|
|
 |
LỄ HỘI
CHĂM Ở CÁC ĐỀN THÁP |
Lễ tế trâu tộc họ tại tháp Po Klaung Garai:
Từ xa xưa người Chăm c̣n có tục lễ tế trâu, tục gọi là “Kabaw akadang
khun salao” để tế đăi thần linh. Lễ này do một họ tộc thực hiện. Hiện
nay họ c̣n cúng tế trâu 7 năm một lần. Lễ này tương tự như lễ cúng đăi
thần linh Payak. Chỉ khác là cúng trâu nướng nguyên con và phải cúng tại
một rạp lễ gần chân núi tháp Po Klaung Garai. Hành lễ tế trâu ngoài nội
dung múa hát, nó c̣n có nghi thức lễ nướng trâu nguyên con khiêng lên
dâng cúng tại tháp Po Klaung Garai theo nghi thức lễ cúng như lễ mở cửa
tháp, lễ hội Katê… Lễ này cũng do thầy Kadhar và bà bóng thực hiện.
Tóm lại: Lễ tế trâu này cũng nằm trong loại nghi lễ cúng
thần linh của tộc họ như lễ Puis, Payak. Nhưng lễ nghi Puis, Payak là
loại nghi lễ của tộc họ phổ biến hơn. Lễ Puis và Payak là ngày hội của
tộc họ - Ngày lễ hội mừng được mùa, mừng con cháu đầy đàn, no ấm, biểu
hiện sự giàu sang phú quư của tộc họ mà làm lễ tạ ơn và thết đăi thần
linh. Loại h́nh lễ hội của tộc họ này c̣n chứa đựng nhiều dấu ấn về văn
hóa, tín ngưỡng bản địa cổ sơ có trước khi người Chăm tiếp nhận, ảnh
hưởng loại h́nh tôn giáo Bàlamôn và Hồi giáo. Chính lễ nghi này là tiền
đề để h́nh thành nên nghi thức lễ cúng tế ở đền tháp Chăm. Tín ngưỡng ấy
thể hiện ở h́nh thức tế lễ, nội dung tế lễ. Lễ Puis, Payak do thầy cúng
lễ Kadhar và Muk Pajau thực hiện, không có tu sĩ Paseh và Acar tham gia.
Văn hóa, tín ngưỡng bản địa ấy c̣n thể hiện dấu ấn cổ sơ như tục thờ
cúng tổ tiên, tục làm nhà một mái, tục ăn lúa nổ, lúa rang, uống rượu
cần… Đó là biểu hiện lối sống của cư dân tiền nông nghiệp mới thoát thai
từ nghề săn bắn và hái lượm. Đặc biệt ở hệ thống lễ này, có nghệ thuật
múa dân gian Chăm như múa mừng, múa đạp lúa, múa ngậm lửa, múa hát ru
con… Tất cả những điệu múa này chỉ mới dừng lại ở những động tác đơn
giản của múa cổ điển như động tác nhún nhảy cổ tay, bàn chân, đi, đứng,
ngồi… Cùng với múa là nhạc lễ Puis, Payak cũng vậy. Nhạc ở đây chỉ là
nhạc cụ đơn giản như đàn Rabap, chiêng, nhạc gơ bằng gỗ (tăm gek), có cả
tiếng vỗ tay… với khúc thức đơn giản mang tính cổ điển. Tuy vậy, cả múa
và nhạc ở lễ Puis, Payak chính là tiền đề, là con đường manh nha để h́nh
thành và nâng cao loại h́nh múa quạt Chăm và nhạc lễ trống Ginăng,
Basanưng và kèn Saranai Chăm sau này. Đây chính là loại h́nh nghệ thuật
múa nhạc cổ điển mang tính bản địa của dân tộc Chăm rất quư giá có trước
loại h́nh múa quạt Chăm và nhạc lễ trống Ginăng, kèn Saranai hiện nay.
Chính nó là cội rễ, là nền tảng, là phần hồn góp phần quan trọng để h́nh
thành nên kho tàng nghệ thuật múa hát đặc sắc, tô thêm những sắc màu rực
rỡ cho lễ hội Chăm.
Lễ Ramưvan:
Lễ Ramưvan là một lễ lớn và quan trọng đối với người theo đạo Hồi giáo
Bà Ni Trung bộ. Hằng năm cứ vào tháng 9 Hồi lịch người Chăm Hồi giáo Bà
Ni đón mừng lễ ramưvan và có thể được coi như là tết của người Chăm Hồi
giáo Bà Ni Trung Bộ.
Lễ được bắt đầu từ ngày có vầng trăng đầu tiên tháng 9 Hồi lịch. Lễ
ramưvan được tổ chức trong 2 ngày và có nơi như ở làng Phước Nhơn, xă
Xuân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận tổ chức 3 ngày. Trước khi gần
đến ngày lễ ramưvan, người ta tổ chức “nao khồn” đi tảo mộ, đầu tiên tạo
mộ ở nơi xa trước, rồi sau đó tới những nơi gần. Ví dụ: như ở thôn Văn
Lâm, xă Phước Nam, thuộc huyện Ninh Phước ngày đầu tiên họ đi tạo mộ ở
làng Cà Ná; tiếp đến làng Sơn Hải và cuối cùng là tạo mộ “khồn klan”
làng Văn Lâm.
Ngày tạo mộ, tất cả thành viên của cả làng đều đi tạo mộ. Họ mang theo
lễ vật như quả đựng trầu cau, một b́nh nước, lư hương, thuốc lá, chiếu
nhỏ (chêu pàn). Khi đến nghĩa trang, mọi người đều t́m đến nghĩa trang
của ḍng họ ḿnh. Nghĩa địa của người Chăm Hồi giáo Bà Ni chia ra nhiều
khu v́ mỗi ḍng họ có ranh giới nghĩa địa riêng như ở làng Văn Lâm có
nghĩa địa ḍng họ “than prạ”, ḍng họ “In Rick”, “Gian Ink”…Tất cả thanh
niên của ḍng họ ăn mặc theo y phục cổ truyền giống y phục của tăng lữ;
đàn bà, con nít sửa soạn đồ nghi lễ, dọn sạch cỏ trên mộ của ḍng họ
ḿnh mới bắt đầu làm lễ. Tất cả đàn ông biết đọc và thuộc một số đoạn
kinh Coran, ngồi xếp hàng ngang, trước mặt mỗi người là một quả đựng
trầu cau, lư hương dùng để đốt trầm toả khói lên. Dưới sự điều khiển của
một ông già nhất trong tất cả những người đàn ông, học đọc kinh cầu
nguyện thánh Alla ban phước lành và cầu rước linh hồn người quá cố về dự
lễ ramưvan. Khi những người đàn ông đọc kinh cầu nguyện, đàn bà, trẻ em
mỗi người đều lạy mộ của người quá cố. Đọc kinh cầu nguyện xong là phần
lễ ở nghĩa địa chấm dứt, mọi người cùng nhau đi về chuẩn bị làm lễ
ramưvan ở gia đ́nh.
Lễ ramưvan bắt đầu từ ngày mùng 1 tháng 9 Hồi lịch, tất cả mọi gia đ́nh
Hồi giáo Bà Ni đều tổ chức ngày lễ ramưvan trong gia đ́nh ḿnh hay c̣n
gọi là tết người Hồi giáo Bà Ni. Lễ vật gồm gà, vịt, cơm, bánh tét, bánh
ít, bánh trái… Lễ được tiến hành do một người trong gia đ́nh đă làm “ka
ráh” (người thuộc kinh Coran). Trước tiên mâm lễ vật được dâng lên cho
người làm lễ, đặc biệt mâm phải có chân tức “ta lao kai” trên mâm có một
cái bát đựng cát và lửa dùng để đốt trầm. Người làm lễ đọc kinh, những
người đàn bà trong gia đ́nh cầu nguyện vong hồn người quá cố về dự
ramưvan. Kinh đọc dứt, tiếp đến dang mâm chè, tiếp nữa là mâm cơm. Trong
ngày lễ ramưvan tất cả những thành viên trong gia đ́nh đă quá cố đều
được mời về ăn tết ramưvan. Họ mời linh hồn người quá cố theo thứ tự,
thứ bậc cao nhất rồi mới đến bậc trung niên và cuối cùng là trẻ con. Cho
nên lễ ramưvan kéo dài từ 10 giờ sáng đến 3-4 giờ chiều mới xong. Ngoài
ra trong lễ này họ c̣n mời linh hồn ông cố, ông sơ cách ngày này mấy thể
kỷ ở vùng Đà Nẵng, Quy Nhơn về dự lễ.
Lễ ramưvan thường tổ chức ở nhà cha mẹ trước, đến ngày hôm sau mới tổ
chức ở gia đ́nh con cái (con cái có chồng làm nhà riêng). Ngày lễ
ramưvan chấm dứt, tối đến tất cả tăng lữ (thầy chan) đều vô chùa, cùng
đêm hôm đó, tất cả mọi gia đ́nh đều làm một mâm cơm đem đến chùa để tăng
lữ cầu nguyện.
Khác với tín đồ Hồi giáo Islam, người Chăm Bà Ni không nhịn ăn trong
tháng ramưvan, mà chỉ có tăng lữ nhịn ăn tượng trưng. Thật ra sáng,
trưa, chiều họ đều ăn cơm do gia đ́nh họ mang đến. Nhưng họ ăn theo đúng
giờ quy định của giáo điều Hồi giáo Bà Ni. Ngoài ra lễ ramưvan c̣n mang
ư nghĩa rất lớn là một năm cũ đă qua bước sang một năm mới, mọi người
đến từng nhà thăm viếng, chúc tụng nhau và cùng nhau vui chơi, ăn mừng
năm mới.
Lễ Clék (Lễ măn mùa chay):
Lễ clék đánh dấu kết thúc mùa chay. lễ này rất đơn giản so với lễ
ramưvan. Lễ được làm ở Thánh đường Hồi giáo Bà Ni. Đúng vào lúc 8 giờ
các vị tăng lữ trong thánh đường sắp xếp các tư trang sửa soạn lại trong
chùa ngăn nắp để chuẩn bị làm lễ măn chay. Mỗi gia đ́nh đều mang đến
chùa một mâm cơm và một mâm chè. Lễ vật ở mâm cơm gồm thịt, cá, canh và
cơm; lễ vật ở mâm chè gồm chuối, xôi, 2 chén chè. Khi mâm lễ vật của mọi
gia đ́nh trong “paley” mang đến đầy đủ, nghi lễ được bắt đầu với sự điều
khiển của Pô Grù. Tất cả tăng lữ đều ngồi xếp bằng hướng mặt về phía
“minh rạp” (nơi dành để đọc kinh Coran). Sau khi lễ đọc kinh cầu nguyện
chấm dứt, tất cả tăng lữ đi đến vị trí dành cho họ ngồi thành hai hàng
dọc, trước mặt mỗi người đều có một mâm cơm; phần giữa thánh đường để
các mâm cơm của dân làng. Lễ được tiếp tục với sự điều khiển của Pô Crù
đọc kinh cầu nguyện Alla ban phước lành cho mọi gia đ́nh. Khi chấm dứt
đọc kinh, các vị tăng lữ được ăn cơm. Sau đó tiếp mâm chè cũng làm như
phần mâm cơm.
Lễ clék của người Chăm Hồi giáo Bà Ni khác với lễ royà của người Chăm
Hồi giáo Islam. Người Hồi giáo Islam rất coi trọng lễ Roya và coi đó là
lễ lớn. Trong khi người Chăm Hồi giáo BàNi coi đó chỉ là lễ nhỏ.
|
|
|