|
Rija là một hệ thống lễ múa của người Chăm
bao gồm lễ Rija Nưgar (lễ hội múa tống ôn đầu năm), lễ Rija harei (lễ
hội múa ban ngày), lễ Rija dayaup (lễ hội múa ban đêm) và lễ Rija Pruang
(lễ hội múa lớn). Trong 4 loại lễ hội múa Rija vừa nêu trên, ngoài lễ
hội múa Rija Nưgar là lễ nghi liên quan đến cộng đồng làng Palei, c̣n
các lễ khác chỉ là lễ múa trong phạm vi tộc họ và gia đ́nh. |

Vũ điệu Siva
|
I. Lễ Rija Nưgar (Lễ hội múa tống ôn đầu năm):
Thời gian mở lễ Rija Nưgar:
Đầu năm khi nghe tiếng sấm rền vang ở phía đông, phía tây là báo hiệu
một năm mới người Chăm sắp đến. Người Chăm bắt đầu tổ chức lễ hội đầu
năm Rija Nưgar để tống khứ những điều xấu xa, xui xẻo, để năm mới đón
nhận những điều tốt lành cho dân làng và đón nước, cầu mưa, chuẩn bị mở
đầu cho việc khai trương, cầy cấy. Người Chăm có thành ngữ:
Khi nghe tiếng sấm hướng đông - tây
Nhân dân hớn hở mới ḥng yên tâm
(Bilan than úk thanh ôn
Hamik grum mưnhi gah pur, pai)
Từ tiếng sấm đầu năm đó, người Chăm bắt đầu cắm mốc thời gian cho năm
mới, cho lịch pháp. Đó cũng là ngày hội mở đầu năm - mồng một tháng
giêng lịch Chăm. Kể từ mồng một cho đến hết thượng tuần trăng tháng
giêng là thời gian mở hội lễ Rija Nưgar. Khắp nơi làng Chăm đều tổ chức
lễ hội Rija Nưgar. Đối với làng Chăm Ahiêr thường tổ chức lễ hội Rija
Nưgar vào ngày thứ tư, thứ năm và Chăm Awal th́ ngày thứ năm, thứ sáu
trong tuần và bắt đầu bằng các ngày lẻ (1, 3, 5, 7) trong tháng giêng.
Diễn biến lễ hội Rija Nưgar:
|

Múa đạp lửa dầu năm - Rija Nưgar
|
Lễ hội Rija Nưgar được diễn trong một nhà lễ (kajang) ở một băi đất
trống đầu thôn. Nhà lễ (kajang) có 2 mái, được kết cấu bằng 2 v́
kèo, mái lợp bằng tấm nhựa (ngày xưa lợp bằng tranh), diện tích
khoảng (8m x 5m). Xung quanh được che chắn bằng những tấm liếp tre
và chỉ mở một hướng ra vào về hướng đông - hướng thần linh.
|
Ở trần nhà lễ Rija Nưgar,
trong ngày cúng thứ nhất treo một tấm vải trắng h́nh chữ nhật (1,5m x
1m) gọi là “Lâm tinh” - tượng trưng cho vũ trụ. Bên dưới đối diện với
tấm vải là vật lễ “Mưron” - cũng là một tấm vải trắng được cột hai cây
gỗ. Và ba cây cột ở đầu nhà lễ đều bao vải trắng. Cách trang trí nhà
tương tự như trong không gian thánh đường Hồi giáo - Bàni. Do vậy, ngày
đầu cúng lễ Rija Nưgar là cúng cho “thần mới” (yang brou) như các vị
thần Alla, mohamach…; đến ngày hôm sau cúng “thần cũ” (yang bimon - yang
aklak) như thần Po Inư Nưgar, Po klaung… Tục này c̣n lưu giữ một cách rơ
nét trong tục cúng lễ hội Rija Nưgar ở thôn Bĩnh Nghĩa (Ninh Hải - Ninh
Thuận).
Lễ Rija Nưgar được tổ chức trong hai ngày “một ngày vào và một ngày ra”
(vào ngày thứ năm ra ngày thứ sáu - tamư di jip tabiak di suk). Hoặc họ
gọi theo cách gọi cúng lễ vật “Ngày vào cúng Gà và ngày ra cúng Dê”
(tamư mưnuk tabiak pape). Họ c̣n gọi theo cách cúng lễ vị thần “tamư Po
birâu tabiak Po aklak” (Ngày vào cúng thần mới - thần Hồi giáo và ngày
ra cúng thần cũ - thần Bàlamôn).
Lễ vật dâng cúng, ngoài gà, dê c̣n có 5 mâm cơm, canh, bánh trái (chuối,
bánh ngọt), trầu cau, rượu trứng… Ngoài ra trên bàn lễ c̣n có vật lễ
quan trọng là lửa - nước. Lễ vật cũng được người Chăm chia làm hai phần
âm và dương mà họ thường gọi nôm na theo tên lễ vật chính là “ngày vào
buổi chiều - cúng con gà (thuộc âm) và ngày ra buổi sáng - kết thúc lễ
là cúng con dê (thuộc dương)”.
Thầy cúng lễ Rija Nưgar gồm có:
- Thầy Ka in (thầy bóng) mặc áo đỏ múa lễ, đạp lửa, lên đồng phản ánh
nguyện vọng của cộng đồng lên thần linh và ngược lại.
- 03 thầy Mưduôn mặc áo trắng vỗ trống Basanưng hát thánh ca của các vị
thần (01 thầy hát chính 02 thầy phụ lễ).
- 02 nghệ nhân đánh trống Basanưng.
- 01 nghệ nhân thổi kèn Saranai.
Và cùng nhiều thầy cúng lễ và dân làng phụ lễ.
Nhạc cụ bao gồm: 01 cặp trống Ginăng, 01 trống Basanưng và 01 kèn
Saranai.
Đạo cụ múa bao gồm: 01 cây chèo, 01 cây mía đỏ (tượng trưng cho mái chèo
thuyền); 01 cây quạt, khăn, và 01 cây roi ngựa. Tất cả đạo cụ, ngoài
khăn và quạt được thầy Ka in (thầy bóng) cầm tay c̣n lại là để tại bàn
tổ (danok). Tại bàn tổ nơi để vật lễ và đạo cụ múa c̣n có một cán ŕu
(công cụ lao động).
Hệ thống thần linh trong lễ Rija Nưgar: Người Chăm có tục thờ đa
thần. Tất cả làng Chăm đều có hệ thống thần linh chung. Nhưng quan trọng
là làng nào cúng lễ th́ thần làng của làng đó được mời cúng lễ đầu tiên
trong hệ thống thần linh chung ấy. Hệ thống thần linh trong lễ Rija
Nưgar Chăm bao gồm các vị thần như sau Po Tang, Po Tang Ahok (thần chèo
thuyền), Po Gialau (thần rừng trầm, rừng quế), Cey thun, Cey Dalim
(Chàng Lựu), Cey Hanim Par, Cey Sit, Cey Pruang (hai hoàng tử), Po Garai
phauk, Po Dam (Chàng trai trẻ), Po Riya (thần sóng biển), Nữ thần Po
Nưgar (thần mẹ xứ sở), Po Klaung Garai (vua Chăm), Po Rame (vua Chăm),
Po patau Bin Thôr, Po Sah Inư, Po Nai, Nai Bia Sôi, Bia Kôn, Bia Nưn,
Bia Than Can, Bia Than Cih (Hoàng Hậu)… Ngoài các vị thần trên là các vị
thần anh hùng văn hoá, anh hùng dân tộc trong lễ Rija Nưgar c̣n cúng các
vị thần đất (Po bhùm), thần sông, thần nước (Patau ia), thần mặt trời
(Aditiak), thần núi (Po cơk), thần biển (Yang tasik), thần lúa (Po yang
sri)…
Hành lễ lễ Rija Nưgar: Lễ Rija Nưgar do thầy Mưduôn (thầy vỗ) làm
chủ lễ, vỗ trống Basanưng rót rượu lần lượt mời các vị thần và hát bài
thánh ca. Thầy Ka in (thầy bóng) dâng lễ vật và múa phụ hoạ theo nhịp
trống Basanưng, trống Ginăng, kèn Saranai. Mỗi vị thần được mời về dự
th́ thầy Ka in (thầy bóng) có một điệu múa riêng, có một sắc phục và đạo
cụ riêng. Hầu hết những bài thánh ca của các vị thần đều được rút ra từ
những huyền thoại, sự tích, truyền thuyết, tiểu sử (Damnưi) của các vị
vua (Po), hoàng hậu (Bia), tướng lĩnh (Cey)… Nhưng trong lúc hành lễ tùy
theo thời gian, tâm trạng, tính cách, công lao của các vị thần mà Mưduôn
(thầy vỗ trống), hoặc Kadhar (thầy kéo đàn Rabap) xướng lên nhiều hay
ít. Theo nguyên bản, mỗi ca khúc rất dài, có từ 60-100 câu thơ. Tất cả
những lời ca này được các nghệ nhân thuộc ḷng và được ghi lại thành văn
bản chữ Chăm c̣n lưu truyền trong dân gian hiện nay. Chẳng hạn, khi hát
mở đầu lễ Rija Nưgar th́ thầy Mưduôn vỗ trống Basanưng hát mời vị thần
Po Tang về dự lễ theo đoạn thơ như sau:
- Hát mời thần Po Tang:
Chúng con xông lửa đốt trầm hương
Kính cẩn, quỳ lạy mời thần Po Tang
Nghe chúng con cất tiếng mời
Ngài đến nước rửa chân, ngồi tại bàn tổ
Xin ngài hưởng lễ vật,
Phù hộ độ tŕ chúng con
…
(Galau cuh pahuơl yak ia,
Klaung khôi da a yang Po Tang
Pok sap da a Po mai,
Ia rau takay dơh dang di danok
Kanư Po Palieng suk siam kajap,
Likau kanư kajap bih drey yang Po Tang…)
- Hát về Po Riyak (thần sóng biển):
Ngài Po Rijak quê ở Tánh Linh,
Người mẹ vĩ đại đă sinh ra ngài.
Ngài thông minh từ thuở bé,
Đạo dức tuyệt vời toả sáng khắp nơi.
Lớn lên quên cả việc nhà,
Đi khắp dân gian t́m học bùa phép
(Po Rijak bhum Bicam ia radak,
Mưda Inư sơh tabiak hu Po
Jak rak mưtuon lo,
Tal pruang oh jương thau ka kruk sang
Nau duah mưkru tanau rim harey,
Pieh daung palei Nưgar)
…
- Hát về thần Po Tang ahuak (thần chèo thuyền):
Thầy Mưduôn vỗ trống hát về sự tích thần chèo thuyền, bài hát
có đoạn:
Đứng giữa biển khơi là Po Tang ahuak
Bọt sóng tuôn trắng ngần
Như đoàn quân Po Tang ahuak
Bọt sóng lên trứng phau
Như đoàn quân Po tang Ahauk
(Di dalam tasik Po Tang ahauk
Riyak pauh athak patih bhong
Bwơl Po Tang ahauk
Riyak puah patih chai lauw)
…
- Hát về thần Cey Sít:
Đi La Mecque về làng,
Đất Ma Lâm ngồi chưa nóng chỗ
Đất Phan Rí chê tệ,
Sít qua Cà Ná chẳng ghé qua.
…
Người làm thuyền qua biển.
Bè gỗ Sít vị theo thần sóng.
(Sit nau Mưkah wơk mưng rai,
bhum di pajai ôh dauk liwik
Palei bhum Rarik lac jak,
Bhum di Chanak ôh wek tamư
Urang ngak gilai urang dik,
Gilai bhak di rakituan Po Riyak.)
…
- Hát về thần Cey Tathun, th́ Mưduôn
vỗ trống hát cuồng nhiệt, ca ngợi tính oai phong lẫm liệt của thần. Bài
hát về Cey Tathun có đoạn:
Thần tự hoá thân đến,
Ḷng mong muốn đi dạo chơi
Thầy Cey thun chạy ngựa vang dậy non sông,
tướng mạo đẹp trai, khôi ngô tuấn tú
Mũ đội đầu, tay cầm roi,
Ống điếu bằng ngà thần mang theo cùng
(Cey thrơh di trey cey mai…,
cuang di hatai nau duah mư in
Urang nau mưin gay ba,
Cey kau mưng rai sa bek havey
Duon tuak havey cey ba,
Gai đin bila cey ba thu bik…)
- Hát về Cey Dalim:
Ta trồi lên mặt nước,
Miệng ngậm cây mác đạp cá sâu dưới chân
Êđê thấy linh gọi ông,
Xây tháp thần cho dân cúng thờ
Êđê dựng rạp rải cát,
Dâng trâu đực làm lễ Rija Harei.
…
(Nan mưng kau blang di ia
Yak di paya bat di pabah
Rađaiy boh ginrơh ieu on,
Ngak jương Bimôn pok khwoi limah
Rađaiy ngak kajang tuh cwah,
Kabaw tanauw limah ngak Rija Harei).
- Hát về thần Po Hanim Par:
Khen Po Hanim Par thật tài,
chọn đất đai Patau kumey
Khéo thay Alla ban cho ngài,
rời bỏ Palei Po đi chiến đấu
(Mưyom Po hanim par biak girơh,
Po crauk di po siam đay,
Po klak palei nau ngak nưgar…)
Lúc thầy Mưduôn hát th́ thầy Ka in cầm roi ngựa múa nhảy theo nhịp trống
và tiếng reo ḥ của người dự lễ. Thầy Ka in (thầy bóng) ngây ngất trong
điệu múa và nhập đồng. Đến lúc thăng hoa thầy Kain (thầy bóng) cầm roi
ngựa múa, nhảy phi vào đạp tắt đống lửa đang rực cháy trước rạp lễ trong
tiếng ḥ reo của mọi người. Năm nào thầy bóng lên đồng dập tắt đống lửa
th́ năm đó dân tin rằng mưa thuận gió hoà. V́ lửa tượng trưng cho nắng
nóng, khô hạn. Dập tắt đống lửa trong lễ hội Rija Nưgar là tiễn đưa được
cái khô hạn, nắng nóng ra đi và đem lại khí trời mát mẻ, mưa thuận gió
hoà cho dân làng cày cấy.
- Hát về Po Klaung Giarai, Po Rame,
thầy Mưduôn vỗ trống Basanưng hát bài thánh ca kể về các vị vua đă có
công dạy dân làm thủy lợi, đắp đập, ngăn sông, xây dựng đền tháp như
sau:
Chúng con là thường dân bé nhỏ,
Xin qú lạy mời vị thần Po Rame
Cất tiếng mời ngài đến,
nước rửa chân ngồi tại bàn tổ
Ngài lên trời thủ phép màu,
Ngài Po Rame thật tài
Ngài đắp đập ngăn sông,
chất đá lên núi làm đền
…
(Akok klaung anưk dun ya,
klaung khôi da a yang Po Rame
Po sap da a Po mai,
Ia rao takay dơh tal danok
Po nau hôr lon ar,
Ginơk Po par yang Po Rame
Po ngak kanon ragar kraung,
Po kăn kanon cơk dak kalan…)
- Đền thần Po Nai thầy Mưduôn hát về sự tích Nữ
thần:
Nàng bỏ nhà đi tu ở núi cao rừng rậm,
Nàng đi tu không ai biết
Chỉ v́ hổ thẹn bà đi tu,
Đường vào thung lũng rẽ hai
Nàng đi tu ai bày,
Chính Po Thun Garai bày Nàng đi tu
Nai nau tapah they thau,
Sa buah mưlau nai nau tapah
Nai nau tapah they brai,
Po thun Garai biai nai nau tapah
Lúc này thầy Ka in (thầy bóng) đóng vai nữ, là hiện thân của Po Nai mặc
áo bông đỏ, đầu đội khăn màu trắng, tay cầm khay trầu trên đó có bông
điệp và trái cây múa theo nhịp trống lễ. Thường đến lúc cúng vị thần Po
Nai th́ thầy bóng Ka in lên đồng phản ảnh nguyện vọng cộng đồng lên thần
linh và ngược lại. Ở lễ Rija Nưgar làng Vĩnh Thuận (Ninh Phước – Ninh
Thuận) thầy bóng (Kain) nhập đồng trong trạng thái người ngây ngất, toàn
thân người thầy bóng run lên. Dân làng lúc này ai cũng van vái, hồi hộp,
chờ đợi lời thầy phán xét. Một hồi sau thầy bóng phán: “Tôi (Nữ thần Po
Nai) đă đi xa bao năm nay mới về tẩy uế vệ sinh làng palei th́ thần mới
thường xuyên ghé phù hộ độ tŕ và cho mưa thuận gió hoà”. Trong lúc thầy
bóng đang phán xét th́ dân làng vừa lắng nghe, vừa cầu xin thần linh
đừng nổi giận, vui ḷng hưởng lễ vật lễ Rija mà cho mưa sớm cho dân làng
cày cấy. Trong lời khấn vái của dân làng, của thầy lễ luôn có lời khấn
cầu nước. Đây là chủ đề mà họ quan tâm nhất trong suốt lễ hội múa Rija
Nưgar.
Sau trạng thái lên đồng của Po Nai th́ họ tiếp tục hát mời và tiểu sử
các vị thần linh khác Po Sah Inư, Bia kon, Bia soi, Bia nưn, Bia Than
Can, Than Cih… Cuối cùng th́ họ cúng các vị thần đất, thần sông, các
người đă khuất mà đă có công khai khẩn, tiền hiền trong làng rồi kết
thúc lễ ngày đầu (ngày thứ nhất) của Rija Nưgar vào buổi chiều bằng lễ
cúng cơm (Pathan pabah). Đây chỉ mới kết thúc một nửa - phần đầu (phần
âm) của lễ Rija Nưgar.
Tiếp tục lễ Rija Nưgar là phần nửa c̣n lại được tiếp tục vào sáng ngày
mai – cúng dê - thuộc về dương. Nội dung phần lễ cúng này tương tự như
lễ ngày đầu, chỉ khác là lễ ngày ra (ngày thứ hai) có tiễn đưa “h́nh
nhân thế mạng” (Salih). H́nh nhân thế mạng được làm bằng bột gạo sống
bao gồm: 04 h́nh người (2 đàn ông, 2 đàn bà) và h́nh trâu ḅ, heo,
rắn…đặt trên một cái tra đan bằng tre. Lễ nặn “h́nh người” (Salih) do
thầy Mưduôn (thầy vỗ trống) và thầy Ka in (thầy bóng) thực hiện. Thầy Ka
in ngồi ở bàn tổ tay cầm bột gạo sống vừa nặn h́nh người, động vật,
miệng vừa khấn vái. Lúc này th́ thầy Mưduôn vừa vỗ trống Basanưng, vừa
hát về bài kinh lễ ca ngợi Nữ thần Po Inư Nưgar, Po Sah Inư “có công
trong việc tạo ra trời đất, con người, vật nuôi cây trồng/ dạy con người
biết cày cuốc, biết dệt biết thêu, / cho cây cối tốt tươi, con người
sinh sôi nảy nở …” (Mưng pajương tanưh pajương kau/ mưng jương Po Sah
Inư/ Po trun rai, lâm linh, mưng nguak/gan patoh mưng ala). Sau khi nặn
h́nh người, thú xong, th́ họ lại tiếp tục múa hát, cúng các vị thần linh
như ngày đầu.
Cuối cùng là lễ tiễn đưa h́nh nhân (salih). H́nh nhân này chính là
“Salih” (thay thế, hoán đổi) cho dân làng, cho con người mang đi những
xấu xa, xui xẻo, nắng nóng, khô hạn của năm cũ và năm mới dân làng sẽ
đón nhận được mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu. Nghi thức lễ tiễn đưa
“h́nh nhân thế mạng” này (Palau Salih) được diễn ra tại một ngă ba đường
làng (có làng tiễn xuống ḍng sông). Trước khi tiễn xưa “h́nh nhân thế
mạng”, thầy Mưduôn bài kinh lễ tiễn đưa như sau:
“Hỡi chúng sinh có mặt trên cái tra này
Chúng mày có hai đàn ông hai đàn bà
Đàn ông biết cày, biết cuốc
Đàn bà biết dệt, biết thêu
Chúng mày phải đi thay thế cho dân làng
Mang đi ốm đau, bệnh tật, mất mùa, nắng nóng ra đi
Cho dân làng khoẻ mạnh b́nh yên
Hỡi chúng mày Salih!
Chúng mày phải đi tâu với thần yang
Nếu chúng mày, không nói trung thực
Th́ con Ó và Đại bàng sẽ hành huyết chúng bay
Mày hăy nói những lời dân làng căn dặn.
(Salih lơi! Salih!
Hư dwa likey dwa kamey
Likey thau juang thâu amra
Kamey thau munhim thau lawey
Hư nau ka anưk adam duak wơk
Joi padik akauk bok tian joi
Anưk adam suk sak tal taha)
(Salih lơi! Salih!
Hư joi dom plơh dom plan joi
Hư dom plơk grơk băng hư
Hư dom jhak ak hư
Hư dom yau kau takey).
Khi “h́nh nhân thế mạng” được dân làng tiễn đến ngă ba đường làng (hoặc
thả trôi sông) th́ lễ Rija Nưgar kết thúc. Tất cả dân làng đều tin rằng
cái tra “h́nh nhân thế mạng” sẽ thay thế cho ḿnh mang đi những bệnh
tật, mất mùa năm cũ và đem lại cho họ sức khoẻ, b́nh an, mưa thuận gió
hoà mùa màng bội thu.
Lễ Rija Nưgar, ngoài lễ nghi chung có tính chất bắt buộc nêu trên th́
một số làng Chăm c̣n có một số tiểu kiết lễ khác nhau. Chẳng hạn ở làng
Chăm Bĩnh Nghĩa làm lễ Rija Nưgar có thêm tục hát đối đáp (dauh sa) và
múa phồn thực (tamia klai kluc). Chúng tôi xin tŕnh bày ra đây để bạn
đọc tham khảo.
Hát đối đáp và múa phồn thực được diễn ra trước nhà lễ Rija Nưgar trong
ngày thứ hai của lễ. Hát đối đáp do một nhóm Nam và một nhóm Nữ thực
hiện. Hát về chủ đề thần mẹ xứ sở Po Inư Nưgar Hamu Kut th́ họ hát như
sau:
Hát về vị Thần mẹ xứ sở Po Inư Nưgar:
- Nam hát: C̣ bay trong buổi sáng tinh mơ,
C̣ bay c̣ đậu trên đồng phù sa
- Nữ hát: C̣ bay trong đêm tối mịt mù,
C̣ bay c̣ đậu trên đồng lúa xanh
(Sa bok kuak par mưng page,
lek di hamu ak
Sa bok kauk mưng klam,
Klek di dam hamu tanưh)
Hát về thần Po Bin Thuôr:
- Nam hát: Đi mài rựa mài búa,
Lên rừng núi chặt cây
- Nữ hát: Đi chặt gỗ ba cành,
Lấy thân làm ván anh nằm,
Hai canh c̣n lại,
dựng cột nhà cho em
(Thak juang drey ka luah,
Tagok cơk nau luak kayau.
Nau luak kayau klau dhan,
Phun ngak pan jung ngak mek)
Hát về nữ thần Po Sah:
- Nam hát: Nữ thần Sah Inư,
Hai con rắn thần quấn quay cửa đền thần
- Nữ hát: Nữ thần Po sah Inư hiện ba lần,
Hai con bồ câu đậu hai bên đền thần
(Po Sah Inư bal dua,
dua drey anưk ula dang boh bang
Po Sah Inưbal klau,
Dwa drey katrau dang dwa bok tabang)
…
- Múa phồn thực (tamia klai kluc):
Khi kết thúc lễ hát đối đáp th́ đến lễ múa phồn thực. Lễ múa phồn thực
trong lễ Rija Nưgar do một người đàn ông có tầm vóc to khoẻ được dân
làng bầu chọn và Bà bóng (Muk pajau) đảm nhiệm. Trước khi vào lễ người
đàn ông làm nghi thức mặc y phục (váy, áo, khăn trùm đầu) và tay cầm 3
cây gỗ tre h́nh dương vật dài khoảng 25cm, đầu nhuộm màu đen. Khi vào lễ
thầy Kadhar kéo đàn Rabap hát lễ về Po Inư Nưgar. Người đàn ông cầm cây
dương vật múa nhún nhảy như động tác giao hợp. Sau một hồi nhúm nhảy
trong tiếng ḥ reo và lời khấn vái của người dự lễ th́ người đàn ông
chuyển cho bà bóng (Muk Pajau) tiếp tục múa và cuối cùng làm lễ tẩy uế 3
cây dương vật trên cái tra đặt “h́nh nhân thế mạng” (Salih). Sau đó 3
cây dương vật được dân làng tiễn đưa cùng với những “h́nh nhân thế mạng”
(salih) ra ngă ba đường làng và kết thúc nghi lễ Rija Nưgar.
Tóm lại: Lễ Rija Nưgar được tổ chức hai ngày, mặc dù mỗi
làng Chăm đều có một số tiểu tiết lễ khác nhau nhưng chung qui lại lễ
Rija Nưgar cơ bản là giống nhau. Mục đích của lễ này là người Chăm đem
lễ vật cầu cúng để tránh được tai ương bệnh tật, cầu được mùa và sức
khoẻ cho dân làng. Qua lễ Rija Nưgar người Chăm c̣n gắn với sự tích lịch
sử, những vị anh hùng văn hoá, anh hùng dân tộc mà họ suy tôn thành thần
linh. Toàn bộ lễ Rija Nưgar liên quan đến đời sống tín ngưỡng dân gian
như đă tŕnh bày là tín ngưỡng nguyên thủy, tục thờ cúng tổ tiên, các vị
anh hùng dân tộc và đậm nét nhất tín ngưỡng liên quan đến nghề nông. Lễ
Rija Nưgar c̣n chứa đựng nhiều vấn đề cốt lơi lịch sử, văn hoá nghệ
thuật như những loại truyền thuyết, sự tích, thơ ca, tục cúng tế, các
loại h́nh ca múa nhạc dân gian Chăm. Tất cả những yếu tố trên đă liên
kết, phụ thuộc vào nhau, tạo nên ở lễ Rija Nưgar một diện mạo của lễ hội
Chăm đa dạng và độc đáo.
II. Lễ Rija Harei (Lễ hội múa ban ngày):
Mục đích và ư nghĩa của lễ: Sau khi lễ Rija Nưgar (lễ múa tống ôn) mở
đầu lễ hội cho dân làng kết thúc th́ các gia đ́nh, tộc họ bắt đầu tổ
chức lễ Rija Harei cho ḿnh. Lễ Rija Harei là lễ nghi của một tộc họ
hoặc gia đ́nh nhằm cầu xin các vị thần linh, tổ tiên phù hộ độ tŕ cho
các thành viên trong tộc họ sức khoẻ, b́nh an trong năm mới. Đây c̣n là
lễ nhằm tâu tŕnh với tổ tiên, xin phép thực hiện một công việc, một sự
kiện quan trọng mà tộc họ sắp tổ chức như lễ tế trâu, lễ nhập kút…
Thời gian và địa điểm tổ chức lễ: Lễ Rija Harei thường tổ chức vào ngày
lẻ thượng tuần trăng tháng giêng lịch Chăm. Lễ Rija Harei được diễn ra
vào buổi chiều tại một băi đất trống hoặc trong sân nhà của gia đ́nh tộc
họ. Nhà lễ được cất tạm thời đơn giản, không lợp mái, chỉ được chấn
ngang xung quanh h́nh ṿng cung (hay nửa ṿng tṛn – Rija harey mưtưh
buah) bằng liếp tre và chừa một khoảng ra vào về phía tây.
Chủ tế lễ Rija Harei: do thầy Mưduôn
(thầy vỗ trống Basanưng) và thầy bóng (Kain) phụ trách lễ. Nhạc cụ sử
dụng trong lễ gồm có trống Ginăng, Basanưng, kèn Saranai…Lễ vật: 01 con
gà luộc, 5 mâm cơm, rượu trứng, xôi chè, hoa quả…
Hành lễ: Sau khi nhà lễ, vật được
chuẩn bị xong, các vị chủ tế ngồi vào bàn tổ cúng lễ; bà con trong tộc
họ, gia đ́nh ngồi xung quanh rạp lễ. Mở đầu lễ thầy Mưduôn vỗ trống
Basanưng mời các vị thần linh về dự lễ và hưởng lễ vật. Thần linh được
mời về dự lễ là: Po Tang, Po Riyak (thần sóng biển), Po Tang Ahuak (thần
chèo thuyền),Cey Sit, Cey pruang (hai hoàng tử), Cey Dalim (chàng lựu),
Cey Tathun (Po Klaung Garai), Po Hanim Par, Po Rame, Po Galau (thần giữ
rừng trầm, rừng quế), Po Sah Bingu, Po Sah Inư, Po Nai, Po Truak, Po
Patra (thần tổ tiên)… Mỗi vị thần khi Mưduôn mời về dự th́ ông đều vỗ
trống Basanưng và hát – hát những bài thánh ca, kể về tiểu sử và ca ngợi
công lao, sự tích của các vị thần…tương tự như ở lễ Rija Nưgar (Lễ múa
tống ôn đầu năm). Chẳng hạn, hát về thần Cey Tathun (hoá thân của thần
Po Klaung Garai), Mưduôn có đoạn hát như sau:
Xoài nở rụng tháng giêng
Cho trái non hương bay khắp xứ
Alla ban cho chú đủ đầy,
Dân khắp xứ sở ban tiến muôn
Vui thú chú một ḿnh,
Hoá phép linh nuôi ông bà…
Bilan sa bauk bauk brai
Bingu saung catai blơu grơp Nưgar
Alwah crauk ka cey bial tal
Di cơp nưgar ba jien rituh
Cey dauk sa drey bwei sơh,
Sunit ginrơh raung muk taha.
Trong lúc thầy Mưduôn vỗ trống Basanưng hát bài thánh ca th́ thầy bóng
(Ka-in) múa cầm roi mây hoặc cây chèo thuyền, cây mía đỏ, khay trầu…
nhảy múa theo nhịp trống Basanưng, Ginăng, kèn Saranai… Đặc biệt là khi
Mưduôn hát đến vị thần Po Hanim par th́ thấy bóng (Ka-in) cầm roi ngựa,
múa đi ṿng quanh đống lửa đang rực cháy ở trước rạp lễ. Lúc này điệu
hát múa, nhạc lễ đều dồn dập, thúc giục thầy bóng (Ka-in) múa nhảy vào
dập tắt đống lửa trong tiếng reo ḥ và cổ vũ của mọi người. Tiếp theo
lễ, thầy Mưduôn vỗ trống Basanưng lần lượt mời các vị thần khác rồi làm
lễ cúng tổ tiên (Po trauk, patra) và kết thúc lễ Rija Harei.
Tóm lại: Lễ Rija Harey thực sự là lễ hội của cộng đồng gia
tộc. Mặc dù thời gian diễn ra rất ngắn nhưng đó chính là khoảnh khắc
thăng hoa về tâm linh. Khoảnh khắc ấy là dịp để thành viên trong gia tộc
gặp gỡ tạ ơn tổ tiên, thần linh; ôn lại những truyền thống lịch sử hào
hùng; thưởng thức các loại h́nh văn hoá nghệ thuật dân gian mà ông bà tổ
tiên để lại để mà trao truyền cho thế hệ mai sau. Và mục đích cuối cùng
là qua lễ Rija Harey (lễ múa ban ngày), tộc họ người Chăm cầu mong cho
sức khoẻ, mùa màng, đời sống tộc họ được may mắn, sung măn.
III. Lễ Rija Dayuap (Lễ hội múa ban đêm):
Mục đích và ư nghĩa của lễ: Lễ Rija
Dayuap hoặc c̣n gọi là Rija Klam là loại lễ hội múa ban đêm để phân biệt
với lễ múa ban ngày (Rija Harey). Lễ Rija Dayuap (lễ hội múa ban đêm)
được tộc họ hoặc một gia đ́nh người Chăm tổ chức nhằm cầu xin tổ tiên
thần linh giúp cho tộc họ vượt qua khó khăn trong công việc của tộc họ
như lễ tế trâu, đám tang, nhập kút… hoặc là gia đ́nh thoát khỏi tai ương
bệnh tật. Lễ này cũng có một số nội dung, tiểu tiết lễ tương tự như lễ
múa ban ngày (Rija Harei) và lễ múa lớn (Rija Praung). Do vậy người Chăm
thường nói: hai lễ Rija Dayaup (lễ hội múa ban đêm) bằng một lễ múa lớn
(lễ Rija Pruang). Nếu lễ Rija Harei mang yếu tố dương th́ lễ Rija Dayaup
(Lễ hội múa ban đêm) là mang yếu tố âm. Lễ Rija Dayuap (lễ hội múa ban
đêm) diễn ra đúng như tên gọi của nó là diễn ra tại một rạp lễ vào lúc
ban đêm. Lễ thường diễn ra vào tháng 2 hoặc 3 lịch Chăm, được tổ chức ở
cả cộng đồng Chăm Ahiêr và Chăm Awal. Lễ hội múa ban đêm có hai h́nh
thức cúng lễ: lễ Rija Dayuap thuộc ḍng núi (Atau cơk) và Rija Dayuap
thuộc ḍng biển (atau tasik). Hai h́nh thức lễ này có một số tiểu tiết
lễ chung và khác nhau.
Hành lễ múa ban đêm (Rija dayaup):
Lễ này do Mưduôn (thầy vỗ trống Basanưng) và thầy Acar (tu sĩ nhóm Chăm
Awal) và Muk Rija (Vũ sư) thực hiện. Nhạc cụ sử dụng là trống Basanưng,
Ginăng, kèn Saranai. Trước khi vào lễ múa ban đêm th́ vào buổi chiều
thầy Mưduôn, Po Acar và Muk Rija…tổ chức cúng khai lễ bằng lễ chay (kaya
yuơr) cho các vị thần thuộc nhóm Chăm Awal (yang birow) và cúng lễ mặn
(kaya klăm) cho các vị thần thuộc nhóm Chăm Ahiêr (yang bimon).
Lễ cúng chay (kaya yuơr) bao gồm các lễ vật như xôi, chuối, bánh bột
gạo… Mưduôn vỗ trống và đọc kinh bằng tiếng Mălai (akhar Java) mời thần
linh về dự. Lễ này có Po Acar (tu sĩ nhóm Chăm Awal) – thay mặt cho
thánh Alla (Âuloah) chứng lễ. Sau khi kết thúc lễ cúng chay th́ đến lễ
cúng mặn. Lễ cúng mặn (kaya klăm) do thầy Mưduôn thực hiện. Lễ vật gồm
có 01 con gà luộc, 5 mâm cơm… Thần linh được Mưduôn mời về dự lễ này là
thần Bàlamôn (yang Bimon) như Pô Inư Nưgar, Po Klaung Garai, Po Rame…
Sau khi lễ cúng các thần ở các đền tháp kết thúc th́ bà con ăn uống cộng
cảm, chuẩn bị vào múa ban đêm.
Diễn biến lễ múa ban đêm (Rija Dayuap):
Sau khi lễ trên vừa kết thúc th́ trời sẩm tối, bà con, thành viên trong
tộc họ bắt đầu tựu về đông đủ. Lễ chính thức do Mưduôn, thầy Acar Muk
Rija (Vũ sư) và nghệ nhân đánh trống Basanưng, Ginăng, kèn Saranai thực
hiện. Bước vào lễ múa, Muk Rija (vũ sư) ngồi vào bàn tổ chính trong nhà
lễ. Ở bàn tổ, trước mặt Muk Rija là mâm trầu được kết thành ba tầng
(thôn hala) và “chiết Atâu”, cơi đựng trầu cau, rượu trứng, chén lửa…
Khi vào lễ Mưduôn vỗ trống Basanưng mời thần linh. Muk Rija tay cầm quạt
cầu khấn và dâng lễ vật lên thần linh. Tuỳ theo tộc họ thờ ḍng núi
(atâu cơk) hay ḍng biển (atâu tasik) mà thầy Mưduôn mời các vị thần như
sau:
- Hệ thống thần linh tộc họ ḍng núi (atau cơk) bao gồm các vị thần như
Po cah ya, Po bal mưta, Pata Po, Patra likey. Patra dakga, Rat Inư, Pata
mưnôn, Patri bang so, Patri chan ni, Patri dara nai neh, Patri bia
atakal, Patri banlikam…
- Hệ thống thần linh tộc họ ḍng biển (atau tasik) bao gồm các vị thần
như Po mat tituk, Bana jali, Bana jawơt, Bana mưsiêr, Basa mư jatai, Po
bana Jali, Po man sri, Jalimit, Jalikam, Patri ridang, Java than mưta…
Trong tục mời cúng các vị thần trong lễ múa này, nếu là cúng ḍng núi
(atau cơk) th́ họ chỉ mời cúng các vị thần ḍng biển. Nhưng nếu tộc họ
nào thuộc ḍng biển (atau tasik) th́ họ mời cúng luôn cả hai hệ thống
thần linh ḍng núi và ḍng biển. Mỗi khi mời vị thần th́ Mưduôn đều vỗ
trống Basanưng hát lễ bằng tiếng Mălai và Muk Rija múa phụ hoạ. Ở đây có
tất cả đến 24/76 điệu trống lễ mang tên các vị thần vừa nêu trên. Mỗi
điệu trống th́ Muk Rija (vũ sư) có điệu múa riêng, nhưng nổi bật nhất
vẫn là điệu múa truyền thống như múa didin (điệu múa chim công), điệu
choong (rồng bay), điệu kaman (chim trĩ), Patra (chim bay)… Mỗi điệu mùa
và bài cúng của thầy Mưduôn được kết thúc bằng một “cây đuốc” (bó trôi).
Lễ Rija Dayaup, ngoài điệu múa trên c̣n diễn ra “tục hèm” nhằm để diễn
tả một hành động của con vật nào đó mà họ cho là có liên quan đến tổ
tiên, ḍng tộc. Đa số tộc họ của người Chăm tục hèm thường gắn với con
ngựa, con trâu, con hổ… Sau lễ hèm kết thúc th́ bà con trong tộc họ vào
rạp lễ, lạy tạ tổ tiên, thần linh - những người đă phù hộ cho họ sức
khoẻ tài lộc, b́nh an, con đàn cháu chắt…
Tóm lại: Lễ Rija Dayaup (lễ múa ban đêm) thực sự là đêm
hội của tộc họ. Đó là đêm gặp mặt của con cháu - tổ tiên - thần linh.
Phần lễ diễn ra trang nghiêm, ấm cúng, qui tụ được tất cả thành viên
trong tộc họ. Đó là đêm gặp mặt của con cháu - tổ tiên - thần linh. Mọi
người quây quần bên nhau chứng lễ hương hồn của tổ tiên, vừa thưởng thức
một đêm hội tinh thần trong tiếng trống Ginăng, Basanưng, kèn Saranai…
IV. Lễ Rija Praung (Lễ Hội múa lớn):
|

Lễ hội múa lớn - Rija Praung |
Mục đích ư nghĩa của lễ: Lễ Rija Praung là lễ nghi lớn nhất và quan
trọng nhất trong hệ thống lễ hội múa Rija của người Chăm. Người Chăm
thường nói: Hai lễ hội múa ban đêm (Rija Dayuap) hợp lại th́ thành
một lễ hội múa lớn (Rija Pruang). Cũng như lễ hội múa ban đêm (Rija
Dayuap), lễ hội múa Rija Praung là lễ hội của tộc họ. |
Lễ chỉ diễn ra khi trong
tộc họ có người bị bệnh tật, gặp phải tai ương đă chữa trị bằng nhiều
phương cách nhưng không qua được th́ người Chăm tổ chức lễ Rija Praung
để cầu mong thần linh, tổ tiên cho người bị bệnh tai qua nạn khỏi. Lễ
hội Rija Praung c̣n được tổ chức trong trường hợp tộc họ tôn chức Vũ sư
(Muk Rija) để trông coi “chiết atâu” cúng lễ cho tộc họ. Lễ hội Rija
Praung c̣n được tổ chức khi các thầy Mưduôn thầy vỗ trống Basanưng và
các nghệ nhân đánh trống Ginăng, kèn Saranai thăng quan, tiến chức…
Nguồn gốc của lễ hội Rija Pruang: Căn cứ theo nhiều nguồn tư
liệu, lễ hội Rija Pruang được các nhà nghiên cứu cho rằng có nguồn gốc
từ Mă Lai và ảnh hưởng văn hoá Hồi giáo.
Trong tập Calague giới thiệu về Y phục Champa - Mălai ở Việt Nam của TS.
Po Dharma (chủ biên) có viết: Rija là lễ múa nối tiếng của người Champa
bị ảnh hưởng bởi h́nh thể Makyong Mă Lai. Nhân vật anh hùng trong lễ múa
Rija tên là Laksamana Jinjang - một hoàng tử từ Kelantan - Mă Lai đến.
Đây là lễ múa liên quan đến chuyến viễn hành lịch sử bằng đường thủy của
hoàng tử Jinyang đến Champa. Trên chuyến viễn hành đó, tàu của hoàng tử
bị đánh úp bởi sóng biển. Cuối cùng hoàng tử cũng được cứu sống và đến
được Champa kết hôn với công chúa Chăm, sinh sống với nhau có một vài
đứa con. Sau khi hoàng tử Jinjang chết, người Chăm tôn thờ ông ấy như
thần tổ tiên. Lễ múa Rija là một lễ dâng cúng tưởng nhớ đến ông ấy - một
hoàng tử Mă Lai - người mà rất nổi tiếng như một chiến sĩ vĩ đại trong
bản anh hùng ca Champa.
Cũng theo TS, Po Dharma: Rija là lễ hội gốc Mă Lai sang Champa vào thế
kỷ 17. Lễ Rija Pruang Atau tasik (Ḍng biển) là diễn lại sự tích hoàng
tử Mă lai Putra Jingyang sang Champa bằng đường biển. Và Rija pruang
atau cơk (ḍng núi) là tưởng nhớ lại hoàng tử MăLai sang Champa bằng
đường bộ theo ngả đường bộ Campuchia.
Theo TS. Phan Văn Dốp: “Lễ Rija Praung diễn lại mối quan hệ giữa một
công chúa Chăm và hoàng nhân Mă Lai đồng thời thể hiện giữa ḍng núi
(atau cơk) và ḍng biển (atau tasik) của người Chăm…
Văn Món c̣n nhận định: “Lễ Rija Pruang - một tín ngưỡng Hồi giáo của
người Chăm Ninh Thuận”
C̣n theo sự tích dân gian người Chăm kể rằng: Lễ Rija praung có từ thời
vua Po Rame (1627 - 1651) có bang giao với các nước láng giềng và có một
dịp vị vua Po Rame đă mời đoàn khách Malayu (Mă Lai) về thăm Champa.
Đoàn khách Malayu gồm có 7 chiếc thuyền đến Chămpa bằng đường biển nhưng
khi đến eo biển Mũi Né (Phú Hài – Phan Thiết) th́ bị Po Sah Inư - một vị
tướng của người Chăm ngộ nhận và cho quân đánh ch́m 5 chiếc thuyền, sau
này chỉ c̣n lại 2 chiếc. Biết đó là sự ngộ nhận của Po Sah Inư nên vua
Po Rame bỏ qua và ra lệnh vớt xác nạn nhân đồng thời dựng lên nghi lễ
Rija praung. Đây là lễ nghi được diễn lại theo nghi thức lễ của nạn nhân
để tiễn đưa vong hồn người chết và người sống sót trở về lại nước Mălai.
Từ đó lễ Rija praung đă đi vào phong tục, tập quán gắn chặt với kí ức và
đă ăn sâu đời sống tín ngưỡng dân gian Chăm. Do đó, ngày nay trong lễ
Rija praung ḍng biển (atau tasik) có tục tiễn đưa 4 người trên hai
chiếc thuyền bằng gỗ thả ra sông, biển là tượng trưng cho việc tiễn đưa
người chết và nạn nhân sống sót trong sự kiện trên về lại Malayu.
Các bước chuẩn bị cho lễ Rija Pruang: Để thực hiện nghi lễ này,
tộc họ người Chăm chuẩn bị rất chu đáo và có nhiều điều cấm kị. Khi tổ
chức lễ này th́ tộc họ phải bàn bạc thống nhất, quyên góp tiền của một
thời gian dài, v́ có lễ thực hiện trong thời gian 7 ngày 7 đêm. Sau khi
chuẩn bị đầy đủ tiền của th́ tộc trưởng (Akauk gơp) đem lễ vật (rượu,
trứng) đến nhà thầy Mưduôn để xin ngày lành tháng tốt thực hiện lễ.
Trước khi thực hiện lễ này, tộc họ cũng phải đem lễ vật (1 con dê, 5 mâm
cơm) để cúng xin phép thần linh ở các đền tháp Chăm và cúng 5 mâm cơm
trong lễ gia tiên.
Lễ dựng nhà lễ (kajang): Nhà lễ (kajang) phải làm bằng gỗ
hoàn toàn mới chặt trên rừng; gỗ phải cùng chặt chung một khu rừng. Cấm
kị trong nhà lễ múa lớn không được sử dụng gỗ cũ để làm nhà lễ. Khi gỗ
được chặt từ rừng về th́ người Chăm c̣n làm lễ đón rước tại đầu làng. Lễ
đón rước gồm có Mưduôn (thầy vỗ trống), Muk Rija (vũ sư), và một số
người phụ lễ với lễ vật bao gồm 1 cặp gà, rượu trứng, chuối… Sau đó
người Chăm c̣n làm lễ tẩy uế gỗ bằng nước cát lồi trước khi dựng nhà lễ.
Cũng như nhà lễ múa ban đêm (lễ Rija Dayuap) nhưng nhà lễ Rija Praung có
kích thước lớn hơn, diện tích (20m x 10m). Nhà lễ được cất bằng gỗ, tre,
mái lợp tấm bạt, xung quanh được che bằng những tấm liếp đan bằng tre
(katăng). Nhà lễ nằm theo hướng đông tây, chỉ mở một cửa chính theo
hướng tây và một cửa nhỏ phụ ở phía bắc. Trong nhà lễ có trang trí bục
đứng giảng (padan) bằng gỗ có lót vải trắng và ở trần nhà lễ có treo một
miếng vải trắng gọi là “tâm linh” (nơi trú ngụ thần Allah), và 3 cây cột
ở v́ kèo nhà lễ được bao bọc bằng vải trắng… Đây là nơi đặt bàn tổ chính
(danok) của lễ Rija Pruang – bàn tổ của thầy chủ lễ Mưduôn. Ở phía bên
trái của nhà lễ (tính từ ngoài vào) là bàn tổ (danok) của vũ sư (Muk
Rija) được che bằng tấm vải có trang trí h́nh hoa lá, người, động vật
(panin). Bàn tổ (danok) của vũ sư (Muk Rija) chính là tượng trưng cho
bụng mẹ - nơi sinh ra bà vũ sư. Bên phải nhà lễ là bàn tổ (danok) Po
Acar (tu sĩ nhóm Chăm Awal) và ban nhạc lễ (nghệ nhân đánh trống Ginăng,
Basanưng, kèn Saranai). Đối diện với nhà lễ chính (kajang) cách 8 m về
phía tây th́ có một nhà bếp trong đó có đặt 3 bộ ông táo để nấu cơm nước
phục vụ nghi lễ.
Nhà lễ (kajang) Rija Praung được thực hiện chu đáo, từ vật liệu xây
dựng, đồ cúng lễ, ông táo… phải là đồ mới tinh khiết không bị ô uế…để
cúng thần linh Awal (yang birou). Đặc biệt cách trang trí nhà lễ
(kajang) lại có mặt “tâm linh”, “paban” - tương tự như cách trang trí
trong thánh đường (sang mưgik) của người Chăm Hồi giáo - Bàni.
Nhà lễ (kayang) Rija pruang sau khi được xong th́ người đầu tiên bước
vào nhà lễ là Po Acar làm lễ khai kinh (Sarawat) cầu các vị thần Âuloah
- Mohamat - về chứng giám nghi lễ Rija Praung.
Hành lễ Rija Praung (lễ hội múa lớn): Lễ kéo dài trong
thời gian 4 ngày 4 đêm; có lễ lớn đến 8 ngày 8 đêm. Tùy theo lời cầu
khấn của gia đ́nh, tộc họ mà qui định h́nh thức nghi lễ. Xét về mặt nghi
lễ, Rija praung có 2 h́nh thức: Nghi lễ ḍng núi (atau cơk) và nghi lễ
ḍng biển (Atau tasik). Trong hai h́nh thức nghi lễ ấy th́ lễ ḍng biển
(Atau tasik) có nội dung phong phú hơn, bao hàm cả nghi thức ḍng núi
(atau cơk). Tùy theo lời cầu khấn của gia đ́nh tộc họ mà tiến tŕnh lễ
sẽ đi theo các bước sau: Lễ “Rija praung cúng để trả nợ” cầu khẩn của
tộc họ, người Chăm gọi là “Rija thre”; “lễ tôn chức vũ sư” (Pok Rija) và
“lễ mừng chức vũ sư” (Rija patruh hoặc Rija hala ôn).
(Trích trong: "Lễ hội của người
Chăm" - Tác giả:
Văn Món - Sakaya) |