1. Quan điểm:
Quan niệm chính của người Chăm trong ăn uống là giúp cơ thể phát triển
và thể hiện tính hiếu khách, nói nôm na “ăn để mà sống” chứ không phải
“sống để mà ăn” điều ấy được thể hiện trong các câu tục ngữ:
Bâng takik plêh lawik bâng wơk
Bâng ralô jamưô bân jhak
Tạm dịch:
Ăn ít để sau ăn nữa
Ăn nhiều ói mửa dơ dáy nhuốc nhơ. |

|
Hoặc một khi công việc làm chẳng ra ǵ ngược lại ăn uống say mê th́ ắt
sẽ bị người đời đàm tiếu cười chê:
Bâng yâu athâw liah
Cauh âgh yâu takuh kiêr
Tạm dịch: Ăn như chó liếm
Dọn bờ như chuột gặm.
Tuy vậy, trong những lúc tiệc tùng, đ́nh đám, người Chăm không để cho
thực khách mang bụng đói về nhà mà ngược lại:
Bâng jauh cangua hua ginraung (ăn thoải mái no say) hoặc được miêu tả
bằng cụm từ “Bâng êgalê pauh tăl takê” (ăn no gơ sừng) để chỉ sự thết
đăi của gia chủ quá đỗi rộng lượng hiếu khách.
Người Chăm xem sản vật tự nhiên có trong địa bàn cư trú của họ là món
quà của Thượng đế ban cho họ có ư thức khai thác và sử dụng rất hợp lư
Paik djâm di glau bâng ka
Djâm di paga piêh bâng lawik
Tạm dịch: Rau ngoài rừng hái ăn đă nào
Rau trên rào để chờ khi thiếu
V́ thế mà mỗi lúc nông nhàn, hay chuẩn bị vào mùa vụ đặc biệt vào mùa
khô cũng là thời gian đang chờ lúa ngoài đồng chín rộ, tháng 11, 12,
giêng Chăm lịch, trai tráng trong làng hay tổ chức những cuộc săn bắt,
c̣n thôn nữ từng tốp đi vào rừng hái nấm, hái rau. Và đây cũng là thời
điểm sắp sửa đi vào hội làng hàng năm như Rija Nưgăr chẳng hạn.
Đă từ lâu, người Chăm đă có ư thức ăn chín sôi và tổ chức bếp núc ngăn
nắp, gọn gàng. Công việc ấy trao cho bàn tay người phụ nữ. Họ ngoài
thiên chức làm vợ, làm mẹ, chăm lo cho cuộc sống gia đ́nh mà c̣n làm
quản lư tài chính và bảo vệ danh giá của gia đ́nh và ḍng tộc. Bà Tổ mẫu
(Muksruh Palèi) là tấm gương cho giới phụ nữ học tập nơi người: công,
dung, ngôn, hạnh. Về công việc bếp núc người dạy:
Glah crông salaw caga
Cang tathăk djâm ka blauh lai mưthin
Ikan raw juai brèi hangir
Mơy pagâp mưthin juai brei băk taba.
Tạm dịch: Tră bắt lên mâm sẵn mà
Chờ cho rau chín mới đà nêm canh
Rửa cá chớ để hôi tanh
Mặn hay lạt chẳng ngon lành đâu em.
Ở hạng người lớn tuổi, đặc biệt là các vị chức sắc tôn giáo không bao
giờ họ ăn uống trong bóng đêm, nói khác đi là không có ánh sáng (nến hay
ánh sáng mặt trời), bởi họ cho rằng bóng đêm đồng lơa với ma quỷ
(abilêh). Đang khi ăn vào buổi tối không may điện tắt, bữa ăn của họ sẽ
dừng lại ở đó dù chỉ mới cầm đũa. V́ thế, mỗi bữa ăn họ chuẩn bị khá chu
tất đèn sáng.
Bữa ăn hàng ngày, người Chăm rất ngại khi ăn làm rơi văi những hạt cơm.
Theo họ mỗi hạt cơm đó là thân xác và linh hồn của Pô Yang Sri (Thần lúa
gạo), mặc dù trong cuộc cúng nào đều có cụm từ cố định mang ư nghĩa cầu
xin thần thánh ban phước lành: “bâng lihèi hauk Kamang Jruh” (Ăn cơm răi
hạt nổ rơi của Ngài). Họ quan niệm thật chín chắn, bởi không những thể
hiện ư thức tâm linh mà c̣n biết quư trọng mồ hôi nước mắt người nông
dân, một nắng hai sương, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời để có bát
cơm, trong môi trường sinh thái khắt nghiệt của vùng đất thiếu mưa thừa
nắng.
Đồng thời trong bữa ăn, nếu không có việc cần nói với nhau th́ ít khi
người Chăm nói chuyện văng. Họ cho rằng nói trong lúc ăn, nếu không hay
xảy ra chuyện to tiếng sẽ làm phật ḷng Pô Yang Sri và gia quyến của họ
sẽ gặp nhiều điều không may mắn, mùa màng sẽ không được như ư muốn.
Những lễ vật trong các cuộc cúng tế, đặc biệt là lễ vật dùng trong đám
tang, không bao giờ được làm ăn trong như ngày b́nh thường. Bởi lẽ nếu
có xóm giềng nghĩ rằng nhà có tang gia, sẽ là điều không hay. Các lễ vật
dâng cúng trong Thánh đường của người Chăm Bàni như kadaur mưriah (bánh
đúc ngọt) hoặc kadaur patih (bánh đúc trắng) cũng không được chế biến
dùng trong ngày thường.
Hàng ngày, người Chăm dọn ăn trên những chiếc mâm đáy bằng - tiếp giáp
với mặt chiếu, không bao giờ dọn bằng mâm chân cao (salaw takai) dù là
những vị chức sắc cũng vậy. V́ mâm chân cao dành đặc biệt cho các cuộc
dâng cúng, có sự xuất hiện của Thánh hoặc Thần.
Trong các cuộc dâng cúng, người Chăm bắt gặp một số tộc người Tây nguyên
hoặc nước ngoài như Mălai hoặc Indônesia là sự hiện diện lá chuối để lót
trên mâm dọn lễ vật. Ở họ thể hiện sự tôn kính các vị thần thánh được
mời về hưởng lễ vật.
Ngoài ra, trong việc ăn uống của người Chăm c̣n biểu hiện t́nh yêu chung
thủy sắc son bằng h́nh ảnh là người cùng ăn chung mâm cơm trong lễ cưới
sau khi hai vị Imưm và Katip tuyên hôn.
Tóm lại, đă từ lâu người Chăm đă có ư thức về ăn uống, từ đạm bạc đến
thịnh soạn, từ việc ăn để đáp ứng nhu cầu phát triển b́nh thường của cơ
thể đến việc ăn uống giàu chất dinh dưỡng.
2. Những đặc trưng cơ bản:
Người Chăm Ninh Thuận theo hai tôn giáo chính: Bàlamôn và Hồi giáo Bàni,
ngoài ra có một bộ phận nhỏ theo đạo Hồi giáo Islam, bộ phận này được
tách ra từ Hồi giáo Bàni, du nhập vào tỉnh ta từ những năm 60 của thế kỷ
XX. Hai giáo phái chính trên kiêng thịt như người dân nước Ấn Độ. Các vị
chức sắc ăn bốc như người nước Arập, cũng đă được Chăm hóa, có vị dùng
muỗng (sanuai) v́ lúc nào trong bữa ăn của người Chăm đặc biệt trong mâm
lễ vật cúng lúc nào cũng có món canh rau nước xáo thịt (dê, gà, trâu).
Tín đồ các giáo phái theo điều luật của giáo hội phải kiêng cữ không
khác ǵ đội ngũ chức sắc. Khi ăn nam ngồi xếp bằng (Trah canăr), nữ ngồi
duỗi tréo một chân ra phía sau (Jauh cangua). Khi ăn dùng đũa, muỗng để
gắp, múc thức ăn. Với những thức ăn không chan nước canh, người phụ nữ
Chăm hay dùng tay bốc ăn như người nước Arập.
Người Chăm ít khi ăn mỡ, có chăng mới từ những năm 70 trở lại đây, trước
kia họ dùng dầu ăn để tăng hàm lượng chất béo. Họ không thích ăn những
món ăn nhiều cholesterol, người Chăm Bàlamôn nếu không có đám, tiệc… th́
không bao giờ giết mổ heo để dùng trong nhà, hoặc người Chăm Bàni, những
con vật hiến tế (để dâng cúng thần thánh) đều là những con vật mang
trong cơ thể chúng ít mỡ như gà, dê, trâu. Ngược lại, họ ăn được nhiều
loại lá, rau trồng có sẵn trong tự nhiên. Những loại đọt non trong tự
nhiên có rất nhiều xung quanh địa bàn cư trú như canung, girắk, Kadaiy…
hoặc những loại đậu trồng trong vườn hay trên rẫy như rabai (đậu ván),
ratak auh takuh (đậu xanh)… Nhiều nhất là các loại rau, củ, nấm… mọc sau
vài trận mưa như chùm bát (djâm bat), rau đay (djăm nhot), rau bồ ngót
(djăm tatiăk), măng (rabung), nấm mộc nhỉ (bimaw tangi takuh), nấm rơm
(bimaw pông)…
Có lẽ một mặt địa bàn cư trú của họ thực vật phong phú họ khai thác để
phục vụ các bữa ăn, mặt khác khí hậu nơi đây khắc nghiệt, nóng và gió,
có tháng nhiệt độ lên đến 35 đến 36 độ C và hầu như quanh năm mặt trời
tỏa ra nhiệt lượng rất lớn nơi vùng đất này. V́ vậy họ cần lấy lại sự
thăng bằng thân nhiệt, rau là loại thức ăn lư tưởng nhất cho việc giữ
thân được điều ḥa để tránh bệnh tật.
Ngày nay, thế giới của chúng ta đang có xu hướng thừa chất cholesterol
trong máu, sợ mập và bệnh tim mạch v́ vậy việc thích ăn rau của người
Chăm rất phù hợp với xu thế này.
Chế biến món ăn (thịt, cá, canh), người Chăm rất chú trọng gia vị dù đơn
giản như ớt, hành, sả, mắm muối… Gia vị làm cho món ăn đậm đà, hợp khẩu
vị. Ở Ninh Thuận có một làng Chăm ăn cay có tiếng, không nơi nào sánh
bằng kể cả các làng Chăm B́nh Thuận, đó là làng Chăm Bàni Lương Tri
(Palei Cang). Cách đây hơn 30 năm, hầu như nhà nào cũng có vườn trồng
ớt, và dự trữ ớt khô. Ớt là gia vị chính của họ cũng phải lẽ, xung quanh
làng của họ là ruộng sâu, bầu lát, quanh năm nước đọng bùn lầy, nơi sinh
sống lư tưởng của các loại thủy sản nước ngọt như cá, lươn, ếch… và hầu
như họ khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên ấy quanh năm. Nếu không có
ớt, không có gia vị cay th́ các món ăn được chế biến từ thủy sản nước
ngọt sẽ tanh đến nhường nào. Và đây cũng là phương thức cân bằng âm -
dương trong việc ăn uống.
Ở các làng Chăm hiện nay món canh rau tập tàng (nhiều thứ rau nấu chung)
pha bột gạo vẫn c̣n phổ biến và là món ăn khoái khẩu của rất nhiều
người, kể cả nhà giàu có. Ca dao Chăm có câu để chê cười con cái nhà
quyền quư không thận trọng trong ăn uống:
Anưk urang biăk urang biai
Bâng ia habai luai pâch pangin
Tạm dịch: Con cái người quyền quư
Ăn canh rau để cho vỡ chén.
Người Chăm ăn uống không cầu kỳ, hoa mỹ nhưng họ khá sành điệu, họ tuyên
bố:
Pabaiy tuk - Mưnuk âm
(Dê luộc - Gà nướng)
Lời tuyên bố của họ có lư, những con vật hiến sinh bốn chân như: dê,
trâu… là đám lớn, đám có nhiều thực khách, nước xáo của chúng vừa ngon
lại vừa đủ cho nhiều người cùng ăn.Và ngược lại, con gà làm vật hiến tế
thường là lễ chỉ vài người tham dự.
Bữa ăn của tộc người Chăm mang tính cộng đồng ca. Ít khi người Chăm ăn
bữa cơm riêng lẽ kiểu Âu tây mà là ngày nào cũng dọn lên mâm, bày tất cả
thức ăn lên đó. Mọi người dùng chung tô canh, đĩa cá, chém mắm… có khi
ít bưng hết thẩy món ăn mà được chế biến trong bếp để gần đấy, vừa dễ
chêm thức ăn, khỏi phải vào ra bếp nhiều lần, vừa dễ cho các thành viên
cùng biết bữa ăn của gia đ́nh ḿnh.
Hai giáo phái Bàlamôn và Bà ni ở nơi đ́nh đám cách dọn ăn khác nhau,
người Bàlamôn dọn một mâm gồm các thức ăn cho hai hoặc bốn người, ngồi
xếp bằng trên mặt chiếu, c̣n người Bàni chỉ dọn mỗi một mâm cho hai vị
lớn hoặc chức sắc tôn giáo, c̣n lại họ dọn ăn chung cho tất cả mọi
người, ngồi xếp bằng đối diện.
Thành ngữ “tapa salaw”( Vượt mâm), hàm ư “qua mặt” đă mang khái niệm có
tính khái quát cao, có lẽ xuất phát từ h́nh ảnh “xấu ăn” nơi đ́nh đám
của một cá nhân nào đó xa xưa.
Ngày nay, việc dọn ăn của người Chăm có khác đôi chút, người ta không
bưng bê tất cả cùng ra mà chỉ bưng mồi với thức ăn đồ uống. Nếu dọn lên
bàn, có nơi đặt luôn cái mâm lên ấy. Mục đích để tỏ ḷng tôn kính khách
hoặc ông bà, cha mẹ, đồng thời chiếc mâm “salaw” theo quan niệm của
người Chăm xưa là “mặt đất”; các món ăn là “muôn loài”, sinh sôi nẩy nở
trên ấy. Nhưng cũng có nhà họ cho đó là “thừa thải”, lập dị v́ thế họ
dọn trực tiếp không cần phải có mâm. Tuy vậy, hầu hết tộc người Chăm hăy
c̣n giữ cung cách dọn ăn trên mâm salaw lithei.
Để đưa thức ăn vào miệng, người Chăm dùng đũa “duơh”, kể cả việc xẻ
chiết thức ăn chứ không dùng dao, nĩa, xiên như người Âu Tây. Các vị
chức sắc nơi đ́nh đám, ăn trên mâm các châu (salaw takai) với các khẩu
phần và đưa tay bốc cơm và một số thức ăn. Có lẽ cung cách này xuất phát
từ nước Arập hoặc Ấn Độ nơi phát sinh tôn giáo Chăm. Người Chăm sử dụng
nhiều chủng loại đũa và “hạng người” cũng được phân biệt bởi chủng loại
đũa ấy.
Ví dụ:
- Thầy pháp (gru urang) chỉ dùng mỗi loại đũa tre
- Chức sắc cao cấp dùng đũa mun bịt bạc.
- Người có chức quyền hay dùng đũa mun, ngà.
- Thường dân dùng đũa tre hay các loại cây khác.
Trong lúc ăn, người đàn ông Chăm có khi uống vài ly rượu, họ vừa ăn vừa
uống, hoặc uống xong rồi ăn tùy cá tính của mỗi người. Xong bữa cơm, ít
khi người Chăm ăn tráng miệng, nếu có thường là chuối hoặc trái cây
trong vườn nhà.
Những hôm có khách, bữa cơm được chuẩn bị khá tươm tất, dù thức ăn có
chỉ vài món cây nhà lá vườn, và cuối cùng gia chủ khi tiễn khách phải
thốt nên câu nói cảm ơn thay v́ ngược lại. Đây cũng là nhân cách đặc thù
mang sắc thái riêng của người Chăm.
Trong giai đoạn hiện nay, người Chăm hăy c̣n giữ tục lệ cúng tế, trước
cúng sau ăn, phương thức bù đắp sự thiếu hụt chất bổ dưỡng trong những
ngày thường được h́nh thành từ rất lâu đời. Thường lễ vật được dọn lên
mâm cao có lót lá chuối. Người Chăm không mang khái niệm thời gian bằng
những nén hương mà bằng muôn vàn sợi hương trầm bốc lên từ chén lửa,
thần thánh, tổ tiên về “hưởng chút ḷng thành” của gia chủ qua nhiều sợi
hương trầm đó.
Bữa ăn Chăm lúc nào cũng có mắm, mắm cái, nước mắm, tuỳ món ăn mà có
nước mắm phù hợp, đôi khi xuất hiện mỗi món mắm chưng với hương vị rau
rừng. Hiện nay, ở hai làng Chăm Bính Nghĩa và Raglai Xinh thuộc xă
Phương Hải, huyện Ninh Hải có ḍng tộc mang tên Ia mathin (nước mắm). Bà
thị Pluc (Bính Nghĩa) nói rằng (theo lời cụ Ky của họ kể) ḍng tộc của
bà từ ngàn xưa chuyên sản xuất nước mắm để cung tiến cho vua và trao đổi
nông sản.
Những con tôm, con cá trong Đầm Vua, địa bàn cư trú của dân cư Bính
Nghĩa xưa, bắt về ướp làm nước mắm rất ngon. Có lẽ nước trong đầm giàu
chất diêm sinh.
* Những món ăn truyền thống và cách chế biến:
Vốn dĩ người Chăm sống chủ yếu bằng nghề nông, quanh năm nơi ruộng đồng,
nương rẫy, núi rừng. Những sản vật được thiên nhiên ban tặng được họ
khai thác và chế biến thành những món ăn, thức uống phong phú, phù hợp
với khẩu vị của họ.
I. Những món bánh (Tapei ahar mưnưng)
1. Tapei anăng baik (Bánh tét đ̣n)
Bánh tét đ̣n của người Chăm gần gũi vói bánh tét đ̣n người Việt Trung
Nam bộ, và người Raglai. Nguyên liệu chính là gạo nếp (điệp) và đậu
(ralak).
Gạo nếp là sản phẩm nông nghiệp không thể thiếu của người Chăm, hai loại
chính là Điệpkalu, trắng, hột tṛn mùi mướp hương, dẻo và Điệpgilai,
trắng, hạt dài, dẻo và thoảng hương thơm.
Gạo nếp ngâm khoảng nửa giờ đồng hồ, vớt để ráo. Lá chuối (hala pakei),
nếu là lá chuối chát càng tốt, bánh sẽ xanh và thoảng hương dễ chịu. Lá
được phơi ngoài nắng cho dẻo dai để khi gói không bị nứt và rách.
Đậu (ralak) như đậu phộng (ralak lauw), đậu đen (ralak juk)… rửa sạch,
trộn vào gạo nếp.
Khi gói người ta dùng lá chuối hai lớp làm vỏ, để dọc đậu nếp, cuộn
tṛn, cột bằng lạt giang (kanuôr tiang), chắt chừng nào tốt chừng nấy.
Luộc khoảng 5-6 giờ.
Bánh tét đ̣n được dùng rất nhiều trong lễ tế và cuộc sống đời thường:
đám tang, lễ cúng gia tiên, lễ hỏi, cưới…
Ngày nay song song với việc trộng đậu vào nếp, người Chăm c̣n có bánh
tét đ̣n nhân lạt (kati taba) và nhân mặn (kati băk), có lẽ được du nhập
phương cách từ các tộc người cận cư. Bánh nhân lạt thường là đậu, nấu
chín, giă nhuyễn trộn với đường ăn (saradang). Bánh nhân mặn thường dùng
đăi khách trong dịp lễ tết, nhân mặn gồm thịt ướp gia vị đă được nấu
chín hoặc chưa nấu (thịt ḅ).
2. Tapei anung banah (bánh tét cặp)
Nguyên liệu như bánh tét đ̣n để dâng cúng, thường không có nhân (kati).
Bánh được gói ngắn hơn, h́nh bán nguyệt, khi cột lạt họ ghép hai bánh
với nhau đối xứng, tạo thành bánh đ̣n. Luộc trực tiếp trong nước đun
sôi.
Bánh tét cặp được dùng trong các đám tang (padhi) cúng gia tiên (Pabăng
mukkei), giỗ kỵ (patrip). Loại bánh không có sự biến đổi v́ chúng không
được dùng trong những ngày thường.
3. Tapei dalik (Bánh ít)
Bánh ít Chăm như bánh ít của người Việt. Bánh được làm từ gạo nếp ngâm
giă thành bột (tapung). Bột nếp nhồi với nước đường nấu để nguội. Người
ta bốc từng cục bột, dát mỏng, bọc lấy nhân, gói. Làm chín bánh theo
phương thức hấp. Nhân bánh thường được làm bằng đậu nấu chín giă nhuyễn
hoặc dừa. Khi gói người ta thoa một lớp dầu ăn hay cốt dừa trên một mặt
lá phía trong để khi bốc không bị dính.
Bánh ít được dùng khá phổ biến trong đời sống hàng ngày của người Chăm
từ cúng lễ đến đăi khách.
4. Tapei adang (bánh xôi chè)
Bánh xôi chè được làm bằng gạo nếp đồ xôi trộn với đường, đậu (phộng
hoặc đen).
Bánh chín người ta chiết từng cục, hoặc cắt thành miếng vuông, bọc lá
chuối để hở hai đầu. Tapei adang được người Chăm Bàlamôn dâng cúng trong
đám tang.
Người Chăm Bàni làng Văn Lâm, huyện Ninh Phước làm tapei adang có khác
với tapei adang của bà con Bàlamôn gần như bánh tét cặp, nhưng bánh được
làm bằng bột nếp ngào đường như bánh ít, không nhân. Người Văn Lâm hay
luộc từng cặp tapei anung banah với tapei adang và ăn chung hai loại
cùng nhau.
Trong lễ cưới hoặc lễ karơh (lễ nhập đạo), người Chăm Bàni làm bánh xôi
chè gồm nếp đồ xôi ngào đường. Bánh chín đổ ra nia, cán mỏng, dùng tay
đập cho bánh ép chặt vào nhau. Hai mặt bánh phủ một lớp bột đậu phộng
hoặc mè rang. Dùng dao cắt thành từng miếng vuông gọi là (tapei paul).
5. Tapei racăm (Bánh tráng)
Bánh tráng được sử dụng phổ biến trong đời sống cộng đồng của người
Chăm.
Bánh tráng được chế biến bằng bột gạo, ḥa với nước theo tỷ lệ nhất
định, mè đen (langư juk) hoặc mè trắng (langư bông).
Người Chăm có hai loại bánh tráng có kích thước khác nhau. Bánh tráng
bằng đồng tiền kẽm chỉ được dùng (không ăn được) trong lễ cưới của người
Bàni và bánh lớn dùng để ăn thay cơm hoặc ăn với thức ăn khác như gỏi,
rau sống.
Nếu muốn đổ bánh nhỏ (bằng đồng tiền), người ta dùng lửa than, đặt lên
đấy tấm kim loại (thường là mâm đồng), mút bột bằng muỗng nhỏ đổ xuống
mặt mâm. Khi chín cậy đem phơi.
Bánh lớn, đường kính từ 30-35 cm, phải dùng khạp lớn (khang) căng mặt
vải, đun nước bốc hơi, đổ bột bánh, tráng mỏng, đậy nắp. Bánh chín dùng
đũa tre vớt, đặt vào phên tre đem phơi. Người ta dùng lửa than để nướng
nếu thích.
Bánh loại này dùng để ăn hàng ngày và trong cúng tế. Bánh tráng ở các
làng Chăm ít biến đổi, nếu có th́ chỉ thay đổi các loại đậu hoặc bột.
6. Tapei kamang (bánh in)
Là loại bánh ngọt, được người Chăm chế biến để ăn và đăi khách. Bánh
được chế biến từ lúa nếp rang đăi vỏ thành nổ (bỏng), người Chăm gọi là
kamang. Kamang giă mịn thành bột trộn đường ăn. Dùng khuôn bằng gỗ,
thường bằng chén uống trà nhận ép thành viên.
Bánh tapei kamang của người Chăm được dùng nhiều trong đám tang hoặc giỗ
kỵ.
7. Tapei côh (bánh cuốn)
Bánh cuốn được dùng nhiều trong đám táng, giỗ kỵ của rngười Chăm từ rất
lâu đời.
Bánh cuốn được làm từ bột nếp, ray mịn, nhân của nó được làm bằng mè,
đậu phộng rang giă mịn trộn đường ăn.
Để làm bánh cuốn người ta dùng than lửa hồng, đặt lên đấy mâm đồng. Thoa
lên mặt mâm lớp dầu ăn, ray bột theo chiều dọc một lớp mỏng, răi đều hỗn
hợp đậu làm nhân. Bánh chín dùng dao tre mỏng cuốn thành thỏi bánh tṛn.
Bánh cuốn chưa có sự thay đổi lớn, có chăng người ta trộn bột bánh với
phẩm màu vàng hoặc đỏ với mục đích làm cho bánh trông hấp dẫn, sinh động
hơn.
8. Tapei saip (bánh xếp)
Tapei saip được người Chăm Bàni chế biến và dùng vào việc cúng tế rất
lâu đời, đặc biệt là trong đám tang.
Tapei saip được làm từ bột gạo nếp, xay mịn ḥa với nước, trứng gà và
đường ăn, tạo thành hỗn hợp sền sệt có màu mỡ trứng gà. Người ta nướng
bánh bằng một cái mâm đặt trên than lửa hồng. Trước khi đổ bánh, người
ta thoa một lớp dầu ăn hoặc dầu dừa nơi định đổ bột nhằm để khỏi bị dính
vào mặt mâm. Bao giờ bánh bốc mùi thơm, vàng người ta dùng dao tre cậy,
xếp ba và gói lại bằng lá chuối để hở hai đầu.
9. Sakaya
Sakaya là loại bánh rất được ưa chuộng trong cộng đồng Chăm. Những lễ
cúng trọng đại của người Bàni không bao giờ thiếu vắng Sakaya.
Sakaya đă đi vào cuộc sống của người Chăm như biểu trưng của sự kính
trọng, thành khẩn, thành ngữ Chăm có câu:
Tapei anung ala (Bánh tét dưới)
Sakaya angauk (Sakaya trên)
Sakaya được làm từ hỗn hợp trứng (gà, vịt), đậu phộng (giă nát), đường
và gừng.
Để có chiếc bánh sakaya chín, bốc mùi thơm d́u dịu, người ta đem hỗn hợp
đă được đánh (quậy) nhuyễn tạo thành dung dịch sền sệt, đổ vào khuôn
bằng sứ (thường là chén, tô…) chưng cách thủy.
Sakaya được dùng trong lễ tục và thết đăi bạn bè quư mến.
10. Ginraung laya (Bánh củ gừng):
Bánh củ gừng có h́nh dáng như củ gừng dùng làm gia vị. Nó đă được chế
biến và sử dụng từ xưa đến giờ và rất được ưa chuộng, đồng thời thể hiện
sự khéo tay của người phụ nữ Chăm.
Bánh củ gừng được làm từ hỗn hợp bột gạo nếp, đường, trứng gà và men
rượu. Hỗn hợp được nhồi thật nhuyễn, bốc từng cục như làm bánh ít, đặt
lên mâm, dùng đôi bàn tay nặn h́nh củ gừng.
Để được chiếc bánh vừa thơm, vừa ngon, người ta đem “củ gừng”đă được nặn
đem bỏ vào chảo dầu ăn đang sôi sùng sục - dầu ăn được khử bằng nửa chén
tỏi giă nát, 5 phút sau chiếc bánh có màu vàng và thơm.
Bánh ginraung laya ngang hàng với sakaya thường được dùng trong các buổi
lễ trọng đại và chiêu đăi khách quư.
11. Tapei kăng
Người Chăm Bàni làm bánh tapei kăng từ rất lâu. Nó được làm để dâng
trong thánh đường (Thang mưgik) nhân dịp lễ Al’lahâm của người vừa học
xong lớp kinh côran vỡ ḷng.
Tapei kăng chín bằng phương thức nướng hỗn hợp bột pha với ḷng đỏ trứng
gà, đường với tỷ lệ rất nhỏ, trên một chiếc mâm đồng, thoa một lớp dầu
ăn trước khi đổ hỗn hợp. Bánh bốc mùi thơm và chuyển màu nâu th́ đă chín
dùng dao tre gấp đôi, bọc lá chuối.
Tapei kăng đến nay vẫn chưa có sự thay đổi và được xem là lễ vật rất quư
để dâng lên các vị Nabi trong thánh đường mùa chay Ramưwan.
12. Akun (bánh chà cung)
Bánh chà cung được người Chăm chế biến khá lâu đời của hai giáo phái
Bàni và Bàlamôn.
Akun được làm từ bột gạo ướt pha nếp (với tỷ lệ rất nhỏ), nếu là akun
ngọt, người ta thêm đường theo tỷ lệ nhất định. Bột (không mịn) bọc
trong lớp vải mỏng đem hấp trong nồi nước đang sôi (nồi hai tầng có soi
lỗ), đậy nắp, khoảng 4-5 phút bánh chín.
Akun trắng (không đường) ăn với nước đường nấu chín hoặc nước xáo gà,
dê…
Akun được dùng nhiều trong các cuộc dâng cúng Chăm như Kayâp, Kamưrôi,
Rijanưgăr… của người Bàni, trong Palaw kasah, Rijanưgăr… của người Chăm
Bàlamôn.
13. Kadaur (Bánh đúc)
Bánh đúc Chăm có hai loại: bánh đúc chay (kadaur patih) và bánh đúc ngọt
(kadaur mưriah).
Người Chăm chế biến hai loại bánh này để dâng cúng PôÂuluah trong thánh
đường (Bàni) hoặc ở nhà.
Kadaur được làm từ bột gạo, thật mịn pha với nước theo tỷ lệ định sẵn,
nếu bánh đúc ngọt người ta trộn đường ăn vào bột. Bột nước đổ vào cái
khạp (akhang) bằng đất nung hoặc thùng kim loại (nhôm, gang) bắt lên bếp
với phương thức tăng hoặc giảm lửa. Đến khi bột có dấu bọt nổi lên li ti
, người ta dùng que bếp quậy nhuyễn để cho bánh cô đặc từ từ và tránh bị
cháy khét. Đổ vào nia cho nguội, dùng dao rạch cắt từng đường kẻ dọc
ngang. Như vậy người ta đă có bánh đúc Kadaur.
Bánh đúc chay ăn với muối mè hoặc muối đậu phộng.
II. Những món ăn được chế biến từ các loại thịt:
1. Món luộc:
Thịt luộc được chế biến và sử dụng khá phổ biến trong cộng đồng Chăm.
Các lễ đám như đám tang, cúng giỗ, tôn chức… đều có thịt luộc. Người
Chăm tŕnh bày quan điểm và món ăn chế biến từ thịt là “Pabaiy tuk mưnuk
ăm” (Dê luộc - gà nướng), và thường là những con vật nuôi như trâu, ḅ,
dê, gà, vịt… luộc làm món ăn, ngược lại thịt của thú rừng ít khi chế
biến món này.
Thịt được làm sạch sẽ đem luộc và nước luộc thịt - nước xáo được chế
biến làm thành món ăn với thịt trộn rau ghém (thân chuối non sắc mỏng
trộn với lá lốt thái).
Ngày xưa khi giết mổ con vật để dâng cúng (chỉ có dâng cúng mới được
giết mổ trong nhà), ngoài thịt người Chăm hay tận dụng da, sừng để làm
thành vật dụng khác, như da trâu làm dây thừng, bịt mặt trống ginăng, da
dê bịt mặt trống ginăng, trống baranưng (loại trống một mặt), dùng sừng
trâu để làm tù và.
2. Món nướng (Rilaưw ăm)
Thịt nướng được dùng phổ biến trong cộng đồng người Chăm từ cúng tế đến
bữa ăn thường ngày.
Thịt nướng trong các lễ cúng gọi là kadang, ví dụ dê nướng là pabaiy
kadang, gà nướng là mưnuk kadang.
Người Chăm thường nướng thịt thú rừng, ngon nhất là thịt nướng các loại
thú lông vũ như gà, chim… Thịt nướng ăn với đọt rau tự nhiên như tanung
(lim xanh), tạo vị giác hay hay.
Thịt nướng trong cuộc cúng không bao giờ họ tẩm gia vị và ngược lại
trong bữa ăn hàng ngày họ hay bôi tẩm gia vị như hỗn hợp hành, ớt, tỏi,
sả, nước mắm… có khi họ tẩm loại gia vị mọc ngoài rừng gọi là Halamưngei
- lá xào giông. Ngày nay tiếp nhận cách chế biến hiện đại, người Chăm
c̣n bắt chước ướp nước chao, ngũ vị hương…
3. Món kho (Rilauwjơp - rilauw um)
Không biết món thịt kho có từ bao giờ, có lẽ được chế biến từ sau thế kỷ
XIX, bởi trong mâm cúng hiện nay, cúng ở đền tháp hoặc thánh đường, đám
tang của người Bàni không có thịt kho.
Bất cứ thịt thú nào người Chăm cũng có thể kho được, kể cả thịt giông,
và thường kho trong những cái tră, hoặc bằng những cái tră nhỏ hơn gọi
là Klaig - bằng đất nung. Ngày xưa, người Chăm có cụm từ “Jrâu klaig” là
cơm trộn với “cặn” thịt đọng lại ở đáy Klaig (tră), được trẻ con rất ưa
thích.
Hai loại gia vị thảo dược thường được sử dụng cho món thịt kho là sả
(plăng) và lá xào giông (halamưngei).
Ngày nay, món thịt kho Chăm có sự biến đổi như người ta có thể kho thịt
với rau (quả, trái), và sử dụng nhiều gia vị mới như càri, ngũ vị hương…
4. Món gỏi (Laba)
Món gỏi - nộm (laba) là món ăn truyền thống và nhằm để đánh giá sự khéo
tay của người phụ nữ Chăm.
Người Chăm làm món gỏi với nhiều loại thịt, lắm lúc người ta dùng da thú
vật (thịt rừng, ḅ, dê) để chế biến món gỏi. Mỗi loại thịt ứng với từng
loại rau (thường là rau rừng) hoặc bắp chuối, măng… như thiết phải có
đậu phộng rang giă và lá me non sắc nhỏ. Gia vị thường sử dụng cho món
gỏi là hành, ớt, tỏi, tiêu… có khi tùy sở thích mà người ta dùng cả mắm
nêm để làm gia vị cho món này.
Người Chăm có thành ngữ “Auk laba ajah” (Nhả gỏi giông) để chỉ sự nuối
tiếc phải bị nhả ra món ăn ngon.
Chế biến món gỏi khá công phu và phải khéo tay, nếu không sẽ bị mặn hoặc
chua, cay v́ phải sử dụng nhiều gia vị và cũng phải lựa chọn ra cho thịt
nướng hay luộc.
Món gỏi Chăm ngày nay đă có sự biến đổi, nguyên liệu để chế biến như gỏi
thịt gà dưa leo, ngó sen… Nhưng có lẽ người Chăm Bàlamôn thích hơn cả là
gỏi giông với cách chế biến truyền thống của họ.
Ngoài những món ăn từ thịt kể trên, người Chăm cũng đă biết bảo quản và
tích trữ thịt, bằng cách thịt xẻ ra ướp gia vị thường là muối, sả, đem
phơi ngoài nắng cho thật khô, xếp vào giỏ (apung) treo trong bếp lửa
dùng dần. Nếu vào những ngày mưa, họ cũng làm như trên và treo lên nơi
bếp lửa gần giống với thịt hun khói của tộc người Tây nguyên.
III. Những món ăn được chế từ thủy sản:
Địa bàn cư trú của người Chăm là nông thôn, đồng bằng tiếp giáp biển và
miền rừng núi, phong phú thủy hải sản. Chỉ riêng vùng đầm lầy khu vực xă
Thành Hải ngày nay, từ năm 1960 trở về trước là vựa cá nước ngọt của cả
tỉnh Ninh Thuận.
Những món ăn mang tính truyền thống được chế biến từ cá gồm cá nướng
(ikan ăm), cá kho (ikan jơp - ikan um).
1.Món cá nướng (Ikan ăm)
Món cá nướng thường là cá nước ngọt như cá trê (ikan kăn), cá rô (ikan
kruak), cá chép (ikan cadu)… cá bắt được từ sông suối, hồ, ao… rửa sạch,
có loại không cần đánh vẩy và thường thường cá nướng không cần phải đánh
vẩy, dùng cây xiên, lụi nướng trực tiếp trên lửa. Cá tràu (cá quả) có
khi người ta gói lá chuối, cột chặt bỏ vào lửa rơm, thay v́ nướng trực
tiếp, nướng như vậy cá sẽ rất thơm. Ở một số nơi, người ta bắt chước
người dân Nam bộ nướng cá tràu bằng cách, gói cá bằng lá chuối, đào hố
bỏ cá vào đốt lửa phía trên.
Cá nướng thường được ăn kèm với đọt cây riềng như tanang (dừng), grak
(lim), cốc chua…
Lắm lúc người Chăm cũng ăn cá nước mặn như cá trích, cá nục, cá ṃi… ăn
với khế (hamia), chuối chát, bắp chuối…
Tôm, cua bắt được có khi người ta nướng, nhiều nhà làm gỏi tôm với lá me
non, trộn lẫn với mấy thứ rau ngoài rừng.
2. Cá kho (Ikanjơp - Ikan um)
Trong các lễ cúng có thức ăn mặn lúc nào cũng có cá kho, người Chăm kho
cả cá nước ngọt và cá nước mặn. Nhưng gia vị khác nhau. Nếu là cá nước
mặn như cá thu, cá ngừ thậm chí là cá cơm gia vị ngoài hành ớt muối c̣n
có tiêu. Và nếu như cá nước ngọt như cá trê, cá tràu đến cá ḷng tong,
gia vị phải cay, không thể quên sả hoặc lá xào giông, có nơi c̣n kho với
đọt cay táo nhơn, nghệ… Và dụng cụ nấu được yêu thích nhất vẫn là cái
tră bằng đất nung.
Đă từ lâu, người Chăm đă biết bảo quản và tích trữ cá khi được nhiều
hoặc dùng trong vụ mùa bận rộn, mưa băo. Thường thường người ta lấy hết
ruột, mang nếu là cá nước mặn, chặt đầu, bóc mang và xẻ nếu là cá nước
ngọt. Muối pha loăng, nhúng cá, đem phơi. Cá khô người Chăm gọi là Arik,
có nơi gọi là Ikan thu.
IV. Món canh
Có thể nói món canh là món ăn chủ đạo của người Chăm, trong kho tàng văn
học dân gian “canh” được nói đến khá nhiều so với các món ăn khác. Từ xa
xưa người Chăm đă biết chế biến 3 loại canh: canh rau (ia habai), canh
chua (ia mưthăn) và xáo thịt (ia jan).
1. Món canh rau (Ia habai)
Động từ “habai” của tiếng Chăm tương ứng với động từ “nấu canh” của
tiếng Việt. Danh từ “ia”, nghĩa tiếng Việt là “nước”. Như vậy, “nước”
đóng vai tṛ quan trọng trong việc nấu canh, rau có nhiều thứ: canh rau
lá cá hoặc thịt, canh rau quả cá hoặc thịt, có loại canh được nêm ngoài
gia vị c̣n nấu chung với bột gạo rang hoặc ngâm.
- Canh rau rừng thập cẩm (ia habai djăm glai): Với ư thức khai thác rau
tự nhiên tối đa để phục vụ cho gia đ́nh, canh rau tập tàng - nhiều loại
rau như chùm bao, rau đay, rau bồ ngót, và nhiều loại rau rừng nữa mà
trong tiếng Việt không có tên như djăm Kagauk, djăm kadit, djăm krưm…
được nấu chung.
Cách chế biến khá đơn giản: Nấu nồi nước, nếu nấu với cá nước ngọt th́
làm sạch cá bỏ vào cùng thời, hoặc cá nước mặn th́ chờ nước sôi mới bỏ
cá. Cá chín nước đang sôi sùng sục thái rau rửa sạch cho vào nồi canh.
Rau chín khuấy bột gạo với nước lă đổ vào, chờ 15 phút sau nên gia vị
(hành, muối) thường người ta nêm mắm (mắm nêm) vào nồi canh, cuối cùng
nhấc xuống “tra” bột ngọt, cách đây hơn 30 năm, người Chăm hay dùng lá
cây “hala kayaw” để nêm thay bột ngọt mà nồi canh vẫn ngon.
- Canh rau đắng (ia habai djăm phik): Rau đắng mọc rất nhiều ở rẫy, vườn
hoặc bờ ruộng, nhất là vào tháng 4, 5, 6, 7 Dương lịch. Canh rau đắng
tính mát ăn vào mùa nắng ở Ninh Thuận là hợp lư.
Canh rau đắng ít khi nấu đơn loại mà hay nấu chung với cà dĩa. Cách nấu
có khác với canh rau tập tàng, đem nồi nước với cà dĩa nấu sôi (nếu cá
nước ngọt bỏ vào cùng thời), cá chín, khuấy bột gạo đổ vào chờ chín mới
nêm gia vị, nhấc xuống bỏ rau đắng sau khi đă rửa sạch, cuối cùng bỏ vào
nồi canh chén lá me non sắc nhỏ và bột ngọt. Muốn cho nồi canh ngon và
không đắng lắm th́ người ta không khuấy nồi canh sau khi bỏ rau, đồng
thời rau sẽ có màu xanh tươi hấp dẫn. Ít khi người Chăm nấu canh rau
đắng với thịt, nếu có như thịt trâu, ḅ…
- Canh măng tươi (ia habai labung): Măng tươi có rất nhiều trên rừng núi
ở tỉnh Ninh Thuận, nó được khai thác vào tháng 9,10,11 hàng năm.
Măng tươi sắc mỏng ngâm nước lă hoà một ít muối. Bắt lên bếp từ đầu,
khoảng từ 20-40 phút, khuấy bột gạo đổ vào, chờ bột chín nêm gia vị và
một ít lá me non thái nhỏ.
Nếu nấu với cá nước ngọt hay cá biển th́ cách làm như canh rau tập tàng
hoặc rau đắng. Khi nhấc nồi canh xuống người ta giă lá “bột ngọt” - hala
kayaw bỏ vào nồi canh, nối canh sẽ mất ngon nếu không có loại lá “bột
ngọt” thiên nhiên ban tặng.
- Canh môn (Ia habai djăm labua): Đây là loại canh rất được ưa chuộng
trong cộng đồng người Chăm, đặc biệt là canh môn được chế biến trong đám
tang Bàni.
Rau môn (djăm labua) mọc rất nhiều nơi đồng ruộng, nương nước hoặc đầm
lầy. Rau môn rất ngứa, nếu không chế biến đúng kỹ thuật th́ rất khó ăn
và ngược lại. Nước để nấu canh môn ngon nhất vẫn là nước xáo thịt, nước
luộc thịt trong đám hoặc lễ cúng như trâu, dê…
Rau môn cắt về, tước vỏ ngoài, bẻ làm ba làm tư, rửa nước xào qua khương
(akhang) bằng đất nung (hoặc thùng nhôm), đun lửa vừa phải, nước xáo bắt
đầu sôi bỏ rau vào dùng que bằng cây cổ nắm tay nhấn thọc cho rau mềm
nhũn như bún. Thịt thái từ xương sườn con thú bỏ vào canh, bột gạo rang
giă nhuyễn bỏ vào sau đó.
Khi khương canh đă mềm nhũn, bốc mùi thơm, người ta nêm gia vị (ớt,
hành, muối, mắm nêm) và lá me thái mỏng theo tỷ lệ số lượng rau.
2. Nước xáo (Iajanrâw)
Trong các cuộc đ́nh đám người Chăm không thể nào thiếu món nước xáo
(nước lèo) thịt dê, trâu, gà, đó là những con vật hiến tế. Gọi chung là
Iajanrâw.
- Nước xáo thịt gà gọi là Ia kanăng: được chế biến để ăn gia đ́nh, khi
đăi khách nhưng nhiều nhất vẫn là trong các cuộc cúng thần hoặc thánh.
Con gà được làm sạch sẽ, băm nhỏ, xào qua cho chín rồi đổ nước, gạo hạt
vào nấu. Đă chín, gạo nở đều như cháo hoa, bốc mùi thơm gia vị ướp thịt,
người ta nêm gia vị (ớt, hành, muối, mắm nêm).
Nếu là thịt gà luộc nguyên con để cúng, người ta dùng nước ấy bỏ gạo vào
để nấu nước xáo, gạo chín nêm gia vị.
Người Chăm đă biết nấu canh gà với lá dang (hala dang) rất sớm. Lá dang
xung quanh địa bàn cư trú của người Chăm rất nhiều, v́ thế mà họ đă khai
thác để ăn triệt để.
- Nước xáo thịt dê, trâu gọi là Ia kanut pabaiy, Ia kanut kaba. Nước xáo
thịt dê, trâu được lấy từ nước luộc thịt để chế biến thành món ăn. Nếu ở
canh gà hoặc xáo gà người ta bỏ gạo hạt th́ ở nước xáo dê, trâu người ta
rang gạo, giă thành bột gọi là apriêng để nấu chung. Nước xáo bốc mùi
thơm, người ta nêm gia vị gồm ớt, hành, muối và một ít mắm nêm.
Ngày nay, nước xáo thịt đă được thêm nhiều nguyên liệu như cà chua, hành
tây… để làm cho nước xáo thịt ngon thêm.
Đồng bào Chăm hay dùng nước xáo thịt ăn với bánh aku, một loại bánh bột
gạo hấp, gọi món ấy là Akunla Janrâu.
V. Các loại rau (Djăm): Người Chăm ăn rất nhiều rau: canh rau (ia
habai), rau luộc (djăm tuk), rau muối (djăm jrauk) và rau sống (djăm
băng mưtah).
- Rau luộc (djăm tuk): có thể là rau lá luộc được hái ngoài tự nhiên,
hoặc trồng trong vườn nhà, đó là những loại rau nấu được canh và rau quả
(mướp, cà, bí, bầu…).
Người Chăm luộc rau lá bằng cách đun nước sôi, sắc rau bỏ vào, và nếu là
rau quả th́ sắc bỏ vào nồi đun sôi cùng thời.
- Rau ăn sống (caduk): rau ăn sống rất phong phú, thường là các đọt cây
rừng, và rau trên mặt nước. Rau đọt cây rừng như đọt lim, đọt dừng… vị
chát, đọt cây cốc đắng, đọt đu đủ, thường luộc hoặc ăn sống vị đắng… rau
lá lốt có vị cay. Các loại rau sống trên mặt nước như rau muống (djăm
puôn), rau cần (djăm gălbô)…
Người Chăm thường có kinh nghiệm hái đọt cây khi đi rừng để ăn là loại
cây nào có đọt màu đỏ thẩm cả lá th́ có thể ăn được, nếu mặt trên đỏ
dưới xanh hoặc chỉ đỏ một nửa th́ hăy coi chừng có vị độc.
Rau rừng thường để ăn với thịt, cá rán hoặc nướng. Rau luộc ăn với cá,
thịt kho.
Ngày nay, rau trên thị trường rất phong phú, nhưng người Chăm không bao
giờ quên rau cỏ ngoài rừng hay trên mặt nước, vừa ngon lại không bị các
chất hóa học thẩm thấu trong cây rau.
- Rau muối (Djăm jrauk): Người phụ nữ Chăm rất thạo muối các loại rau để
làm thức ăn, họ có thể muối được rau lá, thân rau và rau quả, củ. Nhưng
ngon nhất và được ưa chuộng nhất vẫn là rau màng màng với cà dĩa.
Rau màng màng sau trận mưa rào mọc rất nhiều, nhổ về cắt bỏ rể, thái cả
thân và lá thành từng khúc ngắn từ 1,5 - 2cm, cà dĩa thái mỏng. Tất cả
trộn lại đem phơi ngoài nắng. Nấu nồi nước muối (vừa phải) để nguội, rửa
rau để ráo nước, bỏ vào muối ngập khỏi rau, ba ngày sau là có thể ăn
được. Nếu muốn ăn nhanh, người ta đổ thêm nước vo gạo vào hủ, một ngày
và một đêm đă ăn được.
VI. Chè - cháo (Bu): Người Chăm sử dụng chè cháo rất phổ biến và lâu
đời, chè cháo ăn hàng ngày và dâng cúng.
- Chè, người Chăm gọi là “bu yamưn” (cháo ngọt), chế biến nguyên liệu
chính là đường, đậu. Có hai loại chè: lỏng và đặc. Người Chăm thích chè
đặc hơn, bằng cách pha loăng vào nồi chè, bột nếp, gạo nếp hoặc bột bán
trên thị trường. Gừng quyết định mùi vị của nồi chè . Có khi người Chăm
dùng hạt quế ngâm đổ vào nước đường nấu chín gọi là bu bauh aik.
- Cháo, người Chăm gọi là “bu”. Có hai loại cháo: bu brah (cháo gạo tẻ,
nếp) và bu hăng (cháo cay). Cháo gạo như cách nấu của các tộc người khác
là đun nước với gạo, gạo chín nở bung hạt đă có thể ăn được. Có khi
người Chăm dùng bắp hạt giă bóc vỏ, mày nấu cháo gọi là butangơi, cách
nấu như “bu brah”. Cháo cay nguyên liệu chín là gạo nếp với thịt có nêm
gia vị (ớt, hành, mắm), lá hành ng̣. Nếu nấu với cá th́ luộc cá, bóc bỏ
xương (nếu có), cháo chín nêm gia vị (hành, ớt, nước mắm, tiêu), hành
ng̣, quế.
Có khi người Chăm cũng dùng thịt các loại nhuyễn như ốc, tôm…để nấu cháo
cay.
- Cháo chua, người Chăm gọi là “bu mưtham” được ưa thích trong mọi tầng
lớp Chăm, đặc biệt là tầng lớp nông dân.
Cháo chua được chế biến khá đơn giản: gạo nấu cơm chín tới (vừa mới nở
hạt cơm), bới để nguội, bỏ vào lu hoặc hủ đổ nước lă vào đem phơi ngoài
sương đêm. Nếu là nồi lần đầu tiên qua hai ngày và hai đêm đă có thể ăn
được, nếu là nồi tiếp theo, người ta lấy nước cháo chua nồi trước làm
men mồi, qua một ngày đêm đă ăn được.
Cháo chua ăn rất bổ, ăn với cháo chua người Chăm thường dùng muối sả
(sara plăng), muối xào giông hoặc khô cá nướng.
VII. Cơm (Lithei) - Xôi (điêp)
Cơm là món ăn chính của người Chăm từ xưa đến nay, là lễ vật không thể
thiếu trong những lần cúng tế. Cách người Chăm đă dùng cơm cùng thời với
nền văn minh lúa nước ở các nước Đông Nam Châu Á.
Trong dâng cúng tùy tính chất của cuộc lễ mà cơm được dọn bằng các vật
dụng khác nhau; cúng trong thánh đường hoặc dâng cúng đức thánh Âu-huah,
cơm được dọn trong một cái dĩa lớn vun tṛn, tượng trưng cho bầu trời úp
trên mặt đất, cúng thần Yang bằng tô vun, hay hộp bằng kim loại. Những
ngày thường, người Chăm ăn cơm bằng chén và dùng đôi đũa để và vào
miệng. Riêng người Chăm Islam ăn cơm bằng dĩa và dùng muỗng để múc.
Người Chăm có vài cách nấu cơm tùy vào khối lượng gạo tương ứng với thực
khách và đặc trưng cuộc cúng.
- Nấu cho gia đ́nh (từ 6-10 người) người ta vo gạo đổ nước đun xôi trực
tiếp lên bếp, nồi cơm sôi chắt nước, cời than đặt lên, thỉnh thoảng
“vần” để cơm chín đều.
- Nấu cơm cho các lễ đám đông người, vo sạch gạo để cho ráo nước. Đun
nồi nước sôi đổ gạo vào. Cơm sôi cời than đặt lên.
- Nấu “cơm béo” (lithei lamưk) để cúng cho Patri (công chúa) bằng cách
dùng nước luộc gà thay nước lă, gạo vo ráo nước đổ vào nồi. Cơm có chất
béo và có màu hơi vàng vàng. Có nơi người ta dùng nước dừa pha cốt để
nấu, thường thấy trong lễ cúng của người Chăm Bàni.
Người Chăm ăn cùng thời cơm với các món ăn, hoặc gắp hoặc chan. Người
Chăm Bàni có bữa ăn vào rạng sáng thứ 31 tháng chay tịnh Ramưwan gọi là
lithei yakai. Cơm được thổi bằng số lượng gạo mang về từ thánh đường vào
sáng thứ 29 mùa chay. Cơm được ăn với muối mè và trứng (gà, vịt) luộc.
Người được ăn phải là người theo đạo Bàni, đă qua các cuộc lễ bắt buộc
như Katak Karơi cho người vị thành niên, Palikhah cho những ai đă có gia
đ́nh. Trước khi ăn phải được tắm rửa sạch sẽ và ngồi ăn theo kiểu xếp
bằng nếu là đàn ông và ngồi duỗi tréo là phụ nữ. Trong khi ăn không được
nói chuyện và ăn hết số cơm đă nấu, gia chủ sẽ gặp nhiều may mắn trong
tương lai.
Ngoài ra trong thuật chữa một số bệnh, người Chăm dùng cơm gạo lức ăn
với muối mè gọi là “brah ba sara larga”.
* Xôi (điêp) không được dùng làm món ăn chính như cơm, thỉnh thoảng mới
nấu, nhiều nhất trong các cuộc dâng cúng.
Người Chăm có hai cách thổi cơm nếp (xôi), bằng cách vo sạch gạo nếp,
đun nước sôi đổi gạo vào, chờ cạn nước, cời than đặt lên, hoặc hấp
(Kahôn) bằng nồi đất nung hai tầng trên soi lỗ lót lá chuối, đổ gạo lên
để nước bốc hơi xôi chín.
Người Chăm hay trộn đậu xanh hoặc đậu đen vào gạo nếp để nấu xôi. Và
thường ăn xôi với muối mè đậu phộng.
VIII. Mắm (mưthin) - Muối (sara)
Đây là hai loại gia vị không thể thiếu trong bữa ăn của người Chăm.
Mắm (mưthin): Hiện nay người Chăm không c̣n chế biến nước mắm nữa mà
hay chế biến mắm cái. Mắm cái được làm từ cá nước ngọt và cá nước mặn.
- Mắm cái cá nước ngọt thường bằng các loại cá kích thước nhỏ như ḷng
tong (rataung), rô (Kruah),… Cá bắt về rửa sạch trộn với muối theo tỷ lệ
để dùng mau hay lâu. Ngoài ra để mắm có vị chua và thơm, người ta hay
trộn vào cá cơm nguội hoặc bắp rang giă thành bột.
- Mắm cá biển cũng vậy thường là cá có kích thước nhỏ như cá cơm, cá
nục… có khi người Chăm c̣n muối mắm cá ṃi, cá thu. Tuỳ thời gian sử
dụng mà trộn muối theo tỷ lệ thích hợp. Ngày nay muối mắm cá nước ngọt
có nơi c̣n trộn thêm đường ăn, để mắm có màu hồng và vị chua ngọt.
Người Chăm chế biến mắm cái để ăn cơm, ăn với rau phải có gia vị, thông
thường là sả, ớt, hành và me chua.
Muối (sara): Muối là nguồn gia vị vô tận ở tỉnh Ninh Thuận, được sử
dụng phổ biến để chế biến món ăn, bảo quản thực phẩm. Từ xưa, người Chăm
sử dụng muối không những để làm gia vị mà c̣n là thành phần không thể
thiếu trong các cuộc xua đuổi tà ma của thầy pháp (gru urang), hay dùng
trong việc làm giảm quá tŕnh tiêu hủy chất dầu thắp sáng như thầu dầu
(tamưngưn), đậu phộng (ritak lauw), dừa (li-u)… dưới dạng muối hột. Và
nghi thức đầu tiên của các vị chức sắc trong các cuộc dâng cúng lễ vật
là cắn hạt muối - Kaik sara.
Muối được chế biến thành thức ăn như muối hầm, muối sả, muối lá xào
giông, muối đầu cá khô.
- Muối hầm là muối được bỏ vào nồi đất nung đắp rơm hoặc củi xung quanh
đốt, sức nóng làm hạt muối nổ bung thành những hạt mịn như cát. Gọi là
sara pađaih. Muối hầm dùng làm gia vị và là thức ăn hàng ngày cho các
phụ sản.
- Muối sả là muối hầm giă với củ cây sả. Gọi là sara plăng. Muối sả dùng
để ăn với cơm nóng, cháo chua, làm gia vị.
- Muối lá xào giông là muối hầm trộn với bột (khô) lá xào giông. Gọi là
sara halamưngei.
- Muối đầu cá khô là muối hầm giă với đầu cá khô nướng hoặc rang. Gọi là
sara akauk ikan thu, muối này dùng để ăn với cơm, cháo chua.
X. Thức uống (kaya mưnhum) - Đồ hút (Pakaw)
Ngoài nước lă (nước sông, suối, giếng khơi, nước lọc…), người Chăm c̣n
uống nước nấu với cây cỏ, nước nấu với đậu và các loại rượu.
- Nước nấu với cây cỏ gồm có nước trà (ia caiy), nước trà tiên (ia caiy
glai), nước lá rằng (ia gauk klangjah), nước cây chùm bầu đực (ia
halamưlar tanauw).
Thức uống nấu với cây cỏ ngoài trà mua ở thị trường c̣n lại được khai
thác nơi địa bàn cư trú. Có loại cây cỏ dùng hết các bộ phận (lá, thân,
rễ) như trà tiên, có loại dùng vỏ như cây bur, có loại dùng thân cây như
cây chùm bầu đực… Nhưng đều băm nhỏ, xao khử thổ xong mới nấu uống.
Các loại nước nấu với cây cỏ trên ngoài làm thức uống c̣n là thuốc chữa
bệnh như đầy hơi, kiết lỵ, thanh nhiệt…
- Nước nấu với đậu thường là hạt đậu săng, hạt đậu săng rang nấu uống,
vừa ngon vừa thanh nhiệt và thơm. Ngoài đậu săng, người Chăm c̣n nấu đậu
ván rang để uống, chủ yếu là mùi thơm của đậu.
- Các loại rượu (Alăg-tapai): Các loại rượu được người Chăm sử dụng rất
phổ biến, các cuộc cúng thần nào đều có rượu, ngoài ra dùng để thết đăi
khách hoặc uống trong các bữa ăn.
Rượu được chế biến bằng phương pháp chưng cất hoặc ủ đều sử dụng trái
men (bauh tapei) ngoài nguyên liệu chính là ngũ cốc (gạo, nếp, bắp,
ḿ…). Ngày nay, người Chăm không chế biến trái men mặc dù việc làm rượu
vẫn c̣n.
Rượu chưng cất gọi là alăg, bà con đi mua mỗi khi dùng, c̣n rượu ủ được
làm tại nhà gọi là “tapai”. Người Chăm chế biến hai loại tapai gọi là
“tapai cuak” (rượu cần) và “tapai athăr” (cơm rượu).
Đồ hút (Pakaw): Người Chăm hút thuốc lá do họ trồng hoặc mua. Thuốc
trồng (pakaw pala) hái phơi khô, cuộc sắc bằng dụng cụ gọi là baltrăk
pakaw. Thuốc được quấn sâu kèn bằng vỏ bắp (loại bắp địa phương vỏ rất
mỏng).
Phép ứng xử trong ăn uống:
|

Các món ăn đă chuẩn bị để cúng tế
|
1. Ăn uống hàng ngày: Hàng ngày, người Chăm trải chiếu hoặc cà tăng theo
chiều Đông - Tây để dọn ăn. Thường thường buổi sáng và buổi chiều ăn
ngoài sân c̣n buổi trưa trong hiên nhà. Thức ăn được dọn trên mâm và
ngồi theo thứ bậc trong gia đ́nh, người phụ nữ (mẹ, chị) thường ngồi gần
nồi niêu vừa ăn vừa núc bổ sung thức ăn cho mọi người.
|
Người Chăm không cầu nguyện trước khi ăn, và bữa ăn bắt đầu khi người
lớn tuổi cầm đũa. Trong lúc ăn không được nói chuyện nhảm hoặc căi cọ,
không để rơi văi hạt cơm và nếu vào buổi chiều phải thắp đèn dù trời hăy
c̣n mờ sáng.
Ngoài ruộng rẫy, nếu không phải là buổi cúng th́ bữa ăn không cần dọn
trên mâm mà bê đặt dụng cụ đựng thức ăn chính giữa, mọi người dùng
chung. Trường hợp không mang theo đũa chén th́ họ vót cây rừng hoặc có
khi dùng lá cây làm muỗng. Và mọi thành viên ngồi quanh không theo thứ
bậc.
2. Ăn uống nơi đ́nh đám: Tùy theo tính chất và đạo giáo Bàlamôn hay Bàni
mà người Chăm có cách dọn ăn khác nhau.
Nếu là đám tang ở cả hai đạo giáo dọn ăn theo chiều Bắc - Nam, c̣n nếu
là các đám khác như đám cưới, hoặc lễ cúng thần thánh, họ dọn ăn theo
chiều Đông - Tây.
Người Chăm Bàlamôn dọn thức ăn trên mâm cho hai hoặc bốn người, c̣n
người Chăm Bàni chỉ dọn mỗi mâm có hai vị cao niên hoặc chức sắc ngồi
trên cùng, những người c̣n lại dọn tiếp diễn đặt trực tiếp chén đăi trên
mặt chiếu. Được ăn khi mâm trên cùng đă cầm đũa.
Các vị chức ắc ở hai đạo giáo khi tham gia cúng kính trong nhà lễ
(Kajang), mọi lễ vật (các món ăn - uống) dọn trên mâm cao chân lót lá
chuối, gọi là salaw takai, mâm của người Chăm Bàlamôn có 5 chân, mâm
người Bàni 6 chân. Các vị chức sắc ngồi theo kiểu duỗi tréo (Jauh maiy),
và trước khi dùng tất cả đều cắn hạt muối và thực hiện nghi thức xin
phép bằng động tác và lời niệm thầm trong miệng.
Người đàn ông Chăm dùng cơm nơi đ́nh đám cũng như ở nhà đều cùng tư thế
(ngồi xếp bằng), c̣n người đàn bà tư thế duỗi chéo như các vị chức sắc
đó là tư thế chuẩn mực và bắt buộc.
Điều đáng lưu ư là bất kỳ đ́nh đám nào, người đàn ông cũng được mới ăn
uống trước mới đến phụ nữ.
Trong lễ cưới hai vợ chồng son được cùng ăn trên một cái mâm với nhiều
thức ăn thể hiện sự chung thủy, gắn bó và giàu có.
3. Một số kiêng kỵ trong ăn uống:
- Đạo Bàlamôn kiêng ăn thịt ḅ.
- Đạo Bàni kiêng ăn thịt heo, thịt giông.
- Thầy pháp không ăn cá trê.
- Ông Mưduôn, muk rija dù là người Bàlamôn hay Bàni đều kiêng ăn thịt
heo, thịt giông.
- Có tộc họ kiêng ăn trái mít, chuối nải nguyên, nếu muốn hoặc phải cúng
hoặc phải làm động tác ném bỏ.
… Những điều kiêng kỵ trên ắt là có lư do của nó. Tuy vậy, đứng về mặt
dinh dưỡng học nhiều kiêng kỵ trong ăn uống sẽ làm cho con người thiếu
chất, con người phát triển chậm và tinh thần không thể minh mẫn được.
Nhận thức “vấn nạn” ấy, ngày nay một số tiểu gia đ́nh trẻ đă có một vài
xu hướng cải cách ăn uống, người Bàlamôn đă ăn được thịt ḅ, và Bàni đă
ăn được thịt heo. Tuy vậy, họ không thể ăn uống công khai trong thôn
làng.
Trong tương lai, chắc chắn những điều kiêng kỵ ấy sẽ bị phá vỡ, thay vào
đấy xu hướng “đủ chất dinh dưỡng” chiếm ưu thế trong cộng đồng người
Chăm, đặc biệt là các tiểu gia đ́nh trẻ.
(Tác giả: Thập Liên Trưởng - Trung tâm Văn hóa Chăm Ninh
Thuận) |