- Nông lâm nghiệp
    - Thuỷ sản
    - CN & Tiểu thủ CN
    - Du lịch
    - Đầu tư trong nước
    - Đầu tư nước ngoài
  - Đầu tư XD hạ tầng theo
   hình thức ứng vốn trước
  

TỔNG QUAN VỀ NINH THUẬN         

       Ninh Thuận là tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, tổng diện tích tự nhiên 3.360,06 km2, dân số năm 2004 là 556 ngàn người, gồm 1 thị xã (Phan Rang-Tháp Chàm), 5 huyện Ninh Sơn, Bác Ái, Ninh Hải, Ninh Phước, Thuận Bắc; 44 xã, 4 thị trấn và 12 phường.

     Có 3 trục giao thông lớn có tính huyết mạch chạy qua là quốc lộ 1A, đường sắt Bắc-Nam và quốc lộ 27 nối Ninh Thuận với Ðà Lạt lên nam Tây Nguyên, cách thành phố Hồ Chí Minh 350 km, nằm trong khu vực ảnh hưởng trực tiếp của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, gần cảng Canh Ranh và sân bay Nha Trang. Vị trí địa lý đó tạo điều kiện cho Ninh Thuận có điều kiện mở rộng giao lưu kinh tế, tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ với các tỉnh Đông nam bộ, Nam Tây nguyên, Duyên hải miền Trung và cả nước.

     Lãnh thổ Ninh Thuận được bao bọc giữa 3 mặt là núi và một mặt là biển, có 3 dạng địa hình: đồi núi (63,2% diện tích), đồi gò bán sơn địa (chiếm 14,4% diện tích), đồng bằng ven biển (chiếm 22,4% diện tích) có nhiều lợi thế đặc thù bổ sung cho nhau cùng phát triển.

    Ninh Thuận có khí hậu đặc thù, nằm trong khu vực khô hạn nhất cả nước, nền khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với đặc trưng là khô nóng, gió nhiều, bốc hơi mạnh, không có mùa đông. Nhiệt độ trung bình năm 26-27oc. Lượng mưa trung bình 700-800 mm ở Phan rang và tăng dần theo độ cao trên 1100 mm ở vùng miền núi. Ðộ ẩm không khí từ 75-77%. Thời tiết có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9-11; mùa khô từ tháng 12-8 năm sau. Ðặc điểm khí hậu cho phép Ninh thuận có những đặc sản có giá trị kinh tế cao như (nho, mía, thuốc lá, hành tỏi, chăn nuôi bò đàn, dê, cừu), sản xuất muối công nghiệp trên quy mô lớn.

Có 2 hệ thống sông chính với tổng diện tích lưu vực là 3.600km2, tổng chiều dài sông suối 430km. Không thuận lợi về giao thông, nhưng là nguồn cung cấp nước quan trọng cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và công nghiệp.

    Bờ biển dài 105 km, vùng lãnh hải 18.000 km2 có 3 cửa chính ra biển là Ðông Hải, Cà Ná, Khánh Hải, giàu nguồn lợi hải sản, có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch và công nghiệp khai thác khoáng sản biển.
Nằm trong vùng có nhiệt độ cao, cường độ bức xạ lớn, Ninh thuận có điều kiện lý tưởng để sản xuất muối công nghiệp. Khả năng diện tích làm muối có thể tới 3000-4000 ha, tập trung ở khu vực Ðầm Vua, Cà Ná, Quán Thẻ và vùng ven biển thị trấn Khánh Hải. Sản lượng thu hoạch hàng năm có thể đạt 400-500 ngàn tấn.

Tiềm năng quỹ đất để phát triển nông nghiệp còn khá lớn. Ðất chưa sử dụng còn 104,1 nghìn ha (31% diện tích tự nhiên), trong đó diện tích đất trống đồi núi trọc khoảng 92 nghìn ha, mặt nước chưa sử dụng 1.044 ha. Ðất nông nghiệp đã sử dụng 60,4 nghìn ha, có khả năng mở rộng thêm khoảng 46 nghìn ha đây là nguồn lực quan trọng cần được khai thác đúng mức. Ðất lâm nghiệp 200 nghìn ha. Thời gian tới nhu cầu phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng nhà ở tăng nhanh, sẽ được bố trí trên cơ sở tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

    Rừng của Ninh Thuận có ý nghĩa rất quan trọng đối với phát triển các ngành kinh tế-xã hội và cải tạo môi trường sinh thái, là một thế mạnh cần khai thác trong thời kỳ tới. Trữ lượng gỗ 11 triệu m3 và 2,5 triệu cây tre nứa. Rừng sản xuất có 58,5 nghìn ha, trữ lượng 4,5 triệu m3 gỗ, rừng phòng hộ đầu nguồn 98,9 nghìn ha, trữ lượng gỗ 5,5 triệu m3.

    Nguồn khoáng sản tương đối phong phú về chủng loại, gồm có: Wolfram ở Krông pha, núi Ðất; molipđen ở Krôngpha, núi Ðất (4000 tấn), thiếc gốc ở núi Ðất (24000 tấn). Khoáng sản phi kim loại gồm thạch anh tinh thể ở núi Chà bang, Mộ tháp I, Mộ tháp 2; cát thủy tinh Thành tín, sét gốm Vĩnh thạnh...Muối khoáng phát hiện ở nhiều nơi: thạch anh Cà ná, Ðầm vua, sô đa đèo Cậu...Nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng có cát kết vôi ở Sơn hải, Cà ná, Mỹ tường trữ lượng khoảng 1,5 triệu m3; đá vôi san hô ở Mỹ Tường, Thái An, Cà Ná-trữ lượng 2,5 triệu tấn CaO; sét phụ gia, đá xây dựng...

Ninh Thuận có tiềm năng du lịch đa dạng, độc đáo với các bãi biển và di tích văn hoá, lịch sử, các tháp Chàm được xây dựng từ thế kỷ XIII như tháp Poklong Garai, tháp Porômê, di tích bẫy đá Pi Năng Tắc, đèo Ngoạn mục...

     Ngơì sáng trên bức tranh thiên nhiên tươi đẹp của Ninh Thuận là truyền thống cách mạng của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gần 30 năm kháng chiến chống thực dân đế quốc, Ninh Thuận đã anh dũng chiến đấu kiên cường trên mảnh đất cực Nam Trung bộ đầy gian khổ. Những cái tên như chiến khu CK7, căn cứ Bác ái đã đi vào lịch sử dân tộc. Từ năm 1975 đến nay, Ninh Thuận đã cùng cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, kinh tế được phát triển, đời sống xã hội được cải thiện.

     Cộng đồng dân cư gồm hơn mười dân tộc cùng chung sống, trong đó người Kinh 78,3%; người Chăm 12,7%; người Raglai 8%; người K'Ho 0,5%; người Hoa 0,5%. Dân số thành thị 133 nghìn người (25,6%), trong tuổi lao động chiếm 52,5% dân số; lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông lâm nghiệp thuỷ sản chiếm 73,8%, trong lĩnh vực công nghiệp-xây dựng 6,8% và trong khu vực dịch vụ 19,4% lao động xã hội của tỉnh.