| |
Ninh Thuận là một tỉnh cực Nam Trung Bộ, phía
Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa, Phía Nam giáp tỉnh Bình
Thuận, phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng, nằm ở vị trí
trọng điểm giao thông dọc quốc lộ 1 A, đường sắt
Bắc Nam, quốc lộ 27 đi lên Tây Nguyên. Diện tích đất
tự nhiên 3.360,06 Km2 . Lãnh thổ được bao bọc 3
mặt núi : Phía Bắc và phía Nam là 2 dãy núi cao lan ra sát
biển, phía Tây là vùng núi cao của tỉnh Lâm Đồng .Có
3 dạng địa hình :Miền núi, đồng bằng, và vùng ven
biển. Địa hình tương đối dốc và có hướng thấp
dần từ Tây sang Đông và từ Tây xuống Đông nam.
Các sông chính có tổng chiều dài 430 km ,gồm 2
hệ thống:
+ Hệ thống sông Cái dài 105 km và các sông nhánh
bao gồm : Sông Mê Lam, sông Sắt, sông Ông, sông Chá
ở vùng trung lưu, sông La, sông Quao ở miền hạ lưu.
+ Hệ thống các sông, suối nhỏ phân bố ở phía
Bắc và ở phiá Nam tỉnh: Sông Quán Thẻ (Ninh Phước), sông
Trâu, sông Bà Râu (Lợi Hải) .
Nhìn chung hệ thống sông ngắn, bắt nguồn và
kết thúc trong nội tỉnh, độ dốc bình quân lưu vực
từ 7-150 .
Đầm Nại với diện tích 650 ha đã và đang được
khai thác đưa vào nuôi trồng thủy sản, ngoài Đầm
Nại còn có khá nhiều đầm và hồ nhỏ khác.
Toàn tỉnh có 8 đỉnh núi cao từ 1.000 m trở lên
so với mặt nước biển.
DÂN
SỐ LAO ĐỘNG :
Dân số tính đến năm
2001 là 529.650 người. (Trong đó: Nam 261.596 người; Nữ :
268.054 người. Mật độ dân số 158 người/km2.
Nhìn chung lực lượng cán bộ khoa học và kỷ
thuật rất mỏng ,bình quân mới có 22 người /1.000 dân.
Thiếu cán bộ khoa học kỹ thuật ở trong hầu hết các
ngành kinh tế quốc dân và các cơ sở sản xuất quan
trọng, thiếu chuyên gia hàng đầu trên các lĩnh vực.
Chất lượng lao động kỷ thuật ở Ninh Thuận còn
thấp, không đồng đều, cần được đào tạo và đào
tạo lại .
TIỀM NĂNG KINH TẾ:
Quỹ đất :
Ninh Thuận có 8 nhóm đất chia thành 24
đơn vị phân
loại đất.
Các loại đất thuộc vùng đồng bằng ven biển.
+ Nhóm đất cát: Gồm 3 loại,
diện tích 13,418 ha, chiếm 3,83 % diện
tích tự nhiên. Trong đó : Cồn cát trắng vàng :2.169 ha ;
đất
cát biển: 6.727 ha; cồn cát dô :4.252 ha
.
Nhìn chung đất tương đối đồng nhất ,thành
phần chủ yếu là cát và cát mịn đã có tích lũy mùn
.Đất bị khô hạn nặng, mực nước ngầm sâu, đất có
phản ứng chua, nghèo mùn. Loại đất này chủ yếu
trồng rừng phòng hộ .Một số diện tích vùng thấp có
điều kiện tưới đưa vào trồng các loại
hoa màu như : hành, tỏi, nho.
+ Nhóm đất mặn: Gồm 4
loại, diện tích 2.294 ha, chiếm 0,67 % diện tích đất
tự nhiên, trong đó đất mặn sú vẹt 417 ha ở Đầm
Nại huyện Ninh Hải; đất mặn nhiều 525 ha ở Cà Ná
– Ninh Phước; đất mặn ít và trung bình 1.150 ha ở Hộ
Hải, Phương Hải, Nhơn Hải, Huyện Ninh Hải. Đất mặn
kiềm 202 ha ở Ninh Hải. Các loại đất mặn thường phân
bố ở vùng địa hình thấp hoặc ven sông dô ra biển
bị ảnh hưởng của thuỷ triều. Đất có thành phần cơ
giới nhẹ đến trung bình, mùn N,P2O5 K2O
tương đối khá. Đối với nhóm này ở vùng chủ động
nước,
không bị ảnh hưởng của thuỷ triều, có thể trồng lúa
và hoa màu, vùng không chủ động nước thì sản xuất
muối và nuôi trồng thủy sản.
Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản Ninh Thuận phân bố ở 4 nút quặng
chủ yếu là:
Krongpha, Maty-Núi đất, Cà Ná và Tà Năng; với các dạng khoáng sản như
sau: cát kết vôi; đá
vôi san hô; cát trắng; đá Granite; sô đa.
Ngoài ra còn có những khoáng sản khác như vàng
thiếc, môlipden, pirit … phân bố ở Krongpha, Công Hải,
Cà
Rơm.
Tài nguyên
biển, sông, hồ, đầm:
Bờ biển dài 105 km, với ngư trường rộng lớn, có
3 cửa biển là Đông
Hải, Cà Ná, Khánh Hải, là một trong 4 ngư trường lớn
nhất cả nước, giàu nguồn lợi và nhiều loại hải
sản, nhiều tiềm năng để phát triển du lịch và khai thác
khoáng sản biển.Tổng trữ lượng hải sản 120.000 tấn/năm trong đó lượng cá đáy 70- 80 ngàn tấn/năm, cá
nổi 30-40 ngàn tấn /năm. Khả năng khai thác hàng năm
50-60 ngàn tấn. Có trên 500 loại cá, trong đó có nhiều
loại có giá trị kinh tế cao: Cá Hồng, cá Ngừ, cá Mú,
cá
Thu, tôm Hùm, Mực nang, Mực ống, Mực lá, nhiều nhất là
mực nang trên 3.500 tấn.
Ngoài biển còn có các bãi ven biển,
đầm, hồ với tổng diện tích trên 3.000 ha,
rất thuận lợi cho sản xuất muối, nuôi trồng thủy
sản qui mô lớn tập trung ở Đầm
Nại, Cà Ná, Vĩnh Hy, Sơn Hải, Phú Thọ….
Nằm trong vùng có nhiệt độ cao, cường độ bức
xạ lớn, Ninh Thuận có điều kiện lý tưởng để sản
xuất muối Công nghiệp. Có khả năng phát triển diện tích ruộng muối lên 1.000 ha,
với
sản lượng là 130-135 ngàn tấn /năm tập trung ở khu
vực Đầm Vua, Cà Ná và vùng ven biển thị trấn Khánh
Hải.
Tài nguyên rừng :
(Theo số liệu năm
1999)
Đất lâm nghiệp:
281.217 ha, bao gồm đất có rừng 156.563 ha chiếm 62,3%; đất
trống đồi núi trọc( Trong tổng điều tra nông thôn nông nghiệp được phân vào nhóm
đất chưa sử dụng) 94.654 ha,chiếm 37,75 % đất lâm
nghiệp.Trữ lượng gỗ rừng Ninh Thuận là 10 triệu m3
và 2,5 triệu cây tre nứa .Rừng sản xuất
73.296 ha , trữ lượng 4,5 triệu m3
gỗ, rừng phòng hộ đầu nguồn 75.849 ha,
trữ
lượng gỗ 5,5
triệu m3 .
Hiện nay rừng giàu 3.031 ha, bằng 1,93 % diện tích
rừng của tỉnh, rừng trung bình có 9.266 ha chiếm 5,92 % còn
lại là rừng nghèo và rừng cây lùm, bụi.
94.654 ha đất trống đồi núi trọc, là nơi thuận
lợi để trồng rừng, trồng cây công nghiệp và phát
triển chăn nuôi bò, dê, cừu.
Cơ sở hạ tầng dịch vụ :
Ninh Thuận nằm trên các trục đường giao thông
xuyên Việt (quốc lộ 1 A , đường sắt Bắc Nam, quốc
lộ 27). Không xa địa bàn kinh tế trọng điểm Nam Bộ và
TP.Hồ Chí Minh và nằm trong cụm du lịch Đà Lạt - Phan
Rang – Nha Trang, có các cửa ngõ ra biển, có điều kiện
phát triển cảng thương mại.
Tại trung tâm của tỉnh có sân bay Thành Sơn, đủ
điểu kiện cho việc cất hạ cánh (Hiện nay chưa dành
cho dân sự)
Bờ biển dài 105 km có nhiều bãi tấm đẹp như Ninh
Chữ, Cà Ná gắn liền với các công trình văn hoá Chăm và
nhiều cảnh quan nối kết với hệ thống khách sạn, nhà
hàng và lòng hiếu mộ khách của người dân Ninh Thuận
.
Mục tiêu tổng quát của kế hoạch 5 năm 2001 - 2005
Là bước cụ thể hoá các mục tiêu, quan điểm của chiến lược 10 năm 2001- 2010, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế sang công nghiệp và dịch vụ, nâng cao sức cạnh tranh. Tăng cường chất lượng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tăng thêm năng lực sản xuất mới, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo tiêu đề cho bước
phát triển tiếp theo. Giảm hộ nghèo, ổn định và cải thiện mức sống nhân dân. Gĩư vững ổn định chính trị - xã hộI tăng cường sức mạnh quốc phòng và an ninh, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống.
Mục tiêu này thể hiện qua những nội dung và nhiệm vụ cụ thể như sau:
1- Phấn đấu đạt nhịp độ phát triển kinh tế bình quân hàng năm từ 8-9 %. Tổng sản phẩm GDP năm 2005 bằng 1,5 lần năm 2000. Gía
trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng 3-3,5 %, ngành thuỷ sản tăng 12-13 %, ngành công nghiệp tăng 14 -14,5 %, ngành dịch vụ tăng 7-8 %. Đến năm 2005 cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp- xây dựng 18-19 %, nông lâm nghiệp 26-27 %, thuỷ sản
24-25 % và dịch vụ 30-31 %.
2- Tổng giá
trị kim ngạch xuất khẩu đạt 30 triệu USD, mức đầu tư phát triển chiếm 25-30 % GDP.
3- Các mục tiêu
về xã hội :
Số học sinh có mặt đầu năm học tăng bình quân hàng năm 6,6%, trong đó học sinh mầm non tăng 17,3 %, học sinh phổ thông tăng 5,1%. Đảm bảo 95 % số ngườI trong độ
tuổI được đến trường. Hoàn thành phổ cập THCS ở thị xã, 3 thị trấn. Giảm tỷ lệ tăng dân số xuống 1,5 % vào năm 2005. Hàng năm giải quyết việc làm cho 9.000 lao động. Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dướI 5
tuổi xuống 25 %. Phấn đấu
không có hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn 5% vào năm 2005.
4- Đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính, đổi
mới bộ máy nâng cao hiệu lực và trình độ đội ngũ cán
bộ.
5- Thực hiện nhiệm vụ củng cố quốc phòng an ninh, đảm bảo trật tự xã hội.
Phương án mục tiêu phát triển kinh tế năm 2010
|
|
Nhịp độ tăng trưởng bình quân năm, %
|
|
1996 - 2000
|
2001 - 2010
|
|
GDP của tỉnh
|
11,0
|
12,0
|
|
Nông – lâm – ngư nghiệp
|
8,0
|
7,0
|
|
Công nghiệp – Xây dựng
|
14,0
|
15,0
|
|
Dịch vụ
|
12,1
|
15,5
|
|
|
Cơ cấu kinh tế, %
|
|
2000
|
2010
|
|
GDP
|
100
|
100
|
|
Nông – lâm – ngư nghiệp
|
50,2
|
35
|
|
Công nghiệp – Xây dựng
|
17,4
|
25
|
|
Dịch vụ
|
32,4
|
40
|
|