|
Nhạc cụ là thành tố
quan trọng để tạo nên phần hồn lễ hội Chăm. Nhạc cụ Chăm không chỉ
là sản phẩm vật chất đơn thuần mà c̣n là phương tiện biểu diễn nghệ
thuật mang lại biểu cảm thẩm mỹ trong đời sống tâm linh.
Phải nói lễ hội Chăm là nơi bảo tồn, lưu giữ nhạc cụ Chăm. Hầu hết
các loại nhạc cụ Chăm nhằm mục đích để phục vụ cho lễ hội.
|

|
|
Tiếng kèn trong tháp
cổ |
Nhạc cụ Chăm sử dụng trong lễ hội bao gồm:
Đàn Ka nhi, Rabap trống Ginăng, Basanưng, kèn Sarakai, Hagar (trống nhỏ),
Chiêng, Asăng (tù và), Tăngek (nhạc gơ bằng 2 cây gỗ). Ngoài ra c̣n có
Mă la do người Raglai biểu diễn. Các nhạc cụ trên có các đặc điểm sau
đây:
Đàn Kanhi: là loại đàn kéo một dây
tương tự như đàn nhị của người Kinh. Thân đàn Kanhi được làm bằng mai
rùa vàng. Trên thân mai rùa vàng có gắn một đoạn tre nhỏ đặc cỡ ngón
chân cái, dài khoảng 0,65cm. Ở đầu đoạn tre này có hai cần để kéo dây
gọi là hai tai Kanhi. Từ hai cần kéo (hai tai) nối xuống với cây tre
bằng một sợi là dây đàn chính của Kanhi. Ngoài ra cần kéo này nối với
cây tre bằng lông đuôi ngựa uốn cong như cánh cung. Đây chính là dây kéo
của đàn Kanhi để tạo ra âm thanh.
Theo truyền thuyết Chăm đàn Kanhi là biểu tượng cho 4 đứa con của thần
mẹ xứ sở - Po Inư Nưgar có tên là: Jakak, jakan chuyên trông coi việc
trên trời và jalo, jalai trông coi ở trần gian (dun ya). Do vậy đàn
Kanhi người Chăm sử dụng trong hai trường hợp sau:
- Kanhi dùng trong đám tang gọi là “Kanhi đam”. Người Chăm thường sử
dụng 2 đàn Kanhi cho đám tang 2 thầy Paseh và sử dụng 4 cái cho đám tang
4 thầy Paseh. Kanhi trong nghi lễ này do nghệ nhân biểu diễn phục vụ cho
công việc trần gian là nhằm để phụ hoạ với bài hát lễ tiễn đưa hồn người
quá cố về thế giới bên kia.
- Đàn Rabap cũng tương tự, cùng họ với đàn Kanhi trên nhưng chỉ được sử
dụng đơn chiếc. Rabap vừa là vật tổ môn phái của thầy Kadhar - một thầy
tín ngưỡng dân gian Chăm thờ thần mặt trời (yang prong). Do đó Rabap chỉ
được thầy Kadhar sử dụng để hoà âm với các bài thánh ca, ca ngợi các vị
thần trên trời ở lễ hội như lễ hội đền tháp, lễ tế thần linh puis,
payak, lễ tế trâu…
Cả hai loại Kanhi và Rabap đều có 2 ấm chính: ḳ và kí. Khi diễn tấu
thầy Kadhar phải ngồi xếp bằng đặt tay lên đùi tay phải kéo cánh cung,
tay trái điều khiển nốt nhạc. Khi khai lễ (Pachah yawa Rabap) thầy
Kadhar phải kéo Rabap phát ra 3 tiếng kḥ và 3 tiếng khí để thức giấc
mọi sinh linh và các thần thánh ở vũ trụ.
Kèn Saranai:
|

Thổi kèn Saranai
|
Đây là nhạc cụ thổi bằng hơi, cấu trúc gồm 3
phần gắn liền nhau: Phần chuôi (gali) làm bằng đồng, bên trong có
gắn lưỡi gà bằng lá buông, dùng để thổi; phần thân (rup) làm bằng gỗ
đục rỗng 7 lỗ chính phía trên và một lỗ phụ ở phía dưới để điều
khiển các nốt nhạc;và bộ thứ ba loa kèn làm bằng gỗ quí, sừng trâu
hoặc ngà voi, rỗng ruột. |
Đây là phần phát âm thanh. Kèn
Saranai có 5 nốt âm thanh tương đương với nốt nhạc đồ, pha, sol, la, rê
và cũng là tượng trưng cho 5 ngũ quan con người. Kèn Saranai được nghệ
nhân Chăm sử dụng trong các lễ hội Chăm như lễ hội múa Rija.
Trống Basanưng: Đây là loại trống
tṛn, bịt da một mặt, đường kính khoảng 0,45m. Mặt trống bịt da dê, thân
trống bằng gỗ. Xung quanh thân trống có đục 12 lỗ, mỗi lỗ được giữ chặt
bằng mỗi con nem và có quấn dây mây xung quanh. Đây là bộ phận tăng giảm
âm thanh và nốt nhạc của trống. Trống có 3 âm chính: tác, tăm, tằm.
Trống này được người Chăm xem là biểu trưng cho lồng ngực (tim, phổi,
ngũ tạng), là biểu hiện cái tâm con người. Trống Basanưng được xem là
nhạc cụ, là vật tổ của thầy Mưduôn - thầy cúng lễ tín ngưỡng dân gian
phục cho lễ hội múa Rija. Trống vỗ với tư thế ngồi, đặt trống vào đùi,
ôm sát vào ngực, vỗ hai tay vào trống.
Trống Ginăng:
|

Trống Ginăng
|
Trống ghi năng Chăm là trống dài h́nh trụ,
thường biểu diễn bằng cặp đôi để nghiêng nằm chéo nhau. Thân trống
thường làm bằng gỗ lim, khoét rỗng bên trong. Thân trống dài khoảng
0,72m, hơi ph́nh ở giữa và được bào nhẵn cả trong lẫn ngoài. Hai mặt
trống căng da, mặt nhỏ căng da dê, đường kính 0,24m, mặt này người
Chăm gọi là chang (mặt dương) vỗ bằng tay có 2 âm chính tớ, t́n. |
C̣n một mặt lớn căng da trâu, đường kính khoảng 0,28m, mặt này là
mặt chính của trống người Chăm gọi là Băm (mặt âm) có hai âm chính là:
d́n, gleng và luôn đánh bằng đùi gỗ. Trống Ginăng tượng trưng cho đôi
chân con người.
Theo quan niệm người Chăm về 3 loại nhạc cụ: kèn Saranai, trống
Basanưng, Ginăng là tượng trưng cho con người và một vũ trụ thu nhỏ
(trời, đất) hoàn chỉnh. Do vậy khi biểu diễn 3 nhạc cụ này không được
tách rời nhau mà luôn ḥa quyện vào nhau, trong đó kèn Saranai là nhạc
cụ chủ đạo. Ba nhạc cụ này đă tạo nên linh hồn cho lễ hội Chăm.
Hagar (trống cái): Đây là loại trống
cơm, thân trống dài khoảng 0,5m làm bằng gỗ đục rỗng bên trong. Mặt
trống căng bằng da dê đường kính khoảng 0,2m. Đây là loại trống nhỏ chỉ
sử dụng trong đám tang Chăm. Cùng họ với loại trống này c̣n có trống gọi
lễ trong thánh đường nhân lễ hội Ramưwan của người Chăm Awal. Như trống
gọi lễ này có kích thước lớn hơn, h́nh bầu dục, đường kính khoảng 0,4m.
Chiêng (cheng): đây là loại nhạc cụ
gơ bằng đồng có đường kính 0,3m. Chiêng có 2 loại: chiêng mặt bằng và
chiêng có núm. Chiêng thường dùng dùi gỗ, ở đầu dùi quấn vải mềm dùng để
gơ. Chiêng được sử dụng trong các lễ hội Chăm như lễ múa Rija, tế lễ
thần linh Puis, payak. Ngoài ra c̣n được sử dụng trong đám tang. Bên
cạnh chiêng c̣n có Mă la nhưng nhạc cụ này do người Raglai biểu diễn
nhân ngày hội cúng lễ ở đền tháp.
Tù Và (săng): Đây là nhạc cụ bằng ốc biển dùng để thổi. Theo
truyền thuyết đây là vật linh mà đấng Dêbitathuôr dùng để sáng tạo vũ
trụ và mọi sinh vật trên trần gian, tù và c̣n là vật tổ Po Adhia dùng để
hành lễ trong đám tang Chăm Ahiêr, đặc biệt trong nghi thức lễ tẩy uế
(talih) đất tháp trong các lễ hội ở đền tháp Chăm.
Nhạc cụ Chăm tuy chưa phong phú và đa dạng nhưng là một phương tiện
không thể thiếu được trong lễ hội Chăm. Nhạc cụ Chăm chỉ vang lên khi có
lễ, có hội, không phục vụ cho sinh hoạt đời thường. Nhạc Chăm chỉ đánh
thức những sinh linh ở cơi trần và thần thánh nơi chốn thiên đường và
lôi cuốn người xem về với tín ngưỡng, về với lễ hội. Như vậy, đến lượt
ḿnh nhạc cụ Chăm đă thực sự trở thành phương tiện nghệ thuật lôi cuốn
người xem về với lễ hội và ngược lại lễ hội Chăm chính là nơi nuôi
dưỡng, bảo tồn nhạc cụ Chăm.
Tóm lại: Di sản văn hóa vật chất từ đến tháp, đồ tế tự như
áo quần, vơng lộng, kiệu khiêng đến thức ăn truyền thống và nhạc cụ… tồn
tại trong lễ hội Chăm không chỉ là biểu hiện dưới dạng vật chất đơn
thuần mà nó là biểu tượng tâm linh mang ư nghĩa tổng ḥa. Sự tổng ḥa ấy
là sự gắn kết với nhau, quan hệ nhiều với nhau trong một không gian linh
thiêng. Đó là mối quan hệ giữa con người với cảnh quan thiên nhiên, cảnh
quan di tích; mối quan hệ giữa con người với tâm linh; mối quan hệ giữa
con người với các biểu tượng (vật thờ, tượng thờ) và mối quan hệ giữa
con người với nhau… Toàn bộ những mối quan hệ đó chuyển hóa bổ sung lẫn
nhau, để rồi chắt lọc, cô đúc, tinh chất lại thành những dạng thức vật
chất trong lễ hội Chăm. Với ư nghĩa đó lễ hội Chăm trở thành nơi bảo tồn
văn hóa vật chất của người Chăm khá đồ sộ, là bảo tàng dân gian sống
động đáp ứng đời sống tinh thần của người Chăm.
(Trích trong "Lễ hội của người Chăm" - Tác giả:
Văn Món - Sakaya) |