|
Các loại trang phục Chăm
Người Chăm là một dân tộc sớm hình
thành nước và chịu ảnh hưởng nhiều loại hình tôn
giáo, văn hoá khác nhau. Ngoài tôn giáo Bàlamôn. Hồi giáo
người Chăm còn theo tín ngưỡng dân gian xã hội Chăm còn có
nhiều giai cấp: vua chúa, quý tộc, bình dân. Do đó, mỗi giai
cấp, tầng lớp; mỗi chức sắc tu sĩ tôn giáo người đều có
mỗi trang phục riêng.
|

|
|
Trang phục thiếu nữ
Chăm |
Trang phục vua
chúa Chăm:
Trang phục vua chúa Chăm ngày xưa rất phong phú và đa dạng. Thế
nhưng cho đến nay do biến động của lịch sử vua chúa Chăm đã mất
đi, kéo theo sự biến mất về trang phục của họ. Cho đến nay, do
chất liệu vải bị huỷ hoại theo thời gian, trang phục vua chúa
Chăm không còn tìm ra được hiện vật nào còn nguyên vẹn. Hiện
nay chúng ta chỉ tìm thấy trang phục Chăm thông qua tư liệu cổ,
bia kí và những tượng thờ, phù điêu trên các đền tháp Chăm.
Từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau, trang phục vua chúa Chăm được
mô tả như sau: “Y phục vua Chúa Chăm gồm có áo bào bằng lụa,
có hoa bằng vàng, trên nền đen hay xanh lá cây.Áo lót bằng vải
trắng, nhỏ sợi mịn màng, đôi khi có thêu dệt hay viền tua bằng
vàng; vua chỉ có mặc một áo này không có áo ngoài gì khác
trong những buổi chầu, không phải đại lễ (Tân Đường Thư). Ở
ngang lưng đeo bên ngoài lễ phục một cái đai vàng nạm ngọc và
trang trí những vòng hoa (Nam Tề Thư, LVIII, 66a). Vua đi dép da
đỏ (Tống Thư, CCCXXXIX), còn giầy và ủng thì thêu và nạm ngọc
(Chư Phiên Chí), cổ, ngón tay, ngực vua thì mang rất nhiều đồ
trang sức...”
Ngay từ thời nhà Đường, Thông điển cho
chép đàn ông đàn bà Chiêm Thành đều quấn ngang một mảnh vải
cổ bối. Đường thư cũng có nói đến “vua choàng một tấm vải
trắng mịn”. Ngoài ra, các loại trang phục của vua (và kể cả
quí tộc cung đình Chăm) như cái sampot hiện còn trong kho... được
dệt chen vào đó các hoa chi tiết bằng lụa trắng và đen có
điểm chỉ vàng trên nền chỉ đỏ thành những hình Gảuda trong
các dáng điệu nhảy múa hay cầu nguyện, và những con vật kỳ
dị khác đã làm tăng vẻ đẹp mượt mà, đa sắc của vải lụa Chăm.
Theo nhiều nguồn tư liệu cổ khác còn nhận xét: “Trang phục Chăm
xưa và ngày nay, không khác trang phục của người Mãlai ”, nó là
mảnh vải gọi là “Kama”(trích Lương thư, LIV, 54a) quấn quanh
người từ phải sang trái và che từ ngang lưng đến chân. Ngoài
miếng vải đó ra, cả đàn ông đàn bà không mặc gì thêm nữa, trừ
mùa đông họ mặc áo dài (Tuỳ thư,LXXXII, 37a). Người thường dân
thì đi chân đất (Cưu đường thư, CXCVII, 32a); và mặc theo một tác
giả nói chỉ có vua chúa mới đi giầy (Durand, truyện Galathee,
Befeo, v ,336), hình như những người quyền quí cũng đi giầy da
thuộc (Lương thư, LIV,54, a). Họ bối tóc (Cựu đường thư,LIV,54a),
đàn bà thì bối thành hình cái búa (Văn hiến thông khảo) và
xâu lỗ tai để đeo những vòng nhỏ bằng kim loại (Lương thư,
LIV,54a). Cũng như người Mãlai, họ rất sạch sẽ; mỗi ngày họ
tắm nhiều lần, xoa mình bằng thứ dầu cao làm bằng lông não và
xạ hương. Họ cũng dùng gỗ thơm để ướp quần áo (Tân đường thư,
CXVII,32a).
Ngoài thư tịch cổ, trên bia kí còn miêu tả trang phục vua Chăm
như sau: Vua Chăm Vikrantarman HI điểm trong những miếng vàng đeo
lũng lẳng, có những chuỗi hạt ngọc xanh và ngọc trai lóng
lánh như ánh trăng hôm rằm, vua được che bằng cái lộng trắng nó
trùm lên vòng tròn cả bốn phương trời, Vua đeo vương miệng, đai
vòng cổ, hoa tai bằng chuỗi hòn ngọc,bằngvàng, toả ra hào
quang giống như những dây leo (Tống Sử, CCCIXXIX,22a).
Trên bia kí lai trung ở Huế, nội dung có phần mô tả về cách ăn
mặc của Vua Champa Indravarman III (918) là áo Vua có thêu dính
nhiều vàng bạc. Bia kí Pô Nưgar cũng đề cập đến Vua Chăm
Wikratavarman III (854) mặc áo đen và xanh, có đính hoa văn và
chỉ làm bằng vàng. Áo khác cũng làm bằng vải thô thêu chỉ
bằng vàng rất đẹp.
Ngoài bia kí nói trên các nhà khoa học còn tìm thấy nhưng trang
phục của người Chăm trên các phù điêu, trên các tượng thờ ở
các đền tháp như các tượng thần Siva. Vũ nữ Chăm Apxara với
những dãi áo mỏng được trang trí bằng những nét hoa văn thật
đẹp mắt, tinh vi. Đi xa hơn nữa là các nhà khoa học còn tìm
thấy các loại quần áo được trang bị cho binh lính Chămpa, chẳng
hạn như bức phù điêu chạm khắc trên tường tháp Angkor wat, mô tả
cảnh chiến đấu đội quân Chămpa tiến vào đánh Angkor vào thế kỷ
XIII. Bức phù điêu này cho thấy binh lính Chămpa mặc quần áo
ngắn có đeo dải Bàlamôn; mặc áo ngắn cụt tay có dệt hoa văn,
đầu đội mũ.
Bên cạnh trang phục, người Chăm còn có nhiều loại đồ trang sức
quí giá. Vì là nghề luyện Kim sớm phát triển cho nên, họ đã
sản xuất ra nhiều đồ trang sức đa dạng và độc đáo. Sử Trung
Quốc còn chép lại, khi vào Chămpa tướng nhà Lương – Đàn Hoa Chi
đã cướp được tượng vàng Chămpa “Nấu chảy tượng vàng ra mấy
ngàn cân”. Tư liệu trong cuốn Tuỳ thư còn cho biết: Tướng Lưu
Phương “cướp được 18 tượng thần đúc bằng vàng của Champa”. Do
nghề luyện kim phát triển sớm cho nên người Chăm đã chế tạo ra
nhiều hàng thủ công, đặc biệt là đồ trang sức khá tinh xảo.
Sản phẩm thủ công đó là những đồ trang sức, vật dụng bằng
vàng, bạc, đồng được họ sử dụng để dâng cúng cho thần thánh,
phục vụ vua chúa, giai cấp quí tộc... trong đời sống hằng
ngày. Những cổ vật Chămpa đáng chú ý được biết đến là các
loại vương miện, khuyên tai hai đầu thú, hình vành khăn, bông tai,
hạt chuỗi bằng đá, thuỷ tinh, vàng, bạc được tìm thấy ở các
di chỉ Sa Huỳnh và các nhóm di tích khác ở dọc dải đất
miểnTrung Việt Nam. Chẳng hạn như: Đồ trang sức hình cảnh hoa
cở lớn (Đồng Dương- Thăng Bình – Quảng Nam- Đà Nẳng) là một
loại vương miện đẹp ở đầu thế kỷ XII – XIII sau công nguyên.
Ngoài ra còn có các loại bình bát, vòng tay bằng vàng, bạc...
có niên đại ở thế kỷ XVII trở về sau đều là những cổ vật
quí giá được trang trí, chạm khắc nhiều dáng vẻ tinh xảo và
đẹp mắt, góp phần làm phong phú nền trang phục của người Chăm.
Như vậy, từ các nguồn tư liệu trên, tuy còn ít ỏi nhưng cũng
giúp chúng ta hình dung được cách ăn mặc của các vua chúa, các
vũ nữ, các tầng lớp trong xã hội Chăm ngày xưa. Với trình độ
phát triển kinh tế xã hội thời đó, cách ăn mặc của người Chăm
đã định hình và phát triển cao mang đặc trưng văn hoá và văn
minh của riêng mình. Sau này với sự biến đổi của lịch sử, tuỳ
theo mỗi thời đại của trang phục Chăm về sau có nhiều biến đổi
và cho đến nay trên nền tảng đó, người Chăm vẫn còn lưu giữ
được trang phục truyền thống của mình.
Trang phục nam giới và nữ giới:
Trang phục nữ giới:
 |
Trong bất cứ dân tộc nào, thời đại nào người phụ nữ là người
lưu giữ một cách bền vững bản sắc văn hoá riêng của dân tộc
mình. Áo truyền thống của phụ nữ Chăm ngày nay là biểu hiện
sắc thái riêng ấy của dân tộc Chăm mà người ta dễ dàng nhận
biết, không lẫn lộn được với bất cứ dân tộc nào khác.
Áo (aw): |
Áo truyền thống của người phụ nữ Chăm là áo dài bít tà, mặc
chui đầu mà họ gọi là “Aw loah” (áo có 3 lỗ). Áo có một lỗ
chui đầu và hai ống tay. Áo này xưa kia được cấu tạo bằng 7
mảnh vải may ghép với nhau, người Chăm gọi là “aw kauk kaung”.
Nhóm áo này ở phần trên thân áo chạy dài từ vai xuống ngang
bụng thì dừng lại. Vì khổ vải của khung dệt ngày xưa không cho
phép vải rộng quá 1m; phần thứ hai từ ngang bụng đến quá đầu
gối hoặc đến gót chân phần này cũng được may ghép hai phần, ở
mặt trước và mặt sau: hai cánh tay được nối lại với hai phần
vai và nách áo; và cuối cùng hai mảnh nhỏ đắp vào hai bên
hông, người Chăm gọi bộ phận này là “dwa boong”. Cổ áo thường
khoét lỗ hình tròn hoặc hình trái tim. Nhìn chung từng chiếc
áo dài truyền thống Chăm ngày xưa chỉ là những tấm vải ghép
lại mà người may quay tròn thành hình ống để bó thân người
mặc. Áo có nhiều màu khác nhau như màu đỏ, vàng, đen, trắng...
Nhưng mỗi cái áo đều luôn có hai màu (đen-đỏ-xanh-trắng hoặc
tím ,vàng). Áo chỉ là những tấm vải thô, trơn không có trang
trí hoa văn. Nhưng thay vào đó thì các phụ nữ trẻ khi mặc áo
dài truyền thống đi hội họ thường choàng loại dây thắt lưng có
thêu hoa văn trước ngực và buột xung quanh lưng gọi là “Taley
kabak”.
Ngày nay áo dài truyền thống Chăm đã cải tiến. Do kỷ thuật
dệt đã mở rộng được khổ vải cho nên áo dài Chăm không còn là
những mảnh vải nối ghép (kauk kuang) nữa mà áo dài Chăm được
may bằng 4 mảnh vải cùng màu nối nhau. Những phụ nữ Chăm trẻ
thường mặc áo dài đến quá đầu gối phủ lên váy mặc, may hơi
bó tay, thân hơi phình rộng, ở hai bên hông áo “dwa boong” họ cải
tiến bằng cách mở một đường ngay eo hông, có may thêm hàng khuy
bấm hoặc nút dính gọi là “aw eo”.
Ngày xưa phụ nữ Chăm, ngoài mặc áo dài thì bên trong còn có
áo lót gọi là áo klăm, giống như yếm của người Kinh, gồm có
mảnh vải nhỏ che ngực, và dãi vải nhỏ buột qua vai và lưng.
Ngày nay áo này không được mặc phổ biến mà thay vào đó là
“áo nhỏ” giống như áo lót bên trong của người Kinh.
Váy, Khăn (Aban, khan):
Váy người Chăm có hai loại: váy kín và váy mở (aban) là loại
váy quấn bằng tấm vải, hai mép vải không may dính vào nhau, khi
mặc cặp váy được xếp vào và lận vào bên trong giữ chặt eo
hông. Còn váy kín (khan) thì hai mép đầu vải được may dính vào
nhau hình ống. Phụ nữ lớn tuổi thường mặc váy mở (aban) còn
váy kín dành cho phụ nữ trẻ tuổi. Chỉ có váy mở (aban) có
nhiều hoa văn trang trí và có may cạp váy, còn váy kín thì
không có hoa văn trang trí.
Váy (aban) Chăm là loại sarong, đây là sản phẩm được mặc phổ
biến phụ nữ của Chăm. Váy có kích thước (160cm x 90cm). Váy
của người Chăm được trang trí nhiều loại hoa văn và màu sắc
khác nhau. Váy Chăm có nhiều màu đen, đỏ, xanh... nhưng chủ yếu
là nền đen, dệt nhiều hoa văn. Váy Chăm có nhiều loại, căn cứ
vào kỷ thuật dệt, hoa văn trang trí mà họ có tên các loại váy
khác nhau như sau:
- Váy dệt có đường viền (đường sọc
đứng)
- Váy Chăm không có đường viền
- Váy có cạp (loại biyor)
Váy Chăm đa số được phủ kín hoa văn trên bề mặt. Hoa văn được
kết hợp với nhiều màu sắc khác nhau trên màu nền như đen, đỏ,
xanh tạo nên nhiều kiểu dáng hoa văn phong phú như: hoa văn quả
trám (bingu tamun), hoa văn hình con thằn lằn (kachak), hoa văn 4
cánh (tuk riteh), hình ô vuông (bingu caor)... Váy Chăm thường may
cạp ở rèm chân theo chiều ngang hoặc chiều dài của váy gọi là
jih hoặc biyon. Đàn bà bình dân thường mặc váy có hình quả
trám (bingu tamum), hoa văn hình dây leo (biyon hareh). Còn đàn bà
quí tộc mặc váy có nhiều hoa văn mà phổ biến là hoa văn 4
cánh (bingu riteh) và vua chúa Chăm còn sử dụng việc dệt thêm
những sợi chỉ bằng vàng, bạc vào váy của họ. Còn đàn bà
lớn tuổi thì mặc váy có hoa văn hình hạt lúa nổ (bingu
kamang). Loại váy này không phổ biến, người Chăm kiên cử khi dệt
thì phải cúng cho vị tổ nghề Pô Nưgar một cặp gà.
Cùng với váy, phụ nữ Chăm còn mặc một loại “khan” (khăn mặc)
có kích thước khoảng (142cm x 77cm). Khăn mặc đàn bà có nền
màu trắng, đen, xanh, vàng... Hoa văn thường dệt phủ kín trên bề
mặt như hoa văn quả trám, hoa cà dược, hoa văn mắc lưới, hoa văn
caro (hình vuông). Tuy nhiên loại hoa văn này phụ nữ Chăm không
mặc phổ biến bằng loại váy (aban) Chăm. Cũng như vậy, khăn mặc
phụ nữ Chăm còn dùng để choàng, đắp ngủ trong mùa có thời
tiết lạnh.
Khăn đội đầu (tanrak):
Khăn đội của phụ nữ Chăm thường dệt bằng vải thô màu trắng ,
xanh, đỏ,vàng... Khăn có kích thước (129cm x 32cm), có dệt loại
hoa văn quả trám, cùng màu phủ kín lên mặt vải, khăn đội đầu
của người Chăm hồi giáo Bà Ni thường màu trắng, có may thêm
cạp vải hoa văn theo dọc đường biên của khăn gọi là “khăn mbram”.
Còn phụ nữ Chăm Bàlamôn bình dân thường thích đội khăn màu
trơn, không may cạp vải hoa văn. Ngoài ra phụ nữ Chăm còn có
loại khăn choàng vai, và khăn cầm tay màu đỏ và hộp túi vải
để đựng trầu cau.
Cách đội khăn của người Chăm là quấn lên đầu, vòng từ sau ra
trước, một phần trùm xuống đỉnh đầu, rồi hai mép gặp lại,
buông chùng xuống hai tai. Ngày nay việc đội khăn truyền thống
chỉ còn lại ở phụ nữ lớn tuổi, còn giới trẻ thì đội nón,
chỉ còn đội khăn truyền thống trong những dịp lễ hội.
Trang phục nam giới:
|

|
Áo nam giới (aw likey):
Đây là loại áo ngắn (aw lah) truyền thống của người đàn ông
Chăm. Áo được may bởi 6 mảnh vải với nhau: mặt thân sau có
hai mảnh vải tách rời, rồi họ lại may dính vào nhau tạo
thành một đường viền chạy dọc theo sóng lưng |
(khổ vải khung dệt không cho phép khổ
vải quá một mét nên họ phải dùng hai mảnh để may ghép lại):
phía thân trước cũng gồm hai mảnh vải ghép lại; và
hai bộ phận còn lại là hai vải ống tay may dính vào hai phần
nách và phần vai. Áo ngắn chỉ mặt chùng xuống đến mông, xẻ
hai bên hông khoảng 20cm. Áo ở phía trước có đường xẻ, đính
khuy và hai bên vạt trước có hai cái túi. Cổ áo thường là cổ
con, tròn đứng, ôm sát cổ. Áo thường có nhiều màu trắng:
trắng, đỏ, xanh, vàng... nhưng không có trang trí hoa văn.
Áo nam giới Chăm còn có một loại áo khác gọi là “aw tah” (áo
dài). Áo được dệt bằng vải thô màu trắng, được may ghép bằng
nhiều mảnh vải. Áo tah không xẻ thân phía trước, không có hàng
khuy mà chỉ xẻ một đường xiên trước ngực, dùng dây để buột
thay nút. Áo mặt chui đầu (aw loah) và phủ dài đến đầu gối.
Áo này hiện nay không được mặc phổ biến chỉ được mặc trong
các nghi lễ.
Váy, khăn (aban, khan):
Theo truyền thống từ xa xưa, tất cả người Chăm đàn bà đàn ông
đều mặc váy (sarông). Thông thường ngày nay thì người đàn ông
mặc khăn. Khăn mặc của người đàn ông Chăm có nhiều loại. Khăn
mặc của đàn ông bình dân được dệt bằng vải thô màu trắng; khăn
mặc không có hoa văn trang trí. Còn đàn ông quí tộc là mặc khăn
cũng màu trắng nhưng dệt bằng tơ, có hoa văn quả trám phủ kín
bề mặt khăn. Cách mặc váy, khăn mặc của đàn ông cũng giống như
cách mặc váy của phụ nữ Chăm.
Dây thắt lưng (taley ka-in)
Ngoài việc mặc váy đàn ông Chăm còn buột dây lưng: là loại dây
thắt lưng có khổ vải rộng khoảng 10cm-25cm dài khoảng
180cm-250cm. Nó thường dùng cho người đàn ông và người đàn bà
mặc váy, có ba loại:
- Loại thường: đây là loại dây thắt lưng trơn dệt bằng vải thô
(cotton) màu trắng không có dệt hoa văn, loại dây thắt lưng này
có khổ hẹp, thường dùng cho người đàn ông bình dân.
- Loại dây lưng dệt bằng tơ, có thêu nhiều hoa văn màu sắc sặc
sỡ, có khổ rộng như loại hoa văn quả trám, hoa văn mắt gà, hoa
văn hình neo thuyền... Những loại hoa văn này thường dùng cho
giai cấp quí tộc.
- Loại dây thắt lưng có khổ rộng khoảng 10cm, được dệt hai mặt
hoa văn nổi. Hoa văn thường bố trí thành một dải nhiều hình xen
kẻ nhau với màu sắc sặc sỡ như hoa văn quả trám, hoa văn chân
chó, hoa văn hình móc mỏ neo... Ngoài ra loại này còn có hoa
văn hình rồng, hình người... Loại dây lưng này chỉ dùng cho vua
chúa và chức sắc tôn giáo.
Cách buột dây thắt lưng của người Chăm là quấn một vòng qua
lưng rồi buột gút lại,thả chùn hai đầu dây có tua ra phía
trước.
Đồ đội đầu (tanrak):
Đồ đội đầu của đàn ông Chăm chủ yếu là khăn. Người đàn ông
bình dân thì sử dụng khăn dệt trơn bằng vải thô trắng và đàn
ông quí tộc thì đội khăn có dệt hoa văn hình quả trám cùng
màu trắng phủ kín lên mặt vải. Ngoài khăn đội đầu người đàn
ông Chăm còn có khăn vắt vai, túi nhỏ đeo vai và túi đựng thuốc
hút.
Cách đội khăn của Chăm là quấn vòng lên đầu từ phía sau ra
phía trước, rồi thả hai mép gập lại, buông chùn xuống ở gần
hai tai. Đối với người đàn ông trẻ tuổi thì không đội khăn mà
chỉ vắt khăn chéo qua vai. Cũng như phụ nữ Chăm, ngày nay việc
đội khăn truyền thống chỉ có ở người đàn ông lớn tuổi, còn
giới trẻ thì đội nón, chỉ còn đội khăn truyền thống trong
những dịp lễ hội.
Trang phục chức sắc tôn giáo, tín ngưỡng
Chăm:
Trang phục tu sĩ Bàlamôn Chăm:
Tu sĩ Chăm Bàlamôn gọi là paseh, họ chuyên phục vụ
các lễ nghi cúng tế cho tín đồ Chăm theo Bàlamôn như các lễ
nghi đền tháp, đám tang, lễ nhập kút... Hàng ngũ tu sĩ paseh
có nhiều thứ bậc khác nhau như paseh đung akuak (tu sĩ mới tập
sự), paseh lyah (cấp thứ hai), paseh luah (cấp thứ ba), pô bac
(phó cả sư) và cuối cùng là pô Adhia (chức cả sư)- người giữ
chức vụ cao nhất trong hàng ngũ paseh.
Tầng lớp paseh này có sắc phục riêng và
mỗi cấp bậc của tu sĩ paseh đều thể hiện những chi tiết khác
nhau trên bộ phận của trang phục. Pô Adhia (cả sư) mặc áo trắng,
mặt váy, buột dây lưng và khăn đội đầu. Áo pô Adhia là loại
vải màu trắng, mặc dài qua đầu gối, dệt bằng vải thô không có
hoa văn, vải may thụng được ghép lại bởi 6 mảnh vải (hai mảnh
vải thân trước, hai mảnh vải thân sau, hai mảnh vải ống tay): áo
không xẻ tà, không mặc chui đầu mà khi mặc hai phần thân được
xếp chồng lên nhau, rồi buột dây vải ở hông và gần phía ngực
trái. Áo này người Chăm gọi là áo “Aw tikuak”.
Tu sĩ Adhia mặc áo váy hở màu trắng. Khăn mặc có may cạp váy
là loại hoa văn hình rồng. Pô Adhia (cả sư) còn buộc dây thắt
lưng dệt hoa văn hai mặt, như các loại hoa văn hình quả trám, hoa
văn chân chó, hoa văn neo thuyền. Loại cạp váy dây lưng này để
dành cho chức sắc pô Adhia, vua chúa tu sĩ cấp dưới và dân
thường.
Pô Adhia đội đầu bằng khăn hai loại khăn: khăn “puah” và “khan
mưham taibi”. Đây là loại khăn dài màu trắng có hai tua vải đỏ,
có cạp vải, may viền ở hai đầu và dệt hoa văn. Đây là loại
khăn chỉ dành riêng cho giới chức sắc và tu sĩ.
Cùng với áo, khăn đội đầu, váy, dây lưng, còn có đeo khăn đỏ,
và bốn túi nhỏ hình âm vật trước ngực (tượng trưng cho âm) để
đựng trầu cau, thuốc hút.
Cách mặc áo , váy buột lưng, quấn khăn của tu sĩ Bàlamôn cũng
tương tự như cách mặc áo váy của người đàn ông bình dân đã
trình bày trên.
Nói chung trang phục của pô Adhia (cả sư) là tiêu biểu cho tu sĩ
đạo Bàlamôn. Các trang phục của tu sĩ cấp dưới Paseh cơ bản
đều giống trang phục của Pô Adhia nhưng chỉ khác và phân biệt
được với nhau ở chỗ là áo của Pô Adhia, ống tay được may hai
lớp vải, còn tu sĩ bình thường chỉ được may một lớp vải. Pô
Adhia thì mặc váy có cạp váy hình rồng, thắt dây lưng có hoa
văn hai mặt nhiều hoa văn. Còn tu sĩ cấp bình thường, mặc váy
trơn, không có cạp váy và thắt dây lưng có hoa văn thường như hoa
văn quả trám, hoa văn con thằn lằn...
Trang phục tu sĩ chăm Hồi giáo- Bà Ni:
 |
Tu sĩ Chăm Hồi giáo Bà Ni gọi là Pô
Achar, họ chuyên phục vụ các lễ nghi cúng tế cho tín đồ
theo đạo Hồi giáo – Bà Ni như các lễ nghi ở thánh đường,
đám tang, lễ cưới... Cũng giống như tu sĩ Bà La Môn, hàng
ngũ tu sĩ Achar có nhiều thứ bậc khác nhau như: cấp
Achar-jăm ak (tu sĩ mới tập sự), khotip (cấp thứ hai), Imưm
(phó cả sư) và cuối cùng là Pô Gru (cả sư) – người giữ
chức vụ cao nhất trong hàng ngũ Achar. |
ầng lớp Achar này
có sắc phục riêng và mỗi cấp bậc của tu sĩ Achar đều thể
hiện những chi tiết khác nhau trên bộ phận của trang phục. Pô
gru Achar mặc áo dài phình rộng gọi là – Aw tah, được ghép lại
bằng sáu miếng vải với nhau. Áo Pô Gru có xẻ ở trước thân áo,
có may khuy cài trước ngực một đường ngắn khoảng 15cm, còn từ
dưới ngực đến chân thì để hở. Áo Pô char có may ghép một mảnh
vải màu trắng ở trước ngực và phần trên của thân sau một loại
hoa văn bốn cánh hình cung nhọn, gợi nét hình vòm mái nhọn
của thánh đường Hồi giáo.
Pô char cũng mặc váy, buột thắt lưng như cả sư Bà La Môn nhưng
lại đội khăn loại khác. Pô Achar còn đeo một chùm khăn đỏ ở
trước ngực (tượng trưng cho dương vật – yếu tố dương) và 4 túi
nhỏ ở phía sau. Còn trang phục của các cấp bậc trong hàng ngũ
tu sĩ Hồi giáo Bà Ni thì cơ bản giống nhau, chỉ có một số chi
tiết khác nhau trên cạp váy, trên thắt lưng. Cách phân biệt các
cấp bậc trong hàng ngũ tu sĩ Hồi giáo Bà Ni thì cơ bản giống
nhau chỉ có một số chi tiết khác nhau trên cạp váy, trên dây
lưng. Cách phân biệt các cấp bậc trong hàng ngũ tu sĩ Hồi giáo
Bà Ni cũng tương tự như cách phân biệt trên trang phục của tu sĩ
Bàlamôn.
Nói chung trang phục của tu sĩ Hồi giáo Bà Ni và tu sĩ Bàlamôn
ngoài những nét cơ bản giống ở váy, khăn đội đầu, dây thắt
lưng nó còn có một số chi tiết khác nhau mà dễ nhận thấy
nhất là: trang phục tu sĩ Hồi giáo Bà Ni có may ghép hoa văn 4
cánh hình cung nhọn ở trước ngực, còn áo tu sĩ Bàlamôn không
có hoa văn. Tu sĩ Pô Char Hồi giáo có đeo chùm khăn dài trước
tượng trưng cho dương vật và tu sĩ Bàlamôn thì trước ngực có
đeo cái túi nhỏ tượng trưng âm vật. Có thể nói trang phục của
tu sĩ Hồi giáo Bà Ni là nữa phần của trang phục tu sĩ Chăm
Bàlamôn và ngược lại. Và ngay trong bản thân trang phục của tu
sĩ cũng có hai phần: Phần âm và phần dương. Trang phục của tu
sĩ Hồi giáo Bà Ni là tượng trưng cho nữ , nhưng trước ngực lại
có đeo chùm vải đỏ hình dương vật và đầu không để tóc tượng
trưng cho nam. Còn ngược lại, trang phục tu sĩ Chăm Bàlamôn là
tượng trưng cho nam, nhưng ở phía sau lại đeo túi hình âm vật và
đầu búi tóc tượng trưng cho nữ. Điều này biểu hiện yếu tố
lưỡng nghi trong trang phục Chăm là: trong âm có dương và trong
dương có âm. Giữa Chăm Bàlamôn và Chăm Hồi giáo Bà Ni vừa là
âm, vừa là dương, hội nhập chuyển hoá lẫn nhau. Vì vậy giữa
Chăm Hồi giáo Bà Ni và Chăm Bàlamôn tuy hai nhưng vẫn là một.
Trang phục chức sắc tín ngưỡng Chăm:
 |
Y phục Ong Kadhar (thầy kéo đàn Kanhi):
Thầy Kadhar là thhày kéo đàn kanhi (đàn dây giống như đàn
nhị) hát những bài thánh ca để cúng lễ ở các đền tháp
và lễ nghi tín ngưỡng khác của người Chăm như lễ cúng
ruộng, lễ nhập kút... của người Chăm. Thầy kadhar có sắc
phục tương tự như cả sư Chăm Bàlamôn. |
Thầy kadhar mặc áo dài trắng, mặc váy
trắng viền hoa văn rồng, đầu đội khăn có tua đỏ, vai vắt khăn
đỏ và đeo túi.
Trang phục On-Ka-In (thầy bóng)
Ong ka in là thầy cúng tín ngưỡng dân gian Chăm, thường múa phục
vụ trong lễ cúng đầu năm Chăm... Trang phục ong ka in cũng tương
tự như trang phục đàn ông bình dân Chăm là mặc áo “aw lah”, mặc
khăn không có cạp váy và dây thắt lưng bằng vải trắng thô không
có hoa văn, chỉ khác ở chỗ là ong ka in đội loại khăn có tua
đỏ. Loại khăn đội giống chức sắc tu sĩ tôn giáo Bàlamôn và
Hồi giáo.
Trang phục muk Pajau (bà bóng):
Muk pajau là thường đi đôi với ông Kadhar
chuyên phục vụ lễ nghi tín ngưỡng Chăm. Muk pajau mặc loại “aw
sah kamey” tương tự như áo Kadhar như áo Pajau chỉ mặc ngắn đến
đầu gối. Áo được may bằng loại vải thô màu trắng có xẻ một
đường dài tư dưới nách phải dọc xuống theo thân áo và một
đường xẻ khác nằm xiên chồng lên phần thân áo trước ngực tiếp
giáp với phần cổ áo, tạo cho cổ áo thành hình trái tim. Khi
mặc áo, đường xẻ được kết dính lại với nhau bằng dây vải
buột chặt dưới nách và hông. Mu pajau còn thường mặc áo dài
phụ nữ Chăm trong nghi lễ nhưng áo đó phải là màu trắng, hoặc
mặc váy trắng có cạp váy dệt hoa văn ở hai đầu váy gọi là
“Biyor”, đầu đội khăn màu trắng có viền hoa văn gọi là khăn
“khan puah” và hai bên tai có đeo hoa tai có đính tua vải màu đỏ
gọi là “bruei”.
Trang phục On Mưduôn (thầy vỗ trống
basanưng):
Ong Mưduôn thầy vỗ trống basanưng hát bài thánh ca và điều
khiển lễ Rija (lễ múa) của người Chăm. Ong Mưduôn có sắc phục
riêng. Mưduôn mặc áo dài màu trắng, cổ con, có xẻ vạy dọc từ
dưới nách bên phải chạy đến phần chân người mặc. Từ nách áo
bên phải lại xẻ một đường xiên ở ngực đến chính giữa cổ áo.
Những đường xẻ này khi mặc áo vào được kết dính lại bằng
hàng nút kết dính. Mưduôn mặc loại váy thường và buộc dây lưng
như đàn ông Chăm bình dân. Khăn đội đầu là loại khăn trắng, có
tua màu đỏ tương tự như khăn các tu sĩ Chăm và một loại nữa là
khăn trắng tua trắng gọi là khăn “siep kabuak”.
Trang phục muk Rija (vũ sư):
Mu Rija là thường đi đôi với Ong Mưduôn chuyên phục vụ lễ múa
người Chăm gọi là lễ Rija. Mu Rija mặc loại “aw tuak patih” được
may bằng loại vải màu trắng tương tự như áo dài truyền thống
của phụ nữ Chăm. Muk Rija mặc váy “ khan mbar jih”. Đây là loại
váy màu đen, có cạp váy dệt hoa văn viền ở xung quanh bìa váy,
đầu đội khăn màu trắng, không có hoa văn và hai bên có đeo hoa
tai có đính tua màu đỏ.
Trang phục chức sắc tín ngưỡng Chăm, ngoài ông kadhar, On Mưduôn,
thầy Ka in, Muk pajau, Muk Rija... thì còn có trang phục của thầy
cúng (Gru tiap bhut, tiap kalơn) và trang phục của Muk buh (bà đơm
cơm phục vụ lễ). Tuy nhiên trang của thầy cúng là giống như
trang phục của đàn ông bình dân Chăm, nhưng chỉ khác là trang
phục thầy cúng mặc màu trắng không được mặc áo màu. Tương tự
như vậy trang phục của Muk buk cũng giống như Muk Payau bà bóng
không khác nhau mấy, cũng là mặc áo Sah kamey hoặc áo dài Chăm
màu trắng, mặc áo váy có cạp hoa văn Biyon, đội khăn tuak. Chỉ
có Muk Buk đạo Hồi giáo Bà Ni thì trang phục giống như trang
phục của phụ nữ bình dân Chăm nhưng chỉ được mặc một màu
trắng và đội khăn “mbram” giống như phụ nữ Hồi giáo Bà Ni.
Các bộ phận khác của trang phục:
Trang sức:
Cùng với y phục, người Chăm kể cả đàn ông, đàn bà; giai cấp
quí tộc, tầng lớp bình dân: Chức sắc tôn giáo, tín ngưỡng đều
sử dụng đồ trang sức. Ngày xưa, đàn bà, đàn ông Chăm đều để
tóc dài búi tóc. Ngày nay, đàn ông Chăm chỉ có tu sĩ Bàlamôn
và vị chức sắc tín ngưỡng dân gian thì để tóc dài còn đàn
ông bình thường thì cắt tóc ngắn. Tu sĩ Hồi giáo Bà Ni thì
không để tóc. Khi để tóc dài thì các cụ già thường hay búi
tóc và dùng dây vải để cột tóc và đội khăn. Còn phụ nữ trẻ
thường búi tóc và dùng trâm cài.
Người phụ nữ Chăm thường đeo hoa tai có đính tua
vải màu đỏ
hình nấm, hình tròn, hình vành khăn làm bằng vàng, đồng thau
và có đính tua vải đỏ; cổ có đeo xâu chuỗi hột tròn hình bầu
dục làm bằng vàng hoặc đồng thau, mặt nhẫn có đính hột đen
được bao quanh bằng hoa 4 cánh. Người đàn ông Chăm thì dùng trang
sức đơn giản hơn, họ chỉ đeo đơn giản chiếc nhẫn tròn, mặt
nhẫn có đính hột đen và được bao quanh bằng hình hoa 8 cánh mà
họ thường gọi là chiếc nhẫn Mưta. Chiếc nhẫn Mưta chính là
biểu trưng là dấu hiệu để nhận biết đồng tộc Chăm. Vì vậy khi
người Chăm chết đi, ngoài trừ y phục, họ còn mang theo chiếc
nhẫn Mưta. Họ còn dùng chiếc nhẫn Mưta để thực hiện nghi lễ
quan trọng trong đám tang để tiễn đưa linh hồn cho người chết về
giới khác.
Đồ mang (guốc, dép):
Ngoài trang sức, người Chăm còn sử dụng guốc dép để mang. Theo
tư liệu cổ ghi lại, ngay từ thời xa xưa vua chúa Chăm đã biết đi
giầy, mang dép, bằng gỗ da. Cách đây không lâu, các cụ già Chăm
vẫn thường mang guốc gỗ, da làm bằng vải hoặc da trâu để mang.
Nhưng đó chỉ là một số, còn hầu hết người dân Chăm kể cả đàn
ông, đàn bà đều đi chân đất. Ngày nay cũng giống như các dân
tộc khác, người Chăm thường mang giầy dép công nghiệp.
Trang phục Chăm trong sinh hoạt lễ hội:
Những bộ trang phục vừa liệt kê, mô tả trên là những bộ trang
phục cơ bản thường gặp trong đời sống bình thường và đời sống
tôn giáo tín ngưỡng Chăm. Tuy nhiên, trang phục Chăm không phải
lúc nào cũng thế mà tuỳ nơi, tuỳ lúc họ còn mặc những kiểu
trang phục khác nhau nhưng không khác xa với nét trang phục
truyền thống.
Trang phục lao động: trong điều kiện lao động trên ruộng nước,
đất rẫy khô, người đàn ông, đàn bà Chăm vẫn mặc trang phục
truyền thống của mình. Người đàn ông Chăm khi làm ruộng nước
thì hay mặc quần ngắn hai ống tới đầu gối, không mặc váy. Họ
không mặc trang phục màu trắng trong lao động mà chủ yếu là sử
dụng vải màu, loại vải cũ trơn, không có thêu hoa văn.
-Trang phục trong tang lễ: Trong tang lễ, cũng như trang phục liệm
cho người chết, người Chăm thường sử dụng màu trắng. Trang phục
đem theo cho người chết thường được phân chia theo tuổi tác và
giai cấp. Nếu người chết thuộc giai cấp quí tộc khi chết đi
thì được làm đám tang “4 thầy paseh” thì quần áo được đem theo
là 5 bộ hay 9 bộ. Nếu người chết thuộc tầng lớp bình dân thì
chỉ được cử hành đám tang “2 thầy paseh” thì quần áo đem theo
là 4 bộ. Mỗi bộ quần áo Chăm được qui định theo trang phục đàn
ông và đàn bà. Một bộ trang phục đàn bà bao gồm: khăn đắp màu
âm và khăn đắp màu dương: loại khăn khác mang màu âm và khăn đắp
mang màu dương, khăn đội, áo dài Chăm, áo sah kamay; váy, khăn
mặc có may cạp váy biyon: dây quấn người chết. Còn bộ trang
phục cho đàn ông khi chết là áo sah likey: váy, chăn mặc là
loại chăn “khan bar jih” hoặc “khan marang”; khăn đội đầu người
chết đàn ông là khăn có may cạp vải đính tua đỏ hoặc loại khăn
thường, dây thắt lưng và dây quấn người chết.
Trang phục trong ngày cưới: Trong ngày cưới kể cả cô dâu chú rể
đều mặc trang phục truyền thống trong nghi lễ. Nữ mặc áo dài,
mặc váy đội khăn. Nam cũng vậy, mặc váy áo lah đàn ông, đội
khăn che mặt. Áo váy cưới có dệt hoa văn đẹp. Áo cưới có
nhiều màu khác nhau như trắng, xanh, đỏ, vàng... nhưng trong nghi
lễ phải mặc áo trắng. Trong ngày cưới, cô dâu chú rể đeo nhiều
đồ trang sức như nhẫn, vòng tay, xâu chuỗi.
Trang phục trong ngày hội: So như ngày cưới, trong ngày hội thì
trang phục Chăm đa dạng và lộng lẫy hơn. Ngoài trang phục chức
sắc, tu sĩ tín ngưỡng, tôn giáo với màu áo trắng khăn đỏ
truyền thống không được thay đổi thì các chàng trai, cô gái Chăm
lại mặc áo truyền thống với nhiều màu sặc sỡ, tinh nguyên
(màu trắng, đỏ, xanh, vàng...) Trong ngày hội để tăng thêm nét
đẹp cho bộ đồ truyền thống của mình, những thiếu nữ Chăm
ngoài đeo hoa tai có đính tua vải màu đỏ, đeo nhiều còng tay,
nhẫn vàng, họ còn choàng lên vai, vắt chéo qua ngang ngực và
lưng một dãi băng ngang, trên đó có dệt hoa văn đẹp mắt góp
phần tăng thêm vẻ đẹp độc đáo của áo dài Chăm. Ngày hội chính
nơi hội tụ, là dịp để cho người Chăm phô ra tất cả những kiểu
dáng và màu sắc của trang phục. Trang phục Chăm đến lượt mình
cùng với nghệ thuật khác góp phần tô thêm cho ngày hội Chăm
một sắc màu độc đáo, có bản sắc riêng.
Tóm lại: Ngày nay trang phục Chăm có nhiều biến
đổi, trang phục truyền thống của vua chúa Chăm, giai cấp quí
tộc đã biến mất, chỉ còn một số ít được sử dụng trong các
lễ tục cúng tế nhưng nó đã lai căng nhiều kiểu trang phục của
vua chúa phong kiến Trung Hoa và Việt Nam. Ngày nay trang phục
truyền thống của người Chăm chỉ còn sử dụng ở các cụ già và
các vị chức sắc tôn giáo, tín ngưỡng. Trang phục giới trẻ
người Chăm hiện nay đang hướng dần ảnh hưởng trang phục phương
Tây. Thanh niên Chăm thường mặc quần tây, áo sơ mi: ngoài phần
lớn phụ nữ Chăm còn giữ được trang phục truyền thống còn lại
một số phụ nữ trẻ Chăm đã bắt đầu thay dần cái váy bằng cái
quần tây, quần jean và áo sơ mi. Họ chỉ sử dụng trang phục
truyền thống trong các dịp lễ hội.
Trang phục truyền thống Chăm đa dạng trong sắc thái biểu hiện.
Nó đã trãi qua nhiều thời đại lịch sử khác nhau, cùng ảnh
hưởng nhiều yếu tố văn hoá khác nhau. Cho đến nay, mặc dù có
nhiều sự biến đổi, lai căng và có nhiều sự tác động, ảnh
hưởng từ yếu tố bên ngoài nhưng trang phục Chăm vẫn còn lưu giữ
một phong cách riêng, phong cách ấy đã góp phần quan trọng hình
thành nên bản sắc văn hoá Chăm mà không lẫn lộn được với các
dân tộc khác.
Đặc trưng của trang phục Chăm:
Trang phục Chăm rất phong phú đa dạng, mà ở đây không thể giới
thiệu một cách đầy đủ. Tuy nhiên, qua một vài trang phục tiêu
biểu của người Chăm đã trình bày trên cho thấy, trang phục Chăm
phong phú về kiểu dáng, hoa văn, màu sắc. Trang phục Chăm mang
những đặc trưng như sau:
Trang phục Chăm chủ yếu là dùng chất liệu sẳn có trong thiên
nhiên như bông, tơ tằm... dùng để dệt vải hầu như không dùng
nguyên liệu từ da, lông của súc vật. Những nguyên liệu vừa sẳn
có vừa nhẹ, mỏng mặc thoáng. Phù hợp với khí hậu nóng ẩm ở
miền Trung Việt Nam. Trong cách may cắt quần áo, thường là may
áo xẻ ngực, không có cổ, váy áo may rộng, không bó sát người.
Về loại hình y phục, các kiểu may, mặc của người Chăm cũng
theo lối quấn, choàng là phổ biến hơn cả. Đó là cái váy
mảnh, sà rông, tấm choàng, tấm trùm... thực chất đó là những
mảnh vải có kích thước khác nhau, khi mặc có chung một cách
là choàng, quấn quanh cơ thể, kể cả áo dài Chăm thực chất
cũng là tấm vải may quay tròn thành hình ống bao quanh cơ thể
con người. Kỷ thuật may mặc này không chỉ riêng có ở người Chăm
mà nó còn phổ biến ở các cư dân ở vùng phía Nam Trường Sơn
Tây Nguyên nước ta và mang cả đặc trưng chung của loại hình cư
dân nông nghiệp làm nghề trồng trọt trong vùng nhiệt đới gió
mùa Châu Á.
Đặc trưng trang phục truyền thống Chăm mà chúng ta dễ nhận thấy
nhất là loại áo bít tà, kéo dài quá đầu gối, khoét cổ
tròn, hình trái tim, được lắp ghép bằng nhiều mảnh vải mang
nhiều màu sắc khác nhau. Do có đặc điểm như vậy nên người Chăm
gọi áo dài truyền thống của họ là “Kuak kuang” (áo may ghép
nhiều mảnh vải), hay “Aw dwa boong” (áo may ghép hai mảnh vải
nhỏ ở eo hông) hoặc gọi là “Aw loah” (áo 3 lỗ mặc chui đầu).
Loại áo này của người Chăm vừa có nét riêng, vừa có nét chung
gần gũi với áo dài truyền thống của cư dân Nam Đảo như Êđê,
Churu, Jarai, Raglai và các dân tộc người Mã Lai... mà các nhà
nghiên cứu thường gọi chung kiểu áo này là áo “Phôncho”.
Đặc trưng của trang phục Chăm là không trang trí hoa văn trên nền
vải áo. Hoa văn trên trang phục Chăm chủ yếu là được trang trí
từng mảnh vải rồi may ghép vào các bộ phận của trang phục như
loại cạp váy, dây thắt lưng. Loại này dùng để may dính vào
cạp váy, vào khăn trùm đầu, khăn mặt, chỉ có váy phụ nữ Chăm,
hoa văn được trang trí cả trên cạp váy và trên nền vải. Hoa văn
trên trang phục Chăm chủ yếu là hoa văn quả trám, hột đậu ván,
hạt lúa nổ, mắt gà, hoa văn neo thuyền, hoa văn mắc lưới, hoa
văn nưgarit, Makala...
Trang phục Chăm có màu sắc phong phú. Trong trang trí người Chăm
không pha trộn bất cứ màu nào khác với nhau nhưng họ có nghệ
thuật phối màu riêng trên nền vải. Vì vậy màu thổ cẩm, cũng
như màu trang phục Chăm, mặc dù sử dụng màu nguyên nhưng không
chói chang như các màu áo dân tộc Tây Nguyên và một số dân tộc
phía bắc nước ta, màu sắc Chăm vừa hài hoà, vừa sâu lắng.
Trang phục Chăm, chủ yếu là áo mặc thường ngày cũng như trong
lễ hội họ thường mặc áo với gam màu nóng như màu đỏ, xanh,
vàng... Còn trang phục của các chức sắc tôn giáo, thầy cúng,
các cụ già thường là mặc áo trắng. Màu trắng còn tham gia
vào trong tang lễ, kể cả trang phục người bị tang và đồ liệm
cho người chết đều có mặc màu trắng. Nếu so sánh với màu
khác tỉ lệ sử dụng trang phục màu trắng của người Chăm trong
tôn giáo, tín ngưỡng, nghi lễ hội hè, đám tang... có yếu tố
trội hơn. Điều đó cho thấy người Chăm là dân tộc thuộc ngữ hệ
Malayo-polinesien có nguồn gốc từ biển cả “màu trắng” nền
trắng lại liên quan đến biển, trong chừng mực con người sống ở
đấy phải đối phó, trong lao động hằng ngày, với nắng gắt trên
cát, và khi cần thiết phải lẫn vào nền sáng của cát và sóng
biển.
Màu sắc của trang phục Chăm, ngoài mục đích trang trí để diễn
đạt cái đẹp của thiên nhiên, con người, thì màu sắc trên trang
phục của người Chăm còn thể hiện tính phồn thực. Sự phồn
thực ấy chính là hai mảng màu đối lập, trái ngược nhau giữa
màu lạnh và màu nóng.
Trang phục Chăm không chỉ có nhu cầu để cho đẹp mà nó gắn liền
với tín ngưỡng, những điều kiêng cữ và cấm kỵ. Ngoài việc
cúng tổ vị tổ sư nghề dệt vải người Chăm còn có một số kiêng
kỵ trong nghề dệt vải may mặc. Khi dệt “taley ssang”(dây buột
liệm người chết), thì kiêng kỵ người đàn bà có kinh hoặc đang
trong tuổi sinh đẻ không được dệt mà chỉ có thiếu nữ và phụ
nữ lớn tuổi qua thời kỳ kinh nguyệt mới được dệt. Họ quan
niệm chỉ có phụ nữ như vậy thì mới được tinh khiết, không ô
uế, đem lại sự bình yên thanh thản cho người chết được siêu
thoát nơi chốn thiên đường. Khi dệt các hoa văn phục vụ các
chức sắc, tôn giáo như dalah bingun trun (hoa văn rồng cách điệu),
talay ka in mankăm (dây lưng có dệt hoa văn nổi hai mặt) thì cũng
kiêng cữ như trên. Riêng áo của các chức sắc kiêng kỵ không cho
người thường chạm tay vào hoặc may cắt, chỉ có các chức sắc,
tu sĩ và chính vợ ông ấy tự may cắt. Người Chăm có phong tục
là thường may sẳn các loại quần áo chuẩn bị cho người chết
để sẳn trong nhà. Loại trang phục này có nhiều kiêng cữ, không
phải ngày nào cũng lấy ra được mà chỉ được lấy ra khỏi nhà
vào ngày thứ bảy, hoặc trong gia đình có dịp cúng lễ. Nếu
lấy ra tuỳ tiện không đúng ngày lành tháng tốt đó là dấu
hiệu báo điềm xấu, trong gia đình sẽ có người chết hoặc của
cải trong nhà sẽ ra đi.
Ngoài y phục, phải kể đến trang sức Chăm. Hầu hết các di chỉ
nằm trên địa bàn cư trú người Chăm như văn hoá Sa Huỳnh đều tìm
thấy nhiều đồ trang sức mà phổ biến là khuyên tai, xâu chuỗi,
còng tay và nhẫn... Ngày nay một số đồ trang sức ấy đã biến
mất, một số còn lại không khác xa mấy nhưng đơn giản hơn. Người
Chăm ngày nay vẫn còn thích đeo khuyên tai có đính tua vải màu
đỏ, cổ đeo xâu chuỗi, còng tay và ngón tay đeo nhẫn, đặc biệt
là chiếc nhẫn Mưta đã trở thành biểu tượng mang đặc trưng riêng
của cộng đồng, phản ánh linh hồn và bản sắc của dân tộc Chăm.
Như vậy, trang sức người Chăm hiện nay tuy đơn giản nhưng cùng
với y phục, đến lượt mình trang sức góp phần đáng kể trong
việc hình thành trang phục Chăm phong phú đa dạng.
Là dạng thức văn hoá vật chất, trang phục Chăm không chỉ là
đáp ứng nhu cầu che thân, mặc đẹp và biểu hiện cảm xúc thẩm
mỹ, mà trang phục Chăm còn chứa đựng nhiều yếu tố văn hoá tinh
thần và văn hoá xã hội. Thông qua trang phục của người Chăm, có
thể phân biệt tầng lớp xã hội, đẳng cấp của các chức sắc tôn
giáo, phân biệt người giàu sang, kẻ nghèo hèn, đàn ông và đàn
bà. Chẳng hạn, chức sắc tu sĩ mới được mặc váy, trùm khăn
bằng loại hoa văn hình rồng và buộc dây lưng có dệt hoa văn hai
mặt, còn tu sĩ bình thường chỉ mặc váy, khăn không dệt hoa văn.
Đàn ông quí tộc thì mặc khăn, dây lưng, khăn trùm đầu có dệt
hoa văn hình quả trám, chân chó, đeo nhẫn vàng... Còn đàn ông
bình dân chỉ mặc váy bình thường, vắt khăn chéo không trang trí
hoa văn, đeo nhẫn bằng đồng. Phụ nữ quí tộc mặc váy dệt hoa
văn hình rồng cách điệu, váy của họ có dệt những sợi chỉ tơ
và thêu những sợi chỉ bằng vàng. Còn phụ nữ bình thường thì
mặc váy có hoa văn dây leo, đeo đồ trang sức bằng đồng... Các
loại hoa văn và cách thức thể hiện hoa văn trên trang phục của
người Chăm đều theo qui tắc nhất định, thể hiện đựợc thẩm mỹ,
phong tục tập quán, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo trong xã
hội Chăm.
Không chỉ dừng lại ở đó, trang phục Chăm còn hàm chứa trong đó
một số nội dung, giá trị phong phú. Nội dung ấy, ghi nhiều dấu
ấn văn hoá trên nhiều bình diện khác nhau. Đó là dấu ấn của
người Chăm-chủ nhân của nền văn hoá sinh sống ở dãy đất miền
Trung có khí hậu nóng, ẩm, với địa hình môi sinh giữa núi,
đồng bằng, biển cả. Qua trang phục, từ cách may mặc, cho đến
hoa văn là một bộ phận cấu thành, mang tín hiệu đặc trưng của
trang phục cho thấy, người Chăm sinh sống bằng nghề trồng lúa
nước được biểu hiện bằng những hoa văn trên trang phục như hoa
văn quả trám, hoa văn hạt lúa, hoa văn hình dích dắt, răng cưa
tượng trưng cho núi, cho sông nước và nghề đi biển như trang phục
màu trắng có hoa văn mỏ neo, hoa văn mắc lưới. Họ là cư dân nông
nghiệp với tín ngưỡng đa thần, thờ thần mặt trời (hoa văn 8
cánh trên trang phục, chiếc nhẫn Mưta là hình mặt trời), thần
núi, thần sông. Hoa văn trên trang phục còn in dấu ấn chủ nhân
của nền văn hoá này theo tôn giáo Bàlamôn thờ những con vật
linh như các loại chim thần Garuđa, Makala có nguồn gốc Ấn Độ.
Chủ nhân của nền văn hoá này không những đã sớm bước vào một
xã hội phân chia giai cấp (qua các trang phục của các tầng lớp
bình dân, quí tộc, vua chúa) mà đã sớm hình thành một đất
nước.
Nói chung trang phục Chăm phong phú về kiểu dáng và đa dạng về
sắc thái biểu hiện. Nó không chỉ đáp ứng được nhu cầu thiết
yếu của con người (ăn, mặc,ở...), thể hiện được thẩm mỹ, phong
tục tập quán, giới tính, giai cấp, tín ngưỡng, tôn giáo trong
xã hội Chăm mà nó còn in dấu ấn văn hoá, phản ánh đầy đủ về
sắc thái, diện mạo một nền văn hoá Chăm. Trang phục Chăm chính
là kho tàng tư liệu phong phú, kho tàng ấy không chỉ dừng lại
ở giá trị vật chất đơn thuần mà nó còn mang một giá trị văn
hoá, lịch sử, nghệ thuật... của người Chăm-một dân tộc đã có
một thời phát triển rực rỡ ở khu vực Đông Nam Á.
(Tác giả: Văn Món - Sakaya) |