![]() |
|
||||||||
|
SẮC MÀU CỦA LỄ HỘI KATÊ CHĂM
Lễ hội Katê được tổ chức mỗi năm một lần vào tháng 7 lịch Chăm ( nhằm khoảng tháng 10 dương lịch) để
tưởng nhớ các vị Nam thần như Pô Klong Garai, Pô Pôme... Lễ
hội diễn ra trên một không gian rộng lớn, lần lượt từ đền
tháp ( Bi môm, kalan) - làng (Paley) - đến gia đình (Nga wôm),
tạo thành một dòng chảy phong phú, đa dạng.
Lễ hội Katê là một lễ hội dân gian đặc sắc nhất trong
kho tàng văn hóa của người Chăm, là tấm gương phản chiếu
sinh hoạt của cộng đồng; nơi hội tụ những giá trị tinh
hoa văn hóa của dân tộc. Do đó, Lễ hội không mhững gắn
với đền tháp cổ kính - nơi ngưng tụ những giá trị kỹ
thuật và mỹ thuật cao
nhất của nền văn hóa Chăm mà còn gắn với một phần khác
của văn hóa như: Đồ cúng tế, y
Lễ hội Katê diễn ra vào ngày mồng 01 tháng 07 Lịch Chăm. Vì
lịch Chăm không trùng với Dương lịch nên mỗi năm ngày tháng
tổ chức Katê Chăm có xê dịch với ngày tháng của Dương
lịch trong khoảng thời gian từ 25/9 đến 5/10 hàng năm. Năm
2000 lễ hội Katê chính thức diễn ra vào ngày 27/9.
Một ngày, trước khi lễ hội chính thức diễn ra tại các Đền
tháp Pô Nưgar, Tháp Pô Klong Garai , Tháp Pô rôme, tại thôn Hữu
Đức có tổ chức lễ đón rước y phục giữa người Raglai và
người Chăm. Sau đó đến ngày 28/9 thì tổ chức Katê ở làng
Chăm. Như vậy, Lễ hội Katê diễn ra trong thời gian 3 ngày (
từ 26/9 - 28/9/2000). Thời gian, địa điểm tổ chức lễ hội
cụ thể như sau: Lễ
đón rước y phục của nữ thần Pô Nưgar
Lễ diễn ra từ lúc 13h30 ngày 26/9 cho đến 21h00
ngày 26/9 kết thúc. Địa điểm tại thôn Hữu Đức, xã Phước
Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, cách thị xã Phan Rang
12km về hướng Tây Nam.
Đây là lễ đón rước y phục của Nữ thần Pô Nưgar - Thần
mẹ xứ sở của người Chăm gắn liền với nhiều huyền
thoại, truyền thuyết. Chính Nữ thần là thủy tổ của người
Chăm, đã dạy người Chăm làm lúa, trồng bông dệt vải, và làm
lễ hội như ngày nay. Lễ diễn ra tại ngôi Đền thờ ( Danok)
trong làng - Đền này được xây dựng vào năm 1942. Nơi đây,
du khách sẽ chứng kiến cuộc đón rước, trao báu vật của
Nữ thần và giao lưu văn hóa giữa người Chăm và người
RagLai. Lễ
hội Katê ở tháp Pô klông Grai (ngày thứ hai)
Lễ diễn ra bắt đầu từ lúc 8h30 đến 14h00
ngày 27/9 kết thúc. Tháp Pô klong Garai nằm trên ngọn đồi
trầu( chơk hala) thuộc phường Đô Vinh, cách trung tâm thị xã
Phan Rang - Tháp Chàm 9 km về phía Tây Bắc. Tháp Pô Klong Garai là
một tổng thể kiến trúc nghệ thuật bao gồm 3 ngôi tháp: Tháp
chính ( Kalan Pô) cao 20,5m bên trong có thờ một tượng vua Pô
Klong Garai bằng đá dưới hình thể Mukhalinga ( Linga có gắn
mặt thần chủ) và một tượng Bò Nadin bằng đá ở lối ra vào;
Tháp cổng ( Kalan tabah bibang) cao khoảng 8,56 m; Tháp lửa ( Thang
cuh yang apui) cao 9,31m. Ngoài ra ở phía sau Tháp chính còn có
một ngôi miếu nhỏ thờ một phiến đá. Xung quanh tháp được
bao bằng một vòng thành. Tháp được người Chăm xây dựng vào
cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV để thờ vị vua Pô Klong
Garai (1151 - 1205) - một vị vua có công với dân, với nước,
được người Chăm suy tôn thành Thần thuỷ lợi. Tháp Pô Klong
Garai là một cụm tháp hoàn mỹ, đã đạt đến đỉnh cao rực
rỡ trong nền nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chămpa. Tháp
được Bộ văn hoá xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật vào
năm 1979. Chính vì vậy, nơi đây đã trở thành trung tâm thu hút
cộng đồng người Chăm Ninh Thuận trong ngày Hội Katê hàng năm.
Lễ hội được bắt đầu vào lúc 8h30 đến 14h00
ngày 27/9 thì kết thúc ( lễ hội được diễn ra cùng ngày cùng
giờ với tháp Pô Klong Garai). Tháp Pô Rôme nằm trên ngọn đồi
“ Bôn acho” thuộc thôn Hậu Sanh, xã Phước Hữu, huyện Ninh
Phước, tỉnh Ninh Thuận, cách thị xã Phan Rang - Tháp Chàm 15km
về phía Tây Nam. Tháp Pô Rôme được xây dựng vào thế kỷ
XVII để thờ vị vua Pô Rôme. Tháp Pô Rôme là một tổng thể
kiến trúc gồm có 3 ngôi tháp: Tháp chính, Tháp cổng và Tháp
lửa. Nhưng hiện tại chỉ còn lại một ngôi Tháp chính cao 19m
bên trong có thờ một tượng vua Pô Rôme bằng đá dưới hình
thể Mukhalinga và một tượng thờ hoàng hậu Bia Than Chan bằng
đá - người Eđê. Phía sau Tháp chính còn có một ngôi miếu
nhỏ thờ tượng Hoàng hậu Bia Than Cih bằng đá - người Chăm.
Còn hai ngôi tháp: Tháp cổng và Tháp lửa đã sụp đỗ. Tháp Pô
Rôme không cao to bề thế như Tháp Pô Klong Garai nhưng Tháp có
một phong cách nghệ thuật riêng biệt - Phong cách Pô Rôme. Tháp
Pô Rôme được xem là ngôi Tháp cuối cùng trong lịch sử nghệ
thuật kiến trúc, điêu khắc đền tháp của người Chăm ở
Việt Nam. Tháp Pô Rôme còn gắn liền với vị vua Pô Rôme có
nhiều huyền thoại, truyền thuyết trong mối tình sử bi đát
giữa vua Pô Rôme với công chúa người Eđê - Bia Than Chan và công
chúa Ngọc Khoa nước Đại Việt. Tháp Pô Rôme được Bộ Văn
hoá xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1992. Lễ
hội Katê làng Chăm Mỹ Nghiệp (ngày thứ ba)
Lễ
hội bắt đầu diễn ra từ lúc 9h00 đến 12h00
ngày 28/9/2000 tại làng Mỹ Nghiệp. Làng
Mỹ nghiệp thuộc thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước,
tỉnh Ninh Thuận, cách thị xã Phan Rang 12km về phía Đông nam. Làng
Mỹ nghiệp có tên Chăm là Caklaing, theo truyền thuyết đây là
nơi sinh ra vị vua Chăm Pô Klong Garai. Làng còn có một nghề
dệt thủ công truyền thống nổi tiếng có lịch sử phát
triển lâu đời. Đây là nghề “ mẹ truyền con nối”, hiện
nay có hơn 95% gia đình làm nghề đệt. Mặc dù là nghề thủ công,
dệt vải bằng tay nhưng người thợ dệt đã đạt đến trình
độ điêu luyện, tinh xảo. Sản phẩm dệt được du khách
trong và ngoài nước ưa chuộng.
Trong
ngày Hội Katê, làng Chăm Mỹ Nghiệp tổ chức Lễ dâng cúng
thần làng, tổ sư nghề dệt và tổ tiên. Trong ngày hội họ còn
tổ chức nhiều trò chơi như thi dệt vải, đội nước, đá bóng,
văn nghệ… Đây thực sự là hội làng hấp dẫn trong ngày
hội Katê ở các làng Chăm Ninh Thuận. Hành
trình về lễ hội katê
Người Chăm là một dân tộc thiểu số ở Việt Nam có số dân khoảng 100 ngàn người, sinh sống trên nhiều địa phương như Ninh Thuận, Bình Thuận, An Giang, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh… Trong đó, Ninh Thuận là nơi người Chăm sống lâu đời và đông nhất, chiếm 50% người Chăm ở Việt Nam. Hiện nay họ vẫn còn bảo lưu nhiều phong tục tập quán, nghi lễ hội hè liên quan đến đền tháp. Trong đó có Lễ hội KaTê là lễ hội đặc sắc nhất trong kho tàng văn hóa người Chăm. Nội dung và ý
nghĩa của lễ hội KaTê
Lễ hội KaTê
được tổ chức mỗi năm một lần vào tháng 7 lịch Chăm. Đây
là lễ hội của người Chăm nhằm tưởng nhớ các vị Nam
thần như Pô Klong Garai, Pô Rôme… Và tưởng nhớ ông bà tổ
tiên, trời đất đã phù hộ độ trì cho con người. Chính vì
vậy, lễ hội Katê là biểu hiện một nữa cấu trúc lưỡng
hợp thuộc về dương đối
lập với yếu tố âm - Lễ Chabur - Lễ cúng các vị Nữ thần
vào tháng 9 lịch Chăm. Sự đối lập, liên kết giữa Nam thần
- Nữ thần, giữa Trời - Đất, Mẹ - Cha, Đực - Cái, Vùng cao
- Vùng thấp… là nét đặc trưng phổ quát trong nền văn hóa
Chăm được thể hiện sâu sắc trên nhiều bình diện như nghi
lễ hội hè, ăn mặc màu sắc cho đến loại hình biểu diễn
nghệ thuật khác. Tất cả những yếu tố trên toát lên nội
dung, hàm chứa một ý nghĩa phồn thực với sự liên kết lứa
đôi, cầu mong cho sự sinh sôi nảy nở của con người, vật nuôi,
cây trồng… Bản thân lễ hội KaTê chứa đựng cốt lõi nội
dung và ý nghĩa ấy.
KaTê là lễ
hội lớn của cộng đồng người Chăm. Lễ hội diễn ra trên
một không gian rộng lớn, lần lược từ đền tháp (Bi môn,
Kalan) - làng (Paley) - đến gia đình (Nga wôm), tạo thành một dòng
chảy của lễ hội Chăm phong phú, đa dạng. Trình tự diễn ra
lễ hội KaTê người Chăm như sau:
Lễ hội KaTê
của người Chăm Ninh Thuận diễn ra ở 3 đền tháp: Đền Pô Nưgar
(Hữu Đức), Tháp Pô Rôme (Hậu sanh) và Tháp PôKlong Garai
(Đô vinh, Tháp Chàm). Lễ diễn ra ở cả 3 nơi cùng ngày
cùng giờ. Các nghi lễ cơ bản như nhau, nghi thức hành lễ. Tuy lễ hội
diễn ra ở 3 nơi nhưng thu hút được nhiều tín đồ nhất,tổ
chức qui mô nhất vẫn là lễ hội KaTê ở tháp Pô Klong Garai. Tiến trình lễ
hội theo các bước như sau: Lễ hội KaTê tại đền tháp được điều hành bởi Ban tế
lễ chức sắc đạo Bàlamôn bao gồm: - Thầy cả sư (Pô Dhia) trụ trì đền
tháp làm chủ lễ - Thầy kéo đàn Kanhi (Ôn Kadhar) hát
thánh ca -
Bà Bóng (Muk Payâu) dâng lễ vật lên các vị thần. -
Ông Từ ( Camưnay) chủ trì lễ tắm tượng. -
Và cùng một số tu sĩ Balamôn (
Paseh) phụ lễ. Lễ
vật dâng cúng Katê tại đền tháp bao gồm: - 01 con dê - 03 con gà làm
lễ tẩy uế đất tháp - 05 mâm cơm
với muối vừng ( lithey thap) - 03 cổ bánh
gạo và hao quả. Ngoài ra còn có
rượu, trứng, trầu cau, xôi chè… Sau khi lễ vật đã chuẩn bị xong, ban tế lễ đã sẵn sàng thì lễ hội bắt đầu tiến hành theo các bước sau: Lễ rước y phục ( Rokaw khan pô yang) Tất
cả các y phục của vua chúa thờ ở đền tháp Chăm đều do người
Raglai cất giữ. Do vậy khi đến ngày lễ Katê thì người Chăm
phải làm lễ đón rước người Raglai chuyển y phục về lại
các đền tháp Chăm. Đây là nghi lễ mở đầu cho ngày hội
diễn ra rất trọng thể. Lễ rước y phục diễn ra ở 3 đền
tháp: Đền Pô Nưgar ( Hữu Đức), Tháp Pô rôme ( Hậu sanh) và
tháp Pô Klong Garai ( Đô Vinh, Tháp Chàm). Trong đó lễ đón rước
y phục Pô Nưgar diễn ra vào buổi chiều ngày 26/9/2000, trước
ngày hội chính thức ở đền tháp một ngày. Còn lễ đón rước
y phục ở tháp Pôrôme và tháp Pô Klong Garai thì diễn ra vào
buổi sáng 27/9/2000.
Mặc dầu 03 đền tháp tổ chức nghi lễ đón
rước y phục trong thời gian khác nhau nhưng nghi thức hành
lễ cơ bản đều giống nhau. ở đây chỉ mô tả lại lễ đón
rước y phục của vua Pô Klong Garai từ đền thờ vua Pô Klong
Garai tại thôn Phước Đồng ( Phước Hậu - Ninh Phước) đến
tháp Pô Klong Garai trong ngày lễ Katê năm 1998).
Trong
ngày lễ rước y phục Pô Klong Garai vào buổi sáng tại Đền
thờ Pô Klong Garai ở Phước Đồng, đoàn người Raglai đã
tập trung đầy đủ, ông Camưnay ( ông từ giữ đền) dâng cúng
lễ vật rượu, trứng xin phép Thần cho rước y phục về Tháp
Pô Klong Garai cúng lễ. Khi lễ đón rước kết thúc thì y phục
vua Pô Klong Garai được đưa lên kiệu chuyển về tháp Pô Klong
Garai. Trật tự đoàn rước lễ được sắp xếp như sau: Dẫn
đầu đoàn là 05 người Raglai; tiếp theo là cả sư ( Pô Dhia)
chủ trì Đền tháp Pô Klong Garai; Thầy kéo đàn Ka Nhi; Bà Bóng;
Đội vũ nhạc; ở chính giữa là kiệu khiêng y phục vua Pô
Klong Garai; hai bên là những người cầm cờ và cuối cùng là
đoàn người phụ lễ đi theo.
Đoàn
rước đi trên con đường dài 4km, từ thôn Phước Đồng đến
Tháp Pô Klong Garai. Khi đoàn rước kiệu về đến Tháp Pô Klong
Garai thì đội múa lễ của đoàn múa mừng trước tháp. Đây cũng
là điệu múa mừng khi kết thúc một công đoạn trong nghi
thức hành lễ người Chăm. Lễ
mở cửa tháp ( Pơh băng yang)
Sau
khi Lễ rước y phục kết thúc thì các tu sĩ xin phép thần Siva
làm lễ mở cửa tháp. Lễ này được diễn ra trước cửa tháp,
được sự điều hành bởi cả sư ( Pô Dhia) và Ông Từ giữ
tháp ( Ccamưney). Lễ vật cúng xin mở cửa tháp gồm có: rượu,
trứng, trầu cau, nước tắm thần có pha trầm hương và các
vị hương vị khác. Trong không khí trang nghiêm thầy cúng tế hát
cầu lễ thần linh như sau:
( Các đoạn
thơ được trích và dịch theo kinh hành lễ Katê Chăm)
Sau
khi đọc xong lời cầu nguyện Ông Camưnay cầm lọ nước tắm
thần tạt lên tượng phù điêu thần Siva trên vòm cửa chính
của tháp. Tiếp đó, Thầy kéo đàn Kanhi và Bà Bóng tiến đến
trước cửa tháp chính ngồi bên tượng bò thần Nadin để hát
lễ xin mở cửa tháp. Lời hát lễ có đoạn sau:
Khi
đoạn hát lễ kết thúc, thì Đoàn lễ tiến vào tháp, Bà Bóng
và Ông Từ bắt đầu mở cửa tháp trong khói hương trầm tỏa
ra nghi ngút. Lễ mở cửa tháp kết thúc: Lễ
tắm tượng thần ( Mưney yang)
Lễ tắm tượng thần được diễn ra bên trong tháp. Lễ
này gồm có thầy cả sư, thầy kéo đàn Kanhi, Bà Bóng, Ông
Từ và một số tín đồ nhiệt thành thực hiện. Khi mọi người
đã ngồi vào bàn lễ, xung quanh bệ thờ thần thì Bà Bóng rót
rượu dâng lễ, Thầy kéo đàn Kanhi bắt đầu hát lễ theo. Bài
hát lễ tắm thần có đoạn:
Trong
tháp thầy kéo đàn Kanhi đang hát thì Ông Từ cầm lọ nước
tắm lên pho tượng đá, mọi người bắt tay cùng nhau tắm
thần. Lúc này những tín đồ nhiệt thành lấy nước từ trên
thân tượngbôi lên đầu, lên thân thể mình để cầu sức
khỏe, tài lộc, may mắn. Lễ mặc y phục cho tượng thần ( Angui khan aw Pô yang)
Sau khi lễ tắm thần kết thúc thì đến nghi lễ mặc áo
cho thần. Lễ thức được tiến hành theo lời hát thánh ca
của Thầy Kanhi. Lời thầy hát lễ đến đâu thì y phục thần
được mặc vào đến đó. Đầu tiên là lễ mặc váy. Lời
thầy hát lễ như sau:
Khi
thầy kéo đàn Kanhi hát thì Ông Từ, Bà Bóng mặc váy, áo cho tượng
thần. Cứ như vậy cho đến kết thúc bài hát. Đại Lễ ( mưliêng yang)
Sau khi lễ mặc y phục hoàn tất, lúc này tượng thần đã
mang trên mình bộ long bào lộng lẫy, thì cũng là lúc vật dâng
cúng được bày ra trước bệ thờ. Đại lễ bắt đầu, lúc này
cả sư Bàlamôn làm chủ điều khiển nghi lễ, Bà Bóng dâng
lễ vật, Thầy kéo đàn Kanhi hát mời các vị thần về dự
lễ. Các vị thần được mời là các vị thần có công với dân
với nước được dân làng ngưỡng mộ suy tôn như thần Pô Nưgar
( Thần mẹ xứ sở), Thần Pô Klong Garai ( Vua Chăm trị vì năm
1151- 1205), Pôrôme ( 1627- 1651), Pô Par (Tướng quan văn)… Mỗi
vị thần được mời về dự thì Bà Bóng dâng lễ vật, Thầy
kéo đàn Kanhi hát bài thánh ca, bà con dự lễ chấp tay cầu
thần phù hộ độ trì cho nên công của. Lời hát lễ của
Thầy kéo đàn Kanhi có đoạn như sau: Hát về Nữ thần Pô
Nưgar:
Hát
về thần Pô Klong Garai:
Hát
mời thần Pô Rômê:
Hát
về thần Pô Par:
Cứ
như thế thầy kéo đàn Kanhi hát mời trên 30 vị thần về
dự, mỗi vị thần là một bài hát lễ. Thầy cả sư thì làm
phép đọc kinh cầu nguyện xin thần về hưởng lễ vật mà phù
hộ độ trì dân làng. Kết thúc phần Đại lễ bằng vũ điệu
múa thiêng của Bà Bóng. Hội
Trong
lúc Bà Bóng đang xuất thần điệu múa thiêng trong tháp để
kết thúc đại lễ thì bên ngoài bắt đầu mở Hội. Những điệu
trống Ghinăng, kèn Saranai cùng vang lên, đánh nhịp say sưa với
những điệu múa và dòng dân ca Chăm làm hấp dẫn và say mê lòng
người. Không khí Hội cứ thế mà náo nhiệt, rộn ràng cho đến
lúc mặt trời ngã về chiều thì lễ hội Katê trên các tháp
Chăm kết thúc.
Sau
khi lễ Katê ở tháp kết thúc, thì không khí Hội lại bùng lên
ở làng Chăm. Trước ngày lễ dân làng phân công nhau quét dọn
đền thờ, nhà làng, chuẩn bị sân khấu, sân bãi… Làng xóm
như thay da đổi thịt.
Cùng
với việc trên, một bộ phận khác chuẩn bị lễ vật cúng
thần. Các cô thợ dệt làng Mỹ Nghiệp xem xét kỹ lưỡng
khung dệt, tơ sợi, một số khác chuẩn bị Chum ( Buk) để dự
thi đội nước do dân làng tổ chức.
Buổi
sáng ngày lễ, mọi người làm lễ cúng Katê ở Nhà Làng để
cầu mong Thần phù hộ cho dân làng làm ăn phát đạt. Tương
tự như người Việt, mỗi làng Chăm đều thờ một vị thần
riêng. Làng Mỹ Nghiệp thờ thần Pô Riyak, Làng Hữu Đức thờ
Pô Klong Halâu… Trong lễ cúng tế thần làng, chủ tế lễ không
phải là chức sắc tôn giáo mà thường là chủ làng ( Pô
Paley) hoặc già làng có uy tín và tinh thông phong tục tập quán.
Ông thay mặt dân làng cúng lễ vật cho thần và cầu mong thần
phù hộ độ trì dân làng.
Nếu
như Katê ở Đền tháp nặng về phần lễ, thì Katê ở Làng
phần lễ rất đơn giản, còn phần Hội đóng vai trò quan
trọng. Làng Mỹ nghiệp phần Hội diễn ra các trò chơi như thi
dệt, đội nước, đá bóng, văn nghệ…
Cuộc
thi diễn ra trên một sân bãi rộng, các khung cửi đã được
xếp thành hàng. Các cô gái dự thi đã chuẩn bị sẵn tơ
sợi, trong hơn một giờ đồng hồ nếu cô nào dệt được
một tấm vải dài nhất, đẹp nhất thì sẽ thắng cuộc.
Những chiếc thoi đưa hối hả, những sợi chỉ giăng mắc đủ
màu tạo nên một nền vải Chăm muôn màu, muôn sắc. ở một
địa điểm khác, cuộc thi đội nước diễn ra sôi động. Các
cô gái Chăm duyên dáng khéo léo đội chum nước thi nhau về đích
với một nét văn hóa độc đáo.
Cuộc
thi kết thúc, Hội làng tan dần. Mọi người hân hoan trở về
mái ấm gia đình để cúng tế gia tiên.
Khi
lễ Katê ở làng kết thúc thì lễ Katê gia đình mới được
tổ chức. Trong thời gian này gia đình nào có điều kiện thì
mới tổ chức, nếu gặp lúc kinh tế khó khăn thì có thể
mỗi dòng họ cử một gia đình để tổ chức, chứ không
nhất thiết gia đình nào cũng cúng lễ Katê.
Chủ
lễ cúng Katê là người trong gia đình hoặc là người lớn
tuổi trong tộc họ. Vào ngày lễ này mọi thành viên trong gia
đình đều có mặt đông đủ cầu mong tổ tiên thần linh phù
hộ cho con cháu làm ăn phát đạt, tránh rủi ro, gặp nhiều điều
may mắn trong cuộc sống. Đây cũng là dịp ông bà, cha mẹ giáo
dục cho các thế hệ con cháu nhớ ơn, kính trọng tổ tiên.
Trong
dịp lễ này, mỗi gia đình cũng chuẩn bị bánh trái mời họ
hàng, bạn bè đến thăm viếng, chúc tụng nhau. Làng Chăm chìm
trong niềm vui, thân thiện, tình đoàn kết xóm giềng. Họ
thực sự quên đi những vất vả, lo âu của đời thường để
tận hưởng những giây phút thăng hoa ngắn ngủi trong cuộc
sống còn nhiều khó khăn, bề bộn…
Lễ
hội Katê Chăm diễn xướng dân gian đặc sắc nhất trong kho tàng
văn hóa Chăm. Lễ hội diễn ra trong một không gian rộng lớn,
từ Đền tháp ( Bimôn, Kalan) - Làng ( Paley) đến gia đình ( Ngawôm),
Lễ hội thực sự cuốn hút tất cả mọi thành viên trong
cộng đồng - ở tất cả các cấp độ, khiến cho không một
người nào bị bỏ quên mà liên kết họ lại trong một môi trường
văn hóa, tín ngưỡng đặc sắc. Lễ hội Katê chính là dịp
cho người Chăm phô bày sắc thái văn hóa của dân tộc mình.
Chính vì vậy lễ hội Katê không chỉ đem đến cho người dự
hội những vẻ đẹp của Tháp Chăm cổ kính, những sản phẩm
của nghề trồng lúa và đi biển thông qua lễ vật dâng cúng mà
nó còn trình diễn trước công chúng một nền ca- múa - nhạc dân
gian giàu bản sắc riêng.
Bên
cạnh thông tin dễ đọc, có thể nói những bài hát thánh ca
của thầy kéo đàn Kanhi chính là linh hồn, là nội dung của
lễ hội Katê. Nội dung của bài thánh ca ấy không phải là
lời cầu xin thần thánh mà nó chính là nội dung mang tính nhân
văn bộc lộ quan niệm về vũ trụ, tình yêu con người và thiên
nhiên, lao động - trị thủy - chống hạn, và lòng ngưỡng mộ
các vị anh hùng văn hóa, anh hùng lịch sử của người Chăm.
Qua lễ hội Katê còn có thể thấy được tư duy của người
Chăm - một tư duy nông nghiệp luôn mang theo ý niệm phồn thực
( âm - dương, đực- cái…) cầu mong cho sự sinh sôi nảy nở
của con người, vật nuôi, cây trồng, cho mùa màng tốt tươi.
Tất cả đều mang ước vọng của một cuộc sống thanh bình,
êm ả - một đất nước thịnh vượng của người Chăm thời
viễn cổ. Nền văn hóa Chăm- cái đã nuôi dưỡng lễ hội Katê là nền văn hóa chịu ảnh hưởng văn hóa ấn Độ. Song Katê lại biểu hiện một lối đi riêng. Những người chủ của lễ hội này, của nền văn hóa này mặc dù có tiếp thu tục thờ thần Siva của ấn Độ nhưng họ vẫn sùng kính, tôn thờ những vị anh hùng dân tộc, biểu hiện của sự tiếp thu văn hóa bên ngoài để biến thành tài sản độc đáo của riêng mình. Đấy chính là cái để nền văn hóa Chăm mãi trường tồn trước thử thách lịch sử, một ứng xử Lễ hội Katê biểu hiện một sức sống mãnh liệt của nền văn hóa bản địa, cộng với sự hội nhập văn hóa Đông Nam á đã làm cho nội dung, diện mạo của lễ hội Katê Chăm phong phú, đa dạng. Ngày nay, nền văn hóa ấy mãi mãi trường tồn đang góp phần làm phong phú thêm vườn hao trăm sắc của đại gia đình các dân tộc Việt nam.
Tác giả: Văn Món - Sakaya |
||||||||
|
||||||||