(Số 27 -
NQ/TU ngày 24 tháng 11 năm 2003 của Tỉnh ủy Ninh Thuận)
I/
THỰC TRẠNG NHÀ Ở VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, PHÁT
TRIỂN NHÀ Ở ÐÔ THỊ THỜI GIAN QUA:
Trong những năm qua, cùng với việc đầu tư hạ
tầng đô thị, lĩnh vực phát triển nhà ở đô
thị diễn ra với tốc độ cao ở các thị trấn,
thị xã đã thu hút lượng vốn lớn trong nhân dân
và các doanh nghiệp phát triển nhà ở, từng bước
cải thiện chất lượng nhà ở cho nhân dân. Công tác
quy hoạch đô thị, quy hoạch khu dân cư đã được
quan tâm. Ðáng lưu ý thị xã Phan Rang-Tháp Chàm cùng
việc nâng cấp hạ tầng đô thị đạt chuẩn đô
thị loại III vào năm 2005,
một số khu dân cư mới được đầu tư đồng
bộ về hạ tầng điện, nước, giao thông tạo
diện mạo mới cho trung tâm tỉnh lỵ.
Tuy nhiên, nhà ở các đô thị tỉnh Ninh Thuận chủ
yếu nhà bán kiên cố chiếm 70% và sở hữu tư nhân
chiếm 97,46%; công tác phát triển nhà ở thời gian
qua chưa theo kịp sự phát triển chung và chưa đáp
ứng được yêu cầu của xã hội. Còn khoảng 6.000
hộ chưa được đáp ứng nhu cầu nhà ở; nhà ở
cho người thu nhập thấp chưa được quan tâm. Một
số khu dân cư mới phát triển chưa đồng bộ về
hạ tầng kỹ thuật ảnh hưởng xấu đến vệ sinh
môi trường của cộng đồng dân cư; việc xây
dựng nhà ở tự phát xảy ra thường xuyên nhưng chưa
có biện pháp xử lý hữu hiệu ảnh hưởng lớn đến
an toàn giao thông, cảnh quan và phát triển đô
thị. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sở
hữu nhà ở và quyền sử dụng đất tại các đô
thị trong tỉnh còn nhiều bấp cập.
Những tồn tại trên là do : Vốn bố trí cho quy
hoạch đô thị, nhất là quy hoạch chi tiết vẫn chưa
được đáp ứng; xã hội hóa công tác phát triển
nhà ở là một chủ trương lớn, song chưa được
sự quan tâm triển khai của các cấp, ngành; việc
cụ thể hóa các chính sách của Nhà nước về lĩnh
vực này trong điều kiện cụ thể của địa phương
còn lúng túng, chưa huy động được tốt năng lực
tài chính của nhân dân và các thành phần kinh tế
vào lĩnh vực phát triển nhà ở. Năng lực của
bộ máy quản lý còn yếu; ý thức tuân thủ pháp
luật của một bộ phận nhân dân chưa cao làm cho
việc phát triển nhà ở còn mang tính tự phát, kỷ
cương không nghiêm, ảnh hưởng đến phát triển đô
thị cũng như trật tự, an toàn xã hội.
II/
QUAN ÐIÊM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT
TRIỂN NHÀ Ở ÐÔ THỊ ÐẾN NĂM 2005 VÀ 2010 :
1/ Quan điểm :
- Nhà nước tạo điều kiện để mọi người dân
được cải thiện nhà ở. Ðồng thời với việc
phát triển quỹ nhà ở kinh doanh,
cần quan tâm phát triển quỹ nhà ở cho các
đối tượng chính sách và người có thu nhập
thấp. Ðẩy mạnh việc xã hội hóa trong công tác
phát triển nhà tạo môi trường cho thị trường
bất động sản hoạt động lành mạnh và có hiệu
quả theo đúng các quy định của pháp luật.
- Phát triển nhà ở đô thị phải gắn với mục
tiêu phát triển kinh tế -xã hội và phải thực
hiện thông qua các dự án nhằm đảm bảo đồng
bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạn chế nhà ở phân
lô, dành đất cho cây xanh và các công trình phúc
lợi làm cơ sở cho việc phát triển đô thị bền
vững.
- Tiêu chuẩn thiết kế và kiến trúc nhà ở phải
bảo đảm cả về diện tích, không gian, môi trường
và cảnh quan; kết hợp được tính hiện đại và
tính dân tộc, phù hợp các tiêu chuẩn, quy chuẩn
về nhà ở do nhà nước quy định.
- Phát triển nhà ở cần đa dạng các loại hình
nhà ở với tỷ lệ hợp lý giữa nhà phân lô,
nhà biệt thự, nhà liên kế, nhà chung cư; phong phú
về kiểu dáng, quy mô, phù hợp với sức mua của các
đối tượng trong xã hội.
2/Mục tiêu :
- Diện tích nhà ở bình quân đô thị đạt 10m2/
người vào năm 2005 và 12m2/ người vào năm
2010, trong đó diện tích xây dựng mới căn hộ bình
quân đạt 80m2. Tỷ lệ nhà ở kiên cố
tại các đô thị toàn tỉnh đạt 25% năm 2005
và 35% năm 2010, riêng thị xã Phan Rang-Tháp Chàm đạt
40% năm 2005, 50% năm 2010, phấn đấu nhà ở chung cư
chiếm 25% diện tích xây dựng.
- Ðến năm 2005, hoàn thành đưa vào sử dụng 8-10
khu dân cư mới, trong đó thị xã Phan Rang-Tháp Chàm
5-7 khu dân cư phục vụ cho nhu cầu nhà ở cho nhân
dân. Ðến năm 2010, cơ bản giải quyết nhu cầu
tối thiểu về nhà ở cho các đối tượng chính sách,
cán bộ, công chức và lực lượng vũ trang trên địa
bàn tỉnh, giải quyết xong việc hỗ trợ cải
thiện nhà ở cho các đối tượng có công với cách
mạng.
- Ðến năm 2010 hoàn thành bê tông hóa các đường
hẻm, cải tạo cơ bản hạ tầng kỹ thuật khu dân
cư cũ đồng thời với việc chỉnh trang một số
trục đường chính.
3/ Nhiệm vụ :
- Trên cơ sở quy hoạch phát triển đô thị các
thị trấn, thị xã, xác định cụ thể các địa
điểm quy hoạch, quỹ đất cho phát triển khu dân cư,
đô thị mới giai đoạn 2003 -2005 và đến 2010.
Tập trung tiến hành quy hoạch chi tiết các khu dân
cư, đô thị mới; lập các dự án đầu tư phát
triển các khu dân cư, đô thị mới. Ðối với các
khu đô thị mới dọc các tuyến phố lớn, trục
giao thông chính cần ưu tiên phát triển nhà cao
tầng, căn hộ cao cấp, diện tích rộng đáp ứng
nhu cầu thị trường bất động sản trong những năm
tới.
- Tăng cường công tác quản lý đất đai trong các
khu quy hoạch dân cư, khu đô thị mới, có quy định
cụ thể, nghiêm cấm việc sang nhượng quyền sử
dụng đất; chuyển mục đích sử dụng đất, xây
dựng mới các công trình, vật kiến trúc khác không
đúng quy hoạch trong các khu quy hoạch dân cư.
- Xây dựng phương án tái định cư chung cho các
hộ dân thuộc diện phải di dời trong các khu quy
hoạch dân cư, khu đô thị mới, tạo điều kiện
thuận lợi về mặt bằng để thực hiện các dự
án phát triển khu dân cư, đô thị mới được phê
duyệt.
- Tăng cường công tác quản lý về chất lượng,
tiến độ các dự án xây dựng các khu dân cư mới
theo đúng dự án được phê duyệt và các quy định
của pháp luật.
4/ Các giải pháp và chính sách :
4.1/ Giải pháp về quy hoạch kiến trúc và quản lý
đô thị :
- Tập trung làm tốt công tác quy hoạch các khu dân
cư, nhất là quy hoạch chi tiết. Quy hoạch khu dân cư
phải gắn với quy hoạch phát triển đô thị chung
của tỉnh, mục tiêu xây dựng thị xã Phan Rang-Tháp
Chàm đạt đô thị loại III vào năm 2005; đồng
thời phải coi trọng việc công bố công khai quy
hoạch để nhân dân biết và tham gia giám sát thực
hiện quy hoạch.
- Ðẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; phân
cấp cho các huyện, thị trong quản lý xây dựng đô
thị, các khu dân cư; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp
vụ cho cán bộ cơ sở, nâng cao hiệu lực trong
quản lý xây dựng nhà ở tại địa bàn; đồng
thời tăng cường công tác giáo dục vận động để
nhân dân hiểu và làm theo pháp luật.
- Ðối với các khu vực đô thị cũ cần được nâng
cấp chỉnh trang theo phương châm Nhà nước và nhân
dân cùng làm để cải thiện cơ sở kỹ thuật hạ
tầng.
- Ðối với khu vực đô thị mới, phát triển nhà
ở theo dự án và đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ
thuật và xã hội, đảm bảo yếu tố phát triển
bền vững. Trong khu đô thị mới cần bố trí hài
hòa các dạng nhà ở : Nhà phân lô, biệt thự, liên
kế, chung cư với giá thành và quy mô đa dạng để
đáp ứng yêu cầu cho các đối tượng thu nhập
thấp.
4.2/ Giải pháp về đất đai :
- Tăng cường quản lý nhà nước về đất đai; đẩy
nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sở
hữu nhà và quyền sử dụng đất.
- Sớm ban hành các quy định cụ thể trên cơ sở
chính sách của Nhà nước về đổi đất lấy hạ
tầng, đấu giá quyền sử dụng đất nhằm khai thác
triệt để quỹ đất để tạo vốn xây dựng hệ
thống kỹ thuật hạ tầng (giao thông đô thị và các
khu dân cư, đô thị mới).
4.3/ Giải pháp đền bù giải phóng mặt bằng :
- Ban hành chính sách thống nhất về đền bù giải
phóng mặt bằng cho toàn tỉnh theo hướng đảm
bảo quyền lợi cho người bị giải tỏa theo đúng
pháp luật. Ưu tiên giải quyết việc làm, đào
tạo nghề cho những người trong độ tuổi lao động
của hộ bị giải tỏa; tạo quỹ đất, quỹ nhà
để chủ động phục vụ công tác tái định cư.
Áp dụng cho nợ, trả chậm tiền sử dụng đất
theo từng đối tượng phù hợp với số tiền đền
bù để hộ bị giải tỏa có điều kiện xây
dựng nhà ở.
- Thành lập tổ chức chuyên trách để chuyên
nghiệp hóa công tác đền bù giải tỏa, qua đó
hạn chế sai sót và đảm bảo nhất quán trong quá
trình thực hiện.
- Ðảm bảo công khai, dân chủ, công bằng trong
giải tỏa đền bù, đồng thời kiên quyết xử lý
nghiêm minh những sai phạm của người thực thi công
tác giải tỏa cũng như những hộ dân không chịu
chấp hành quyết định
của nhà nước.
4.4/ Giải pháp tài chính :
- Ban hành các cơ chế, chính sách để huy động
nhiều nguồn vốn tham gia phát triển nhà ở đô
thị: Nhà nước, nhân dân, doanh nghiệp, tín dụng,
kể cả các nguồn vốn nước ngoài theo quy định
của pháp luật.
- Có chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu tư nhà
chung cư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hạ
giá thành xây dựng
để phục vụ cho các đối tượng có thu nhập
thấp, tái định cư ..
- Có chính sách ưu đãi về giá, thuế, lãi suất
mua nhà trả góp cho các đối tượng chính sách và
người nghèo.
- Các dự án phát triển hạ tầng khu dân cư, xây
nhà ở được phép ứng trước vốn của những
nguời có nhu cầu về nhà ở, vay vốn các tổ
chức tín dụng để thực hiện dự án.
4.5/ Giải pháp về quản lý và phát triển nhà ở :
- Các ngành chức năng, các địa phương tăng cường
công tác kiểm tra định kỳ, đột xuất, xử lý
nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định
của Nhà nước về quản lý đô thị : xây nhà trái
phép, vi phạm hành lang các công trình giao thông,
thủy lợi, điện ..
III/
TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
- Ban cán sự Ðảng UBND tỉnh chỉ đạo các ngành
chức năng tham mưu việc ban hành các quy định, cơ
chế phù hợp tình hình thực tế của địa phương
để thực hiện đề án phát triển nhà ở đô
thị giai đoạn 2003 -2010. Phân công, phân cấp cụ
thể cho các ngành chức năng và các địa phương
nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm
vụ mà Nghị quyết đề ra.
- Cấp ủy, chính quyền, các ngành, các cấp cùng
với Mặt trận và các tổ chức đoàn thể phổ
biến tinh thần Nghị quyết này đến toàn thể cán
bộ, đảng viên và nhân dân; động viên mọi
nguồn lực trong nhân dân, các thành phần kinh tế
đầu tư vào lĩnh vực phát triển nhà ở.
- Giao Ban cán sự Ðảng UBND tỉnh và Văn phòng
tỉnh ủy theo dõi việc triển khai Nghị quyết này,
định kỳ báo cáo để Ban Thường vụ Tỉnh ủy
cho ý kiến chỉ đạo.
|
|
| |
Các Nghị quyết, Quyết định khác |
|
|
|