển chưa vững chắc, còn manh mún; Công tác đầu tư
xây dựng cơ bản còn chậm, chất lượng một số công
trình chưa cao.
6/ Về quản lý tài nguyên đôi lúc đôi nơi còn
lỏng lẻo, tình hình khai thác đất, đá trái phép chưa
được ngăn chặn triệt để.
7/ Về thu ngân sách, tuy có đạt và vượt chỉ
tiêu, nhưng nguồn thu chưa cơ bản, quản lý khai thác
nguồn thu chưa tốt. Chi ngân sách còn bất cập trong
việc dự toán chi đầu năm, còn phải cân đối bổ
sung so với kế hoạch cho một số đơn vị dự toán.
II.
VĂN HOÁ XÃ HỘI:
1.Sự
nghiệp Giáo dục – Đào tạo:
Kết
thúc năm học 2000 – 2001 có sự phát triển so với năm
học trước. Ngành học Mầm Non có 2.984 cháu, tăng 39
cháu; cấp tiểu học 16.658 học sinh, tăng 283 học sinh,
đậu tốt nghiệp 2.894/2.993 học sinh dự thi, đạt
98,37%, giảm 0,43%; Trung học cơ sở có 5.756 học sinh, tăng
694 học sinh, đậu tốt nghiệp 907/1097 học sinh, đạt
82,7, tăng 6,2% so với năm học trước.
Chuẩn
bị cho năm học 2001-2002, Bộ máy quản lý Phòng Giáo
dục – Đào tạo, quản lý các trường học cũng được
sắp xếp kiện toàn. Đa số giáo viên được bồi dưỡng
về chuyên môn nghiệp vụ.
Công tác huy động học sinh ra lớp cũng được
chuẩn bị chu đáo và đạt được kết quả tốt, tổ
chức khai giảng đúng thời gian qui định, tính đến
nay số học sinh ngành học Mầm non hiện có 15 trường
– 113 lớp – 3.110 học sinh, tăng so với năm học trước103
học sinh. Cấp tiểu học có 26 trường – 514 lớp –
16.838 học sinh, giảm 150 học sinh. Cấp trung học cơ
sở có 7 trường – 160 lớp
6.530 học sinh, tăng 739 học sinh.
Công tác phổ cập giáo dục tiểu học và chống
mù chữ tiến độ huy động ra lớp đạt thấp, cụ
thể: Phổ cập GDTH hiện có 1.956 học sinh, trong đó
huy động mới trong năm 641/1000 học sinh, đạt 44,4%.
Chống mù chữ hiện có 667 học sinh, trong đó huy động
mới 137/1.200 học sinh, đạt 11,4%. Công tác phổ cập
THCS được quan tâm chỉ đạo, đã thành lập Ban Chỉ
đạo, tập huấn nghiệp vụ điều tra và tiến hành điều
tra, đến nay kết quả điều tra cho thấy, số học
sinh trong diện phải phổ cập Trung học cơ sở từ 11-
18 tuổi trên địa bàn huyện là 12.543 học sinh nên
cần phải có kế hoạch lâu dài để thực hiện công
tác phổ cập trung học đạt kết quả tốt theo kế
hoạch đã đề ra.
Chuẩn bị cơ sở vật chất trường lớp được
quan tâm chỉ đạo thực hiện, đã đầu tư xây dựng
mới 11 phòng học, 3 nhà ở giáo viên và 2 nhà mẫu giáo
từ nguồn vốn chương trình mục tiêu; 10 phòng học
từ chương trình lớp ghép; 2 phòng học và 1 phòng thư
viện từ nguồn quỹ xây dựng của huyện. Ngoài ra
được các tổ chức khác tài trợ xây dựng mới 2 phòng
học mầm non cho xã Phước Kháng, 1 trường mầm non cho
thôn Vĩnh Hy và 1 phòng học mầm non cho xã Lợi Hải.
2.
SỰ NGHIỆP Y TẾ:
Xuất
phát từ yêu cầu khám và điều trị bệnh cho nhân dân,
dự án y tế quốc gia đã đầu tư thêm 1 máy siêu âm,
1 bàn mổ đa năng, 1 máy oxy khí trời
và 1 máy gây mê cho Trung tâm Y tế huyện; xây
dựng dự án để mở rộng Trung tâm y tế huyện. Đến
nay đã có 8/12 Trạm y tế xã có Bác sỹ về công tác.
Công tác khám và điều trị bệnh cũng được
duy trì thường xuyên và đạt được kết quả tốt,
đã tổ chức khám bệnh cho gần 166 ngàn lượt người,
điều trị nội trú cho 2.092 bệnh nhân, không có trường
hợp nào tử vong. Các chương trình y tế quốc gia
thực hiện có kết quả tốt ; công tác vệ sinh
an toàn thực phẩm, hành nghề Y dược tư nhân được
quan tâm chỉ đạo thực hiện, qua kiểm tra 65 cơ sở
đã phát hiện 5 cơ sở có sai phạm và nhắc nhở
chấn chỉnh kịp thời. Thực hiện chương trình lồng
ghép hoạt động Y học cổ truyền vào trạm y tế, đến
nay đã có 5 xã, thị trấn thực hiện tốt chương trình
lồng ghép này, gồm các xã: Xuân Hải, Tri Hải, Nhơn
Hải, Phương Hải và thị trấn Khánh Hải. Công tác khám
và điều trị bệnh cho nhân dân bằng phương pháp Y
học cổ truyền cũng đạt được một số kết quả,
góp phần cùng y học hiện đại chăm sóc ngày càng
tốt hơn sức khoẻ cho nhân dân.
Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình và chăm
sóc trẻ em đạt được những kết quả tốt. Trong năm
đã có 6.104/5.720 người áp dụng các biện pháp tránh
thai đạt 106,7% KH; tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên
đạt 1,6%. Tuy nhiên những biện pháp tránh thai lâu dài
vẫn đạt thấp, như đình sản chỉ đạt 60,7% KH và
đặt vòng đạt 86,6%KH.
Công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em được các
ngành các cấp quan tâm chăm lo, đã tổ chức đi thăm và
tặng quà cho các cháu có hoàn cảnh khó khăn trong dịp
tết, khi bị thiên tại lũ lụt, hỗ trợ cho các cháu
khó khăn đột xuất, cấp phát học bổng cho các em khó
khăn nhân tháng hành động vì trẻ em, cho các em học
sinh là con Thương binh Liệt sĩ,
con
nhà nghèo hiếu học, vượt khó nhân dịp tết Trung thu
và ngày Quốc tế Thiếu nhi 1-6, hỗ trợ cho học sinh là
đồng bào dân tộc Rắc lây theo học ở vùng đồng
bằng. Tổ chức huy động quỹ trẻ em khuyết tật
chất độc da cam được 24,6 triệu đồng nhằm giúp đỡ
kịp thời cho các cháu là nạn nhân do chiến tranh để
lại. Ngoài ra còn đề nghị điều trị phục hồi
chức năng cho 9 cháu sứt môi hở hàm ếch, cấp phát
thuốc miễn phí cho các cháu có hoàn cảnh khó khăn.
3.
VĂN HOÁ THÔNG TIN - THỂ THAO VÀ TRUYỀN THANH:
Công
tác thông tin tuyên truyền các chủ trương chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước ngày càng được
cải tiến về hình thức, phương pháp, truyền đạt sâu
rộng trong các tầng lớp nhân dân. Phong trào văn hoá,
văn nghệ , thể dục thể thao ngày càng phát triển
cả về nội dung , hình thức, chất lượng và thể
loại, phục vụ tốt cho nhân dân, đặt biệt là ở vùng
sâu vùng xa, trong ngày lễ lớn và ngày tết cổ
truyền. Đã chỉ đạo hoàn thành việc tổ chức đại
hội thể dục thể thao cơ sở và đại hội thể dục
thể thao cấp huyện.
Công tác xây dựng Làng Văn hoá mới (Phương
Cựu và Tân An). Nâng tổng số Làng Văn hoá toàn
huyện lên 17 làng (trong đó có 01 Khu phố văn hoá) ở
12 xã thị trấn. Hoạt động của các Làng Văn hoá ngày
càng được cải tiến về hình thức hoạt động, nâng
cao về chất lượng để phục vụ nhân dân địa phương
tiến hành chỉ đạo tổ chức tổng kết được 8 làng
văn hoá, tổ chức hội nghị tổng kết 8 năm xây
dựng làng văn hoá cấp huyện và đề nghị tỉnh xem
xét công nhận danh hiệu 2 làng văn hoá là
Động Thông và Thái An. Ngoài ra cũng đã chỉ đạo
tổ chức bình xét gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá.
Song song với việc xây dựng và phát triển đời
sống văn hoá ở cơ sở, đã củng cố lại đội 814
của huyện, đề nghị tỉnh cấp 26 thẻ kiểm tra và
tiến hành công tác kiểm tra, xử lý các đối tượng
vi phạm về văn hoá, qua 86 lượt kiểm tra đã phát
hiện và thu giữ 3 cuốn sách có nội dung xấu.
Hoạt động của Đài truyền thanh cũng có bước
phát triển, nâng cao chất lượng và thời lượng phát
sóng nhằm đáp ứng yêu cầu về thông tin cho quần chúng
nhân dân. Mạng lưới sóng phát thanh và truyền hình
tiếp tục được đầu tư mở rộng, xây dựng thêm 2
trạm truyền thanh cho 2 xã Hộ Hải và Phước Kháng, nâng
tổng số hệ thống truyền thanh lên 6 trạm/12 xã,
thị trấn; cấp phát 2 Tivi và 120 chiếc Radio cho đồng
bào vùng sâu vùng xa.
4.
CÁC CHÍNH SÁCH XÃ HỘI:
Đã điều chỉnh 238 đối tượng hoạt động kháng
chiến từ hưởng chế độ hàng tháng sang hưởng chế
độ 1 lần; đề nghị tỉnh giải quyết chế độ chính
sách 299 trường hợp và tiến hành điều tra diện còn
tồn đọng về chính sách 142 trường hợp để tập
trung giải quyết dứt điểm trong thời gian tới. Hoàn
thành việc nâng cấp Đài tưởng niệm Liệt sĩ của
huyện và sữa chữa Đài tưởng niệm Liệt sĩ một
số xã với tổng giá trị 429 triệu đồng; đề nghị
tỉnh hỗ trợ kinh phí xây 174 võ mộ do gia đình quản
lý trị giá 74,5 triệu đồng. Vận động xây dựng
quỹ đền ơn đáp nghĩa được 33 triệu đồng: hỗ
trợ cải thiện nhà ở cho 43 gia đình đối tượng chính
sách với tổng kinh phí 215 triệu đồng, xây dựng
mới thêm 1 nhà tình nghĩa trị giá 15 triệu đồng.
Nhân dịp tết Nguyên đán và các ngày lễ trong năm.
Bằng nguồn kinh phí của Trung ương, tỉnh, huyện đã
tổ chức đi thăm hỏi tặng quà cho các gia đình đối
tượng chính sách xã hội với tổng số 6.607 xuất quà
, trị giá 363 triệu đồng.
Công tác thu Bảo hiểm xã hội được thực
hiện đạt kết quả tốt, trong năm đã thu được
1.748/ 1.695 triệu đồng, đạt 103% kế hoạch năm; chi
bảo hiểm xã hội 1.447,4 triệu đồng, đã đáp ứng
được yêu cầu chi trả tiền lương hưu, mất sức,
chế độ tử tuất, chế độ ốm đau, thai sản cho các
đối tượng.
Các vấn đề xã hội cũng được quan tâm chỉ
đạo thực hiện, đã hoàn thành công tác điều tra
diện hộ đói nghèo theo chuẩn mực mới, kết quả đến
nay toàn huyện có 2.970 hộ - 13.966 khẩu, chiếm tỷ
lệ 13.9% so với dân số ( so với chuẩn cũ năm 2001 đã
xoá được 336 hộ nghèo và so với chuẩn mới số hộ
nghèo phát sinh thêm 903 hộ ). Đã thực hiện việc
cấp bảo hiểm Y tế cho các hộ nghèo theo chuẩn mới
1.564 hộ - 7.107 khẩu, đạt 52,7% số khẩu; giải
quyết hỗ trợ vốn sản xuất , sữa chữa nhà ở cho
các hộ nghèo từ nguồn vốn quỹ người nghèo với
tổng kinh phí 58,7 triệu đồng, đề nghị UBND tỉnh
cứu đói giáp hạt kịp thời cho 1.072 hộ - 5.696 khẩu
với tổng số 56,96 tấn gạo cho đồng bào vùng dân
tộc. Từ nguồn vốn ngân hàng phục vụ người nghèo
cũng đã giải quyết cho 761 hộ vay với số tiền là
2.357 triệu đồng để đầu tư sản xuất nông nghiệp
và chăn nuôi; hỗ trợ giống cây trồng vật nuôi cho các
hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn trị giá 64,5
triệu đồng. Ngoài ra còn quyết định trợ cấp 250
xuất nuôi dưỡng thường xuyên tại cộng đồng,
chuyển về tỉnh nuôi dưỡng 2 cháu trẻ mồ côi không
nơi nương tựa và đề nghị tỉnh giải quyết chế độ
cho 18 đối tượng bị nhiễm chất độc hoá học.
Công tác cứu trợ nhân đạo xã hội cũng đạt
được một số kết quả, đã vận động 27 người
hiến máu nhân đạo, bằng nguồn vận động được
của Hội chữ thập đỏ các cấp tiến hành cứu trợ
cho 994 trường hợp với tổng trị giá 48,2 triệu đồng.
Ngoài ra còn vận động ủng hộ bão lụt 19,3 triệu đồng,
ủng hộ quỹ nhân đạo huyện 37,9 triệu đồng và
tổ chức khám bệnh cấp thuốc miễn phí 9 triệu đồng
và góp phần giải quyết khó khăn cho các gia đình cá
nhân khi gặp thiên tai, hoàn cảnh hiểm nghèo.
Bên cạnh đó công tác phòng chống các tệ nạn
xã hội cũng được quan tâm chỉ đạo thực hiện. Đã
tổ chức điều tra đối tượng Ma tuý để đưa vào
quản lý với kết quả hiện có 32 đối tượng, trong
đó có 9 đối tượng mới phát sinh. Tổ chức truy quét
các tụ điểm mua bán dâm, tháo dỡ và xoá bỏ 3 tụ
điểm móc nối mua bán dâm; tiến hành kiểm tra 80 cơ
sở kinh doanh Karaoke, giải khát, phát hiện 5 tiếp viên
có biểu hiện bán dâm đã trục xuất khỏi địa bàn.
Công tác tôn giáo cũng thường xuyên quan tâm
chỉ đạo và giải quyết các trường hợp truyền đạo
trái phép, xây dựng khi chưa có sự cho phép của cấp
có thẩm quyền, giải quyết sự mâu thuẫn trong nội
bộ người Chăm, đồng thời tổ chức đi thăm hổi
tặng quà cho một số gia đình nhân ngày tết Katê, Ramưvan,
lễ Noen và động viên các tôn giáo dân tộc thực
hiện tốt chính sách đoàn kết
của Đảng và Nhà nước.
Công tác thi đua khen thưởng cũng đạt được
một số kết quả. Tổ chức phát động phong trào thi
đua yêu nước trong các cấp, các ngành và trong nhân dân
để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội trên địa bàn huyện, bên cạnh đó cũng chỉ đạo
tiến hành rà soát tồn đọng trong chế độ khen thưởng
tổng kết kháng chiến với kết quả đến nay 575 trường
hợp chưa được khen thưởng, trong đó: nộp về tỉnh
270 trường hợp, tồn
lại huyện 184 trường hợp và tồn ở các xã 121 trường
hợp.
Đã tổ
chức thành công lễ đón nhận danh hiệu “ Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân” do Chủ tịch nước ban
tặng cho huyện và cuộc thi lịch sử tìm hiểu Huyện
Đảng bộ được nhân dân hưởng ứng tham gia, nhất là
lực lượng thanh thiếu niên.
Tóm lại: Nhìn chung trong lĩnh vực văn hoá
xã hội có một số vấn đề cần được xem xét để
có biện pháp thực hiện tốt hơn đó là: Đầu tư xây
dựng cơ sở vật chất ngành giáo dục còn chắp vá,
vẫn còn tình trạng học nhờ ở các cơ sở khác ngoài
trường học; việc huy động học sinh phổ cập giáo
dục tiểu học chống mù chữ đạt thấp so với chỉ
tiêu, triển khai phổ cập THCS còn chậm, các biện pháp
tránh thai lâu dài đạt thấp so với chỉ tiêu ( Đình
sản, đặt vòng ); kết quả thực hiện phong trào toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá cơ sở còn
hạn chế; các tệ nạn xã hội chưa được đẩy lùi;
quản lý tôn giáo một số địa phương chưa đảm
bảo qui định chung, việc thu hồi các nguồn vốn 120
giải quyết việc làm, vốn xoá đói giảm nghèo, vốn
dân tộc đặc biệt khó khăn chưa đạt yêu cầu, nợ
quá hạn còn cao.
5.
CÔNG TÁC TỔ CHỨC BỘ MÁY:
Thường
xuyên được quan tâm chỉ đạo, đã hoàn thành việc
sắp xếp bộ máy biên chế theo Quyết định số 25/ QĐ-TH
của UBND tỉnh: thành lập Phòng kinh tế kế hoạch, Phòng
Nông nghiệp Địa chính, Phòng Y tế dân số và chăm sóc
trẻ em, Trung tâm văn hoá thể thao, Đài truyền thanh,
Ban quản lý xây dựng cơ bản, đổi tên một số phòng
ban trực thuộc UBND huyện. Chỉ đạo thực hiện củng
cố bộ máy chính quyền xã Hộ Hải; bổ nhiệm 5 cán
bộ Địa chính, 1 trưởng Công An, 1 xã đội trưởng;
củng cố kịp thời chức danh cán bộ lãnh đạo các
phòng ban trực thuộc UBND huyện, để đáp ứng được
yêu cầu nhiệm vụ, thực hiện đầy đủ các chế độ
tiền lương , trợ cấp và chế độ bảo hiểm xã
hội , bảo hiểm Y tế cho cán bộ công chức.
Tuy nhiên vai trò tham mưu của một số cơ quan
chuyên môn còn thiếu sự chủ động, sự phối hợp có
mặt chưa đồng bộ, năng lực của một số cán bộ còn
hạn chế, chưa đảm đương được nhiệm vụ. Sự
quản lý điều hành của
một số ngành, một số địa phương còn buông lỏng,
lúng túng, nhất là trong lĩnh vực quản lý đất đai;
chưa chủ động giải quyết các vụ tranh chấp, lấn
chiếm, đào đìa xây dựng trại tôm giống trái phép
đúng theo luật định. Việc tách và thành lập một
số thôn mới, củng cố Ban quản lý một số thôn, khu
phố, củng cố kiện toàn bộ máy một số xã, xác định
ranh giới hành chính một số nơi còn chậm.
III.
QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH:
1/
Nền quốc phòng toàn dân ngày càng được củng cố và
phát triển, nhằm nâng cao khả năng phòng thủ, sẵn sàng
chiến đấu của các lực lượng vũ trang. Đã tiến hành
xây dựng xong trận địa 12,7 ly và công sự bắn máy
bay bằng súng bộ binh. Kiểm tra tu dưỡng các công trình
phòng thủ trên địa bàn, khảo sát các hang động thiên
nhiên để có kế hoạch xây dựng công trình phòng
thủ và khảo sát chất độc hoá học tồn lưu sau
chiến tranh. Bổ sung và hoàn chỉnh kế hoạch A, A2,
kế hoạch động viên khẩn cấp, kế hoạch chuyển
trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Thực hiện nghiêm
chế độ trực sẵn sàng chiến đấu từ huyện đến
cơ sở. Tăng cường công tác tuần tra truy quét trên các
tuyến và địa bàn trọng điểm, theo dõi phát hiện,
chủ động sử lý kịp thời tình huống xấu có thể
xảy ra. Tình hình an ninh chính trị TTATXH trên tuyến
biển cũng được tập trung chỉ đạo thực hiện có
hiệu quả.
Công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ
tiến hành đúng luật định và thực hiện giao 148/150
quân, đạt 98,66% chỉ tiêu. Tổ chức hội nghị giải
quyết tồn đọng sau giao quân, đến nay đã thu gom được
19 quân nhân đào ngũ đưa trở lại đơn vị. Chỉ đạo
thực hiện tốt qui trình chuẩn bị thực lực tuyển
quân năm 2002, đến nay đã phát lệnh khám 637 trường
hợp, đã khám 546 trường hợp, trong đó đủ điều
kiện gọi công dân nhập ngũ 290 trường hợp.
Lực lượng dân quân tự vệ thường xuyên được
củng cố kiện toàn, triển khai thực hiện kế hoạch
luân phiên 12 xã, thị trấn, tổ chức đăng ký lứa
tuổi theo pháp lệnh dân quân tự vệ, thường xuyên rà
soát về chất lượng, phát triển thêm về số lượng
nhằm đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình
mới, đến nay tổng số lực lượng dân quân tự vệ
là 2.541 đội viên, đạt tỷ lệ 2,23% so với dân số.
Lực lượng dự bị động viên đã thực hiện
tốt chỉ tiêu sắp xếp 10/10 đầu mối, đạt 100% làm
nhiệm vụ A và tổ chức huy động lực lượng sẵn sàng
làm nhiệm vụ A2 theo kế hoạch đã đề ra.
Công tác huấn luyện , đã tổ chức lễ ra quân
huấn luyện cấp huyện với quân số tham gia 282 đồng
chí. đến nay có 12/12 xã, thị trấn và 17/17 tự vệ cơ
quan nhà nước hoàn thành công tác huấn luyện năm
2001, với quân số tham gia đạt trên 100% so vớiqui định.
Ngoài ra còn tham gia các lớp tập huấn, tham gia hội
thao quốc phòng ở quân khu và ở tỉnh đúng thời gian
qui định.
Tổ chức diễn tập chỉ huy cơ quan khung tiểu đoàn
210 của huyện có thực binh bắn chiến đấu phòng
ngự 1bBB và tổ chức diễn tập vận hành cơ chế cho
3 xã ( Xuân Hải, Hộ Hải, Nhơn Hải ) có thực binh bDQ
đánh chiếm tại mục tiêu. Huy động kiểm tra sẵn sàng
động viên dBB3/e896 của tỉnh, cBB1/d210 của huyện đạt
kết quả khá.
2/ Tình hình an ninh chính trị trên địa bàn
tiếp tục được giữ vững, trật tự an toàn xã hội
từng bước có nhiều chuyển biến tiến bộ, quản lý
tốt đoàn ra đoàn vào, theo dõi, phát hiện, ngăn chặn
kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm an
toàn tuyệt đối cho cuộc sống và sinh hoạt của nhân
dân.
Tuy nhiên tình hình an ninh nông thôn, vùng giáp
ranh, tranh chấp ngư trường, dùng chất nổ đánh cá còn
những diễn biến phức tạp, làm ảnh hưởng đến tình
hình an ninh trật tự ở địa phương. Phạm pháp hình
sự xảy ra 57 vụ, tuy có giảm so với năm trước, nhưng
tính chất và mức độ nguy hiểm hơn nổi lên là tình
trạng trộm cắp tài sản công dân, làm thiệt hại tài
sản trên 150 triệu đồng, đã điều tra khám phá 36
vụ, bắt 38 đối tượng; tai nạn giao thông xảy ra 119
vụ, làm
chết 29 người, bị thương 73 người, thiệt hại tài
sản 500 triệu đồng. Phong trào quần chúng bảo vệ an
ninh Tổ quốc cũng đạt được một số kết quả
tốt, đã tổ chức hội nghị tổng kết năm 2000 về
thực hiện Chỉ thị 03/BCA và triển khai phong trào
quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc năm 2001, hoàn thành
xây dựng tổ nhân dân tự quản ở các xã, thị trấn
trong huyện; sơ kết 1 năm
thực hiện Nghị quyết 09/ CP của Chính phủ về
chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, phòng
chống Ma tuý, xây dựng kế hoạch vận động quần chúng
nhân dân tấn công trấn áp bọn tội phạm bảo vệ an
toàn các ngày lễ tết ; tổ chức hội nghị tổng
kết công tác phòng cháy chữa cháy; tổng kết 8 năm
thực hiện nghị định 17/ CP và triển khai thực hiện
Nghị định 08/CP của Chính phủ về điều kiện an
ninh trật tự đối với một số ngành nghề kinh doanh
có điều kiện và chỉ đạo chuẩn bị nội dung để
tổng kết công tác xây dựng vùng giáp ranh.
3.
Công tác đấu tranh chống tham nhũng:
Đã
chỉ đạo thực hiện hoàn thành 5 cuộc thanh tra ở 10
đơn vị, trong đó: Thanh tra kinh tế tài chính ở 4 đơn
vị, qua thanh tra đã phát hiện một số đơn vị bỏ
ngoài sổ sách trên 80 triệu đồng, nợ tạm ứng kéo
dài 75 triệu đồng, chi vượt chế độ qui định trên
3 triệu đồng, chi sai theo hướng dẫn 26 luật HTX trên
156 triệu đồng, thu tiền cho thuê đất trái phép trên
83 triệu đồng, tạm ứng của xã viên và tiền gởi
tiết kiệm bỏ ngoài sổ sách trên 71 triệu đồng,
cấp nhà cứu trợ bão lụt sai đối tượng không báo
cáo quyết toán trên 36 triệu đồng, và một số sai
phạm khác; qua đó đã chỉ đạo thu hồi các khoản
chi trên và
chấn
chỉnh các sai phạm. Kiểm tra xử lý vi phạm đất đai
ở 6 xã, đã tiến hành xử phạt hành chính 11 trường
hợp với số tiền 66,2 triệu đồng.
Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công
dân cũng thường xuyên được quan tâm chỉ đạo. Kết
quả trong năm đã tiếp nhận 76 đơn thư ( khiếu nại
43, tranh chấp 21, tố cáo 12 ), trong đó 45 đơn thư không
thuộc thẩm quyền giải quyết đã chuyển trả và hướng
dẫn các đương sự đến các cơ quan thẩm quyền để
giải quyết. Trong 31 đơn thư ( khiếu nại 18, tranh
chấp13 ) thuộc thẩm quyền giải quyết của huyện, đã
giải quyết xong 21/31 đơn ( khiếu nại 15, tranh chấp 6
), còn lại 10 đơn ( khiếu nại 3, tranh chấp 7 ) đang
trong quá trình chỉ đạo để giải quyết. Trong công tác
giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo đảm bảo đúng
pháp luật qui định. Tuy nhiên việc kiểm tra đôn đốc
giải quyết chưa được thường xuyên, tiến độ
giải quyết còn chậm.
Công tác tiếp dân được duy trì thường xuyên.
Kết quả đã tiếp 25 lượt người, trong đó có 5 lượt
có đông người tham gia. Hàng tuần đại biểu HĐND
huyện đều tổ chức tiếp công dân để kịp thời
giải quyết hoặc yêu cầu các cơ quan chức năng giải
quyết đúng theo tâm tư nguyện vọng của nhân dân và
pháp luật nhà nước.
4.
Công tác tư pháp:
Được
quan tâm chỉ đạo thực hiện và đạt những kết
quả tốt. Đã tiến hành củng cố kiện toàn cơ bản
Ban tư pháp 12/12 xã, thị trấn và bổ nhiệm 12 cán
bộ tư pháp chuyên trách theo qui định, bước đầu đã
đi vào hoạt động có nề nếp và hiệu quả; Tổ
chức 17 lần tuyên truyền phổ biến 15 văn bản pháp
luật có trên 1.700 lượt người tham dự; Tổ chức thành
công Hội thi Hộ tịch viên giỏi cấp huyện lần thứ
nhất và tham gia Hội thi cấp tỉnh; tổ chức hội
nghị tập huấn hương ước, qui ước và đã phê
duyệt được 9 bản qui ước của 2/12 xã, thị trấn (
Khánh Hải, Phước Kháng ); tổ chức hội nghị tập
huấn quán triệt nội
dung cơ bản của pháp lệnh về tổ chức và hoạt động
hoà giải cơ sở; tiến hành củng cố 33 tổ / 6 xã
gồm 90 cộng tác viên để thực hiện công tác tuyên
truyên phổ biến giáo dục pháp luật ở cơ sở; củng
cố kiện toàn 25 tổ hoà giải thành công 65/86 vụ
việc, đã góp phần làm ổn định tình hình an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
5.
Công tác thi hành án:
Tuy
có nhiều cố gắng, nhưng kết quả đạt được vẫn
còn hạn chế. Tổng số việc phải thi hành là 462
việc, trong đó: số việc không có điều kiện thi hành
101 việc; có điều kiện thi hành 361 việc, đến nay đã
giải quyết xong 206 việc, thi hành được 27 việc, thi
hành dỡ dang 91 việc, thi hành chưa có kết quả 37
việc, chuyển kỳ sau thi hành 256 việc. Về tỷ lệ thi
hành án đạt 57,06% và tỷ lệ về tiền
đạt 37,46%.
Tóm lại: Những hạn chế
trong lĩnh vực quốc phòng an ninh là cần phải tăng
cường hơn nữa công tác điều tra phá án, nắm và
giải quyết tình hình an ninh nông thôn, vùng giáp ranh,
vùng biển không để xảy ra điểm nóng, giải quyết
đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân bảo đảm
đúng luật định, giải quyết tình hình chống lệnh,
chống khám và đào bỏ ngũ.
IV.
NHẬN XẾT ĐÁNH GIÁ CHUNG:
1.
Về ưu điểm:
Thực hiện Nghị quyết của HĐND huyện về
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2001. Tuy điều
kiện thời tiết không thuận, nhưng tình hình kinh tế
- xã hội tiếp tục ổn định, phần lớn các chỉ tiêu
cơ bản đạt và vượt kế hoạch đề ra: Chỉ tiêu
về lương thực, phát triển đìa nuôi tôm, sản lượng
tôm thịt về thu chi ngân sách, về giảm mức tăng dân
số tự nhiên. Cụ thể: Sự phát triển nhanh của
nghề nuôi tôm sú, sản xuất tôm giống, cùng với sự
phát triển cơ sở hạ tầng dịch vụ hậu cần nghề
cá đã khẳng định chủ trương chuyển đổi cơ cấu
kinh tế là hoàn toàn đúng đắn, ngành thuỷ sản đã
trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, bên
cạnh đó ngành sản xuất nông nghiệp cũng được duy
trì ổn định và phát triển; công tác chăm sóc rừng trồng, rừng tái sinh ngày càng được nâng
cao, biện pháp phòng ngừa cháy rừng có hiệu quả hơn
trước. Trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản,
vốn đầu tư, số lượng công trình tăng hơn so với năm
trước. Hệ thống giao thông, thuỷ lợi, điện sinh
hoạt và sản xuất được tăng cường đầu tư. Sự
nghiệp giáo dục-đào tạo, sự nghiệp y tế, phát
thanh ngày càng được nâng cao về chất lượng; phong
trào văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao được đầu
tư phát triển cả về loại hình và nội dung từng bước
cải thiện đời sống vật chất và đời sống tinh
thần cho nhân dân, góp phần giữ gìn và phát huy bản
sắc nền văn hoá dân tộc. Các tội phạm hình sự,
tệ nạn xã hội được phát hiện và ngăn chặn kịp
thời., bảo đảm tình hình an ninh chính trị, trật
tự xã hội trên địa bàn; nền dân chủ Xã hội chủ
nghĩa ngày càng được tăng cường và phát triển.
2.
NHỮNG HẠN CHẾ VÀ TỒN TẠI:
Công
tác chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa
bàn huyện thực hiện còn chậm, chưa hình thành được
các vùng cây chuyên canh phù hợp với điều kiện
thời tiết, khí hậu thổ nhưỡng trên đại bàn ;
kết quả phát triển ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm
theo hướng sản xuất hàng hoá còn hạn chế, triển
khai qui hoạch đồng cỏ chăn nuôi, kiên cố hoá kênh mương,
củng cố chuyển đổi HTX tiến hành chậm, hoạt động
sản xuất kinh doanh các HTX hiệu quả còn thấp.Công tác
quản lý đất đai trên đại bàn chưa chặt chẽ, tình
trạng vi phạm luật đất đai xảy ra khá phổ biến;
việc cấp quyền sử dụng đất màu, đất ở nông thôn
còn chậm, việc quản lý tài nguyên chưa tốt; Trong lĩnh
vực nuôi trồng thuỷ sản chưa tuân thủ theo lịch
thời vụ, tính cộng đồng người nuôi tôm chưa cao; tình
hình khai thác hải sản giảm sút mạnh so với năm trước;
lĩnh vực xây dựng cơ bản một số công trình thực
hiện còn chậm, chất lượng chưa cao, quản lý sử
dụng kém hiệu quả. Trong lĩnh vực văn hoá xã hội, công
tác phổ cập giáo dục tiểu học, chống mù chữ
thấp; phòng chống dịch sốt rét kém hiệu quả, kết
quả phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hoá còn hạn chế; Vệ sinh môi trường và
vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được bảo đảm. Về
quốc phòng an ninh cũng còn có những mặt hạn chế
trong công tác điều tra phá án, xử lý các trường
hợp chống khám, chống lệnh, đào ngũ bỏ về địa
phương và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo
của công dân còn chậm. Đời sống một bộ phận nhân
dân ở vùng miền núi và vùng biển còn khó khăn.
3.
VỀ NGUYÊN NHÂN:
Những
hạn chế và tồn tại trên , ngoài những nguyên nhân
khách quan, còn có những nguyên nhân chủ quan sau đây:
- Việc thực hiện các chủ chương, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tuy đã có sự
chỉ đạo triển khai, nhưng việc theo dõi, hướng dẫn
đôn đốc và kiểm tra thực hiện của các ngành, các
cấp chưa thường xuyên, sâu sát, nên hiệu quả mang
lại còn hạn chế.
- Một số cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND
huyện chưa chủ động trong công tác tham mưu giúp
việc, sự phối kết hợp có mặt chưa đồng bộ. Công
tác qui hoạch đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên
môn cho cán bộ công chức chưa đáp ứng yêu cầu, năng
lực của một số cán bộ còn hạn chế, chưa đảm
đương được nhiệm vụ theo yêu cầu đặt ra.
- Tình hình kỷ luật kỷ cương từng lúc, từng
nơi còn lỏng lẻo, tư tưởng trông chờ ỷ lại cấp
trên, chưa chấp hành nghiêm túc sự chỉ đạo của
cấp trên, trong chỉ đạo chưa cương quyết giải
quyết một số vụ việc.
- Tình trạng đùm đẩy, né tránh trách nhiệm đôi
lúc đôi nơi còn xảy ra, chế độ thông tin báo cáo chưa
được thực hiện nghiêm túc, làm ảnh hưởng đến công
tác chỉ đạo điều hành. Trong công tác quản lý của
một số địa phương, nhất là trong lĩnh vực đất đai
còn nhiều bất cập.
|