[Định hướng phát triển][ Quyết định ][Quy hoạch phát triển KT - XH ][Trang chủ

Một số chủ trương và giải pháp 

  Mọi chủ trương và giải pháp trong 5 năm tới là tạo động lực cho sự phát triển, phát huy tối đa mọi nguồn lực phát triển, kết hợp lợi ích cá nhân với lợi ích chung toàn xã hội. Đảm bảo các thành phần kinh tế đều được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác cạnh tranh lành mạnh thực sự là bộ phận cấu thành của nền kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

1/ Tạo môi trường thuận lợi để phát huy tối đa sự phát triển trong các thành phần kinh tế bao gồm: Kinh tế nhà nước, các hinh thức kinh tế cổ phần, kinh tế hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, kinh tế trang trại, kinh tế hộ gia đình hoạt động và cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh trong khuôn khổ pháp luật.

- Đối với doanh nghiệp nhà nước: Tập trung củng cố, nâng cao hiêu quả sản xuất kinh doanh, phải chủ động đổi mới thiết bị, nâng cao năng lực quản lý, tiếp cận công nghệ mới để tạo sức cạnh tranh trong điều kiện mới, thực sự là vai trò nòng cốt của nền kinh tế.

- Thực hiện sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động theo tinh thần Nghị quyết trung ương 3 ( khoá IX) . Phân loại cụ thể từng doanh nghiệp.     

theo cáo tiêu chí quy định để xác định mức độ nhà nước sở hữu vốn khi cổ phần hóa doanh nghiệp hoặc chuyển đổâi hình thức quản lý khác.

Rà soát lại các doanh nghiệp hoạt động công ích đảm bảo các doanh nghiệp này cùng thực hiện hạch toán. Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với các sản phẩm và dịch vụ công ích, không phân biệt loại hình doanh nghiệp và thành phần kinh tế.

Tiếp tục triển khai và hòan thành việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, thực hiện giao, bán, khóan cho thuê những doanh nghiệp nhà nước có quy mô nhỏ không cổ phần hóa được, sát nhập, giải thể hoặc phá sản các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả.

Nhà nước thực hiện chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tập thể. Hoàn thành quá trình chuyển đổi các hợp tác xã , khuyến khích hình thức liên doanh, liên kết giữa hợp tác xã với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân.

Kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển mạnh, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử, bảo đảm cơ hội và lựa chọn bình đẳng của các thành phần kinh tê.

Cải cách các thủ tục hành chính về cấp đất xây dựng, về vay vốn để mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế, nhất là loại doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhu cầu đầu tư vào sản xuất- kinh doanh thuộc các lĩnh vực nhà nước không cấm được nhanh chóng, thuận lợi. 

2/. Khai thác có hiệu quả tài nguyên đất đai để phát triển sản xuất: Trên cơ sở tổng điều tra quỹ đất năm 2000, cần xúc tiến chiến lược sử dụng đất 2001-2010 mà trọng tâm là kế hoạch khai thác tài nguyên đất có khả năng nông nghiệp chưa sử dụng để đưa vào sản xuất trong kế hoạch 2001-2005, trước hết là cho nhu cầu phát tiển kinh tế trang trại, trồng cây công nghiệp, cây ăn trái ngắn ngày, dài ngày, phát triển chăn nuôi gia súc có sừng ở miền núi.

Lập kế hoạch khai thác sử dụng 80.000 ha đất trống, đồi núi trọc. Trong vòng 5 năm tới đưa vào khai thác sử dụng cho được 8-10.000 ha trồng cây lương thực, cây ăn trái và trồng cở chăn nuôi.

Hạn chế một các hợp lý tình trạng chuyển nhượng ruộng đất và tích tụ ruộng đất quá mực hạn điền ở các vùn mật độ dân cư đông, trong khi chuyển dịch lao động sang khu vực phi nông nghiệp còn thấp ở vùng đồng bằng Ninh Phước, Ninh Hải, Phan Rang- Tháp Chàm.

Các vùng đã quy hoạch cần gắn đồng bộ với chính sách ưu đãi về thời hạn cho thuê quyền sử dụng đất, hõan- miễn- giảm tiền thuê đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất để kích thích nhân dân đầu tư.

Quy hoạch tổng thể các vùng đất, mặt nước chuyển sang nuôi trồng thủy sản giai đoạn đến 2010 và kế hoạch sử dụng đến 5 năm tới. Quy hoạch chi tiết đất xây dựng các cơ sở chế biến thủy sản ở các trung tâm nghề cá. 

3/. Hòan chỉnh, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và kế hoạch, gắn quy hoạch, kế hoạch với thị trường. Gắn kế hoạch với cơ chế chính sách. Nâng cao chất lượng công tác dự báo và định hướng phục vụ cho kế hoạch. Đổi mới nội dung và phương pháp lập và thực hiện kế hoạch theo hướng huy động tốt nội lực, khai thác mọi tiềm năng của địa phương gắn với sử dụng có hiệu quả nguồn lực bên ngoài.

Xây dựng hòan chỉnh các chính sách ưu đãi của tỉnh đối với đầu tư trong và ngoài nước để thu hút nhiều dòng vốn đầu tư vào Ninh Thuận nhất là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đảm bảo các chính sách phát thật sự thông thoáng, để các nhà đầu tư an tâm bỏ vốn đầu tư khai thác các tiềm năng và lĩnh vực tỉnh khuyến khích.

Quy hoạch và triển khai xây dựng các cụm công nghiệp Cà Đú, Đông- Mỹ Hải và các cụm công nghiệp khác, trên cơ sở nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và ban hành các chính sách thu hút vốn vào các cụm công nghiệp nói trên. 

4/. Khai thác, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính- tín dụng và các nguồn vốn khác vào đầu tư phát triển kinh tế- xã hội.

Để đảm bảo được nhiệt độ phát triển và chuyển dịch cơ cấu như mục tiêu đề ra, nhu cầu vốn đầu tư phát triển xã hội 5 năm tới là rất lớn. Đây là một thứch thức không nhỏ để vượt qua ngưỡng cửa của một tỉnh nghèo.

Vì vậy nhiệm vụ và mục tiêu tài chính 5 năm tới là phải tạo nguồn thu, nuôi dưỡng nguồn thu để tăng thu ngân sách từng bước thu hẹp dần mức ngân sách Trung ương hỗ trợ hàng năm cho tỉnh, đáp ứng tốt các mục tiêu chi cho phát triển kinh tế- xã hội và quốc phòng an ninh, phải huy động thật tốt các nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí vào ngân sách Nhà nước. Mở rộng việc huy động vốn phục vụ cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, góp phần vào sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Tăng cường quản lý chi ngân sách, cải cách cơ cấu chi ngân sách địa phương theo hướng giảm tỷ trọng chi thường xuyên, tăng dần cho ngân sách cho đầu tư phát triển và các mục tiêu giáo dục- đào tạo, y tế và khoa học công nghệ.

Đảm bảo tính công khai, công bằng trong chi ngân sách trên cơ sở các định mức chi hợp lý. Phân cấp mạnh cho các huyện, thị quản lý ngân sách để tạo tính chủ động và tăng cường trách nhiệm của các huyện thị trong quyết định chi ngân sách phục vụ cho sự phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn.

Từ thực trạng của nền kinh tế phát triển thấp, cân đối nguồn thu trên địa bàn không đủ đáp ứng được nhu cầu cho đầu tư phát triển, vì vậy cần tranh thủ sự tài trợ của ngân sách Trung ương. Đồng thời chủ động xây dựng các sự án để tranh thủ vốn từ các nhà tài trợ quốc tế (WB,ADB,ODA …) để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tần kinh tế- xã hội, trọng tâm là những dự án đầu tư cho giao thông nông thôn, thủy lợi, điện, nước sinh hoạt, giáo dục, dạy nghề.

Mở rộng quy mô, phạm vi hoạt động và nâng cao hiệu quả hco vay của các tổ chức tín dụng nhất là hệ thống ngân hàng thương mại. Trước yêu cầu phát triển mới của thị trường vốn, đòi hỏi các ngân hàng thương mại phát huy cao tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc huy động vốn trong dân cư và tổ chức kinh tế, mở tộng quy mô cho vay đối với tất cả các thành phần kinh tế theo luật ngân hàng. Tín dụng ngân hàng phải là đòn bẩy góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo thêm năng lực sản xuất và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tê.

Cải tiến hình thức cho vay của ngân hàng phục vụ người nghèo và vốn cho vay giải quyết việc làm, bảo đảm vốn vay thực sự đưa vào sản xuất- kinh doanh của người nghèo. 

5/. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh từ tỉnh, huyện đến cơ sở.

Lập quy hoạch, kế hoạch đào tạo và dạy nghề cho thời kỳ 2001-2005 trước hết là cho lực lượng lao động phổ thông từ 16-30 tuổi, vừa đáp ứng được nhu cầu lao động theo cơ cấu ngành, nghề trong tỉnh, vừa có ngyông lao động đấp ứng cho các khu công nghiệp trong vùng, cả nước và xuất khẩu lao động ra nước ngoài. Đẩy mạnh tiến độ xây dựng trường đào tạo nghề của tỉnh và tiếp tục đầu tư hàon chỉnh hệ thống các trung tâm kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và dạy nghề, coi đây là các trung tâm đào tạo nghề cho xã hội. Giải quyết việc làm và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục đào tạo và đào tạo lại đội ngỹ công chức đáp ứng được yêu cầu đặt ra đối với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng cơ chế chính sách nhằm khai thác tốt nguồn lực từ đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật hiện có trong tỉnh, phát huy tính sáng tạo, nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả những tiến bộ mới về khoa học và công nghệ vào sản xuất kinh doanh.

Lập kế hoạch đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản trị doanh nghiệp đủ sức tiếp cận những tiến bộ mới về khoa học quản lý, về công nghệ mới, biết sự báo và tiếp cận với thị trường để chủ động hội nhập vào tiến trình toàn cầu hóa và khu vực hóa.

Về cải cách hành chính:

+ Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính và coi đây là nhiệm vụ quyết định sự thành công của công cuộc đổi mới giai đoạn 2001-2005. Tổ chức và cải cách theo hướng tinh gọn, trong sạch, đủ phẩm chất và năng lực làm việc. Tăng cường kỷ cương nhà nước và chế độ trách nhiệm cá nhân. Coi trọng chính sách cán bộ trên cả 2 mặt bồi dưỡng và rèn luyện. Có biện pháp ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực và thiếu dân chủ. Xác định rõ chức năng, trách nhiệm và quyền hạn của từng tổ chức, từng bộ phận, từng công chức, khắc phục tình trạng chồng chéo, cồng kềnh, gây chậm trễ trong công việc..

+ Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, công khai và minh bạch các chủ trương và chính sách của nhà nước, từng bước nâng cao việc giám sát của công dân đốùi với hoạt động của các cơ quan nhà nước.

+ Phân cấp mạnh cho ngành và UBND các cấp huyện xã, trên cơ sở gắn trách nhiệm với quyền hạn, nghĩa vụ với quyền lợi. Phân cấp nhiệm vụ phải được gắn với phân cấp về tìa chính, ngân sách. Hiện đại hóa hệ thống thông rin, các phương tiện quản lý hiện đại. Tăng cường chế độ kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách cơ chế đã ban hành. Tích cực chống tham nhũng.

+ Nâng cao năng lực tổ chức chỉ đạo thực hiện các nghị quyết, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong cơ quan lãnh đạo để cụ thể hóa một cách nghiêm túc thành chương trình hành động của ngành, đơn vị, địa phương. Phân công trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên, định rõ thời gian hoàn thành cho từng việc.

+ Phải thường xuyên kiểm tra, rút kinh nghiệm bổ khuyết kịp thời những sai sót thông qua việc thường xuyên bám sát cơ sở, phát hiện những nhân tố mới, những điển hình tiên tiến từ trogn nhân dân và các đơn vị cơ sở đẻ nhân rộng thành phong trào thi đua của quần chúng. Biểu dương kịp thời những tổ chức, đơn vị, cá nhân làm tốt, phê bình nghiêm túc những đơn vị, cá nhân không hòan thành trách nhiệm được giao.