CẦN BIẾT KHI SỬ DỤNG MÁY TÍNH

FILE HỆ THỐNG:

            Theo kinh nghiệm của chúng tôi, 90% người sử dụng không có hiểu biết nhiều về cách soạn thảo 2 file nầy. Một phần do các sách dạy về Dos nói quá nhiều khiến người đọc không phân biệt được cái nào chính, cái nào phụ nên không thể nhớ hết được. Một phần do nội dung của 2 file nầy không có một chuẩn mực cố định mà tuỳ thuộc vào mỗi máy cụ thể nào đó nên rất khó dạy đầy đủ và dễ hiểu. Chúng tôi cũng không có tham vọng nói đầy đủ mà chủ yếu đề cập đến các phần không thể thiếu trên đa số máy cho ngắn, gọn.

     Các chương trình thông dụng khi cài đặt đều ít nhiều có sửa chữa 2 file nầy nên nội dung của chúng thường xuyên thay đổi. Sự thay đổi nầy lại có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của máy. Do đó, không có hiểu biết về chúng là một thiếu sót lớn và có thể đem lại rất nhiều phiền toái cho người dùng máy.

     Hai file nầy là 2 file text thuần tuý nên để chỉnh sửa bạn có thể dùng một trong các chương trình soạn thảo văn bản không định dạng như Edit.com, NC Edit trong Dos hoặc cho chạy Notepad, Sysedit trong Windows.
 
CONFIG.SYS :

     Nằm trong thư mục gốc của dĩa cứng khởi động dùng để xác định cấu hình của hệ thống máy và cài đặt các driver thiết bị. Mỗi dòng văn bản là một lệnh của Dos. Ðặc biệt Dos chỉ đọc file này khi khởi động máy do đó nếu bạn có sửa đổi gì trên file này, bạn phải khởi động lại để việc thay đổi có hiệu lực (hiện nay cũng có vài chương trình cho phép bạn cài đặt drv thiết bị trong Config.sys ngay tại dấu nhắc mà không cần khởi động lại).

    Chú ý:

     Lịnh trong Config.sys phải ghi đầy đủ đường dẫn và phải thật chính xác do lúc nầy Dos chưa lưu trữ đường dẫn (lịnh Path) nên chưa tự động đi tìm file được.

     Ðúng ra trong file Config.sys còn nhiều lịnh nữa, những lịnh nầy ta tạm gọi là lịnh nội bộ (bao gồm tất cả lịnh khác lịnh device. Thí dụ: Dos=; Lastdrive=; Shell=...), luôn luôn được nạp với các thông số mặc nhiên nên bình thường ta không cần quan tâm. Chỉ khi nào cần chỉ định lại thông số ta mới đưa vào như trong thí dụ sau. Lịnh nội bộ không quy định thứ tự, chúng được ưu tiên nạp trước dù nằm bất kỳ vị trí nào trong file.

     Các driver được nạp bằng lịnh device (tạm gọi là lịnh bổ sung) trong Config.sys phải đi theo thứ tự nếu chúng có liên quan đến nhau. Thí dụ: Himem-Emm386-devicehigh.

    Ví dụ file config.sys :

Device= C:\Windows\Himem.sys /Testm:off
Device= C:\windows\Emm386.exe noems
;Device= C:\windows\Emm386.exe ram
Dos=High,UMB
Devicehigh= D:\Audio\Opti930\Cdsetup.sys /T:X
Devicehigh=C:\dos\Ecscdide.sys /d:ecscd001
Devicehigh=c:\windows\ifshlp.sys
Lastdrive=H
Shell=c:\dos\command.com c:\dos /p /E:512

    Phân tích:

     Himem.sysEmm386.exe phải được nạp trước bằng lịnh Device để quản lý vùng bộ nhớ UMB,HMA. Sau đó bạn mới dùng được lịnh Devicehigh để nạp các driver khác vào vùng bộ nhớ nầy.

    Device= C:\Windows\Himem.sys /Testm:off

     Thông số /Testmem:off hay /testm:off là chỉ định Himem khi nạp không cần kiểm tra bộ nhớ để khởi động cho nhanh.

    Device= C:\windows\Emm386.exe noems
    ;Device= C:\windows\Emm386.exe ram

     Thông số Noems là chỉ định không dùng bộ nhớ bành trướng. Thông số Ram là chỉ định dùng bộ nhớ bành trướng.

            Dấu ; là vô hiệu hoá dòng lịnh đi sau nó, tương tự như lịnh REM nhưng chạy nhanh hơn vì nó không phải là lịnh nên không mất thời gian thực hiện.

     Khi chọn Noems, Windows sẽ chạy nhanh hơn chọn Ram, nhưng một số chương trình xưa được viết cho máy 286 và vài trò chơi sẽ không chạy được do chúng đòi hỏi bộ nhớ bành trướng (Ram). Khi chọn Ram, Windows chạy chậm và vùng UMB sẽ còn ít do bị mất 64Kb dành làm khung trang cho bộ nhớ bành trướng.

     Theo chúng tôi, tốt nhất là bạn có cả 2 dòng nầy trong Config.sys. Bình thường bạn cho dòng Noems có hiệu lực. Khi nào cần bộ nhớ bành trướng, bạn mới cho dòng Ram có hiệu lực.

    Dos=High,UMB

            Cho phép nạp Dos vào bộ nhớ cao (high) và cho phép dùng lịnh Devicehigh nạp các driver vào vùng bộ nhớ trên (UMB). Nếu không có thông số UMB, các lịnh Devicehigh trong Config.sys và lịnh Loadhigh trong Autoexec.bat sẽ vô tác dụng.

     Devicehigh= D:\Audio\Opti930\Cdsetup.sys /T:X
     Devicehigh= C:\dos\Ecscdide.sys /d:ecscd001

            Dòng thứ nhất để xác lập cho đường IDE trên card sound do ổ đĩa CD Rom nối vào card sound. Lịnh nầy có thể khác nhau tuỳ theo card sound bạn đang dùng. Nếu CD Rom nối vào card I/O hay vào mainboard thì không cần dòng lịnh nầy.

     Dòng thứ nhì để cài driver điều khiển ổ đĩa CD Rom. Thông số /D: dùng để đặt tên cho ổ đĩa CD Rom, tên nầy phải trùng với tên trong Autoexec.bat.

    Chú ý: Tên nầy sẽ được dành riêng cho hệ thống, bạn không thể tạo thư mục hay file có tên trùng với tên nầy.

    Devicehigh=c:\windows\ifshlp.sys

            Dòng lịnh nầy dành riêng cho Windows dùng để chạy 32BitFileAccess.

     Lastdrive=H

            Chỉ định cho phép sử dụng bao nhiêu ổ đĩa trên máy bạn, bao gồm 2 ổ mềm A,B (không có cũng tính). Trong ví dụ nầy là 2 ổ mềm, 6 ổ đĩa logic khác (gồm ổ cứng, CD Rom, ổ tháo rời...). Mặc nhiên của Dos 6.22 khi không có dòng lịnh nầy là E, nếu máy bạn có nhiều ổ logic hơn bạn phải thêm dòng lịnh nầy.

     Shell=c:\dos\command.com c:\dos /p /E:512

            Dòng lịnh nầy chỉ định địa chỉ của trình thông dịch cần phải nạp. Trong thí dụ nầy là Command.com nằm trong thư mục Dos của ổ C. khi không có dòng lịnh nầy, hệ điều hành sẽ tìm nạp command.com nằm trong thư mục gốc của ổ C.

     /P là cho phép nạp file Autoexec.bat sau khi nạp config.sys.

     /E:512 chỉ định tăng vùng môi trường lên 512byte. Vùng môi trường là kích thước bộ nhớ dành riêng để chứa những thông tin khi bạn đánh lịnh SET khi ở dấu nhắc Dos. Mặc nhiên khi không có lịnh nầy là 256byte.

AUTOEXEC.BAT

     File nầy cũng nằm trong thư gốc cũa ổ đĩa khởi động và được nạp tự động sau khi nạp Config.sys. Công dụng của file nầy là tạo các thông số về môi trường hoạt động cho hệ thống và các phần mềm. Nội dung bao gồm các dòng lịnh giống y như lịnh bạn đánh tại dấu nhắc và bạn cũng có thể đánh lịnh mà không cần ghi chúng vào file Autoexec.bat. Như vậy về thực chất, ta có thể nói file Autoexec.bat gồm một chuổi các lịnh được lập sẳn để Dos thực hiện lần lượt theo thứ tự từ dòng đầu đến dòng cuối, tiết kiệm thời gian và công sức đánh lịnh mỗi khi khởi động máy.

    Ví dụ file Autoexec.bat sau:

@echo off
Path=C:\Windows;C:\Windows\Command;C:\NC
Set path=%path%;c:\sb16
Set temp=C:\Temp
Set NC=C:\NC
Set Sound=C:\SB16
Set Blaster=A220 I5 D1 H5 P330 T6
::LH C:\dos\mouse.com
LH C:\Windows\Command\Mscdex.exe /d:ecscd001 /l:f
LH C:\windows\smartdrv.exe

            Giải thích:

      @Echo off

            Thường là lịnh đầu tiên trong file autoexec.bat. Echo off ngăn không cho Dos hiển thị dòng lịnh ra màn hình khi thực hiện các lịnh sau lịnh nầy. @ trước lịnh Echo off là ngăn không cho chính lịnh này hiện lên màn hình.

     Path=C:\Windows;C:\Windows\Command;C:\NC

            Tạo đường dẫn cho các chương trình,mô tả lối tìm về các thư mục mà Dos truy tìm các chương trình này. Khi bạn đánh tên một file chương trình, Dos sẽ tìm trong các địa chỉ nầy theo thứ tự kê khai.

     Set path=%path%;c:\sb16

            Có tác dụng giống như Path và vì được nạp sau nên sẽ đè chồng lên lịnh path. Trong thí dụ nầy lịnh Set path nhằm bổ sung đường dẫn C:\sb16 vào sau các đường dẫn cũ trong lịnh Path. %path% có nghĩa là nạp toàn bộ nội dung trong lịnh Path trước lịnh nầy. Sở dỉ có lịnh nầy là nhằm tránh việc đánh 1 lịnh Path dài quá 125 ký tự (%Path% chỉ được tính là 6 ký tự trong khi nội dung thật của nó có thể lên đến 125 ký tự).

     Set temp=C:\Temp

            Chỉ định tên thư mục dành riêng cho các chương trình chứa file tạm khi hoạt động. Nếu không có dòng lịnh nầy các chương trình sẽ chứa các file tạm tại nơi chúng khởi động hay trong thư mục của chúng, gây khó khăn cho việc dọn dẹp đĩa.

     Chú ý: Nếu không có lịnh nầy hay không có thư mục được chỉ định trong lịnh, NC5 sẽ thường xuyên bị mất cấu hình.

     Set NC=C:\NC

            Chỉ định thư mục chứa các thông tin cần thiết cho hoạt động của NC5. Nếu không có lịnh nầy, NC5 có thể thông báo lổi là không tìm thấy các file cần thiết khi thực hiện 1 chức năng nào đó.

     Set Sound=C:\SB16
     Set Blaster=A220 I5 D1 H5 P330 T6

            Chỉ định các thông số hoạt động của card sound. Chỉ định nầy giúp các chương trình cần điều khiển card sound sẽ biết cách hợp tác với chúng. Các thông số trong lịnh Set Blaster có thể khác nhau tuỳ theo card.

     Chú ý: Nếu có nhiều lịnh Set trùng tên, gía trị sẽ do dòng lịnh Set cuối cùng quyết định do nó được nạp đè lên các lịnh trước đó.

     ::LH C:\dos\mouse.com

            Dòng lịnh nầy bị vô hiệu hoá do có ký hiệu :: trước dòng lịnh. Dấu :: có tác dụng như lịnh Rem nhưng không phải là lịnh nên chạy nhanh hơn (giống như dấu ; trong config.sys)

     LH C:\Windows\Command\Mscdex.exe /d:ecscd001 /l:f
     LH C:\windows\smartdrv.exe

            LH tức là Loadhigh: Nạp một chương trình thường trú lên vùng bộ nhớ cao. LH chỉ có giá trị khi có lịnh nạp Himem, Emm386 và Dos=umb trong Config.sys.

            Lịnh 1 là nạp driver điều khiển ổ CD Rom. Thông số /D: phải giống như trong Config.sys. Thông số /L:F có nghĩa đặt tên cho ổ CD Rom là F.

     Lịnh 2 là nạp chương trình Cache đĩa của Dos nhằm tăng tốc độ truy xuất đĩa. Lịnh nầy phải nằm sau để Smartdrv có thể nhìn thấy và cache cho ổ CD Rom.

ĐA CẤU HÌNH:

     Nếu bạn thường xuyên phải thay đổi 2 file hệ thống để chạy chương trình. Tốt nhất là bạn sử dụng đa cấu hình cho máy của bạn. Bạn chỉ tốn công 1 lần khi tạo lập đa cấu hình, sau đó máy sẽ thay đổi tự động khi bạn muốn.

    Chú ý: Nếu muốn dùng đa cấu hình, bạn phải sửa dòng BOOTGUI=0 trong file MSDOS.SYS đối với Win 95.

    Thí dụ về đa cấu hình:
 

CONFIG.SYS

AUTOEXEC.BAT

[Menu] 
menuitem=Win95,Windows 95 
menuitem=Win311,Windows 3.11 
menuitem=Game,Dos Game 
menudefault=Win95,5 

[common] 
device=c:\win95\himem.sys /testm:off 
dos=high,umb,noauto 
lastdrive=h 

[Win95] 
device=c:\win95\emm386.exe noems 
devicehigh=c:\win95\ifshlp.sys 
 

[Win311] 
device=c:\win95\emm386.exe noems 
devicehigh=c:\win311\ifshlp.sys 
 
 
 

[Game] 
device=c:\win95\emm386.exe Ram

@Echo off 
path=c:\nc;c:\sound; 
set nc=c:\nc 
set temp=c:\temp 
Set Sound=C:\SB16 
Set Blaster=A220 I5 D1 H5 
goto %config% 
 


 
 

  :Win95 
set path=c:\win95\command;%Path%; 
Win 
goto end 

:Win311 
set path=c:\win311;%path%; 
lh c:\Win311\Mscdex.exe /d:ecscd001 /l:f 
lh c:\win95\smartdrv.exe 
Win 
goto end 

:Game 
lh c:\Win311\Mscdex.exe /d:ecscd001 /l:f 
lh c:\win95\smartdrv.exe 
goto end 
:end

            Giải thích:

            Trong thí dụ trên, chúng tôi cố tình xếp đặt cho các bạn thấy sự tương ứng giửa các nhóm cấu hình trong 2 file hệ thống (trên thực tế, bạn không cần có những dòng trống).

     [menu]: nhóm tên.

     menuitem=Win95,Windows 95: Ðặt tên. Ðầu tiên là tên nhóm viết tắt cho gọn khi soạn thảo, tên sau dấu phẩy là tên chi tiết dùng để hiển thị ra màn hình khi khởi động.

     menudefault=Win95,5: Chỉ định nhóm mặc nhiên máy tự chọn (Win95) sau thời gian chờ đợi (5 giây) mà bạn không quyết định chọn.

     [Common]: Nhóm chung, các lịnh trong nhóm nầy được dùng chung cho mọi cấu hình.

     [Win95]: Nhóm cấu hình riêng. Tên nhóm riêng trong Config.sys phải trùng với tên nhóm tương ứng trong Autoexec.bat. Các lịnh trong nhóm chỉ được nạp khi bạn chọn cấu hình.

     Chú ý: Lịnh Dos=noauto chỉ dùng khi bạn sử dụng Win 95, nó có tác dụng chỉ thị ngăn Win 95 không được nạp driver IFSHLP.SYS tự động để giúp cho Win 3.11 nạp driver của mình khi chọn cấu hình Win311 (drv nầy dùng để chạy 32 bit file).

     goto %config%: lịnh rẻ nhánh đến tên nhóm tương ứng trong Config.sys.

     :Win95: Nhóm cấu hình

     goto end: Lịnh rẻ nhánh đến nhóm End. Nếu không có lịnh nầy, Dos sẽ thực hiện tiếp các lịnh trong nhóm kế tiếp theo thứ tự dòng lịnh.

     Chú ý: Các lịnh nằm ngoài nhóm hay nằm trong nhóm End là lịnh chung, sẽ được sử dụng cho mọi cấu hình.

      Lịnh Win dùng để tự động nạp win. Nếu không có lịnh nầy, máy sẽ ngừng ở dấu nhắc Dos.
 
TRỤC TRẶC VÀ SỬA CHỮA:

      Bạn có thể cho hệ thống khởi động mà không thực hiện các lịnh trong Config.sys hoặc Autoexec.bat; bạn cũng có thể cho hệ thống khởi động và quyết định cho nạp từng dòng lịnh. Bạn thực hiện điều này khi màn hình xuất hiện dòng chữ Starting Ms Dos hoặc Starting Windows 95 lúc mới khởi động máy, bạn nhấn F5 (bỏ qua 2 file hệ thống) hay F8 (nạp từng dòng lịnh). Việc làm này cần thiết khi bạn muốn biết do dòng lịnh nào làm máy của bạn trục trặc để bạn có thể sửa chữa thích hợp.

      Khi dòng lịnh trong Config.sys bị lỗi. Dos sẽ thông báo cụ thể là dòng lịnh thứ mấy, bạn kiểm tra lại và sửa chửa cho đúng.

      Khi dòng lịnh trong Autoexec.bat bị lỗi. Dos thường thông báo là Bad command or file name, bạn phải dùng fím F8 để kiểm tra chính xác dòng nào bị lỗi.

      Các lỗi thường gặp là: Sai địa chỉ chứa file nạp, sai tên file, không có file trên đĩa, dư dấu cách (dấu cách cũng là 1 ký tự).

      Khi cài đặt chương trình mới, 2 file hệ thống hay bị sửa chữa. Bạn cần kiểm tra và xắp sếp lại cho hợp lý. Các lịnh trong Autoexec.bat phải được nằm dưới lịnh @echo off để chúng khỏi hiển thị "lỉnh kỉnh" ra màn hình.

QUẢN LÝ BỘ NHỚ :

      Một vấn đề thường xảy ra khi bạn chơi các trò chơi trong Dos, hoặc khi chạy một chương trình nào đó là hệ thống thông báo không đủ bộ nhớ. Màn hình hiện lên dòng chữ sau : "Out of memory"

      Bộ nhớ được đề cập ở đây là RAM (tắt chữ Random Access Memory) cung cấp vùng lưu trữ tạm thời cho các chương trình và dữ kiện. Tất cả các chương trình đều cần đến bộ nhớ để chạy. Một số chương trình đòi hỏi bộ nhớ nhiều hơn một số khác. Việc có bao nhiêu bộ nhớ hữu dụng (Available Memory) sẽ ảnh hưởng lên những chương trình mà bạn có thể chạy.

      Dưới đây chúng tôi xin giải thích sơ về cấu tạo của bộ nhớ của máy PC mà không đi quá sâu về mặt kỹ thuật cho các bạn dễ hiểu.

      + Bộ nhớ quy ước (Conventional Memory) : Là vùng bộ nhớ từ 0 Kb đến 640 Kb. Mọi máy vi tính đều có vùng bộ nhớ này. Từ "quy ước" được đặt ra là vì loại bộ nhớ này xuất hiện từ khi máy PC mới ra đời, sau này bộ nhớ ngày càng tăng vượt qua giới hạn 640 Kb, nên phần bộ nhớ này được đặt tên như vậy. Các chương trình ứng dụng đều sử dụng đến vùng bộ nhớ này

      + Bộ nhớ vùng trên (Upper Memory Area - UMA) : Là vùng bộ nhớ nằm giữa vùng bộ nhớ quy ước và bộ nhớ mở rộng. Kích thước 384 Kb (từ 640Kb đến 1Mb). Một phần của vùng này được Dos chia thành những khối gọi là Upper Memory Block - UMB (Lịnh Dos=UMB là đưa một phần của Dos vào vùng này). Một phần khác của vùng này được khung trang cho bộ nhớ phân trang EMS.

      + Bộ nhớ mở rộng (Extended Memory - XMS) : Là vùng bộ nhớ nằm trên 1 Mb. Ðể sử dụng vùng bộ nhớ này CPU phải chuyển qua chế độ bảo vệ (Protected Mode). Còn vùng dưới 1Mb thì CPU ở trong chế độ thực (Real Mode). May mắn cho chúng ta, việc chuyển qua lại giữa hai chế độ này đã có Dos và các nhà chế tạo CPU lo

      + Bộ nhớ vùng cao (High Memory Area - HMA) : Là vùng thuộc bộ nhớ mở rộng, nhưng nằm kề ngay bộ nhớ vùng trên, kích thước 64 Kb (từ 1024 Kb đến 1088 Kb). Chính trình đạo diễn Himem.sys cho phép bạn sử dụng được 24 Kb của vùng bộ nhớ mở rộng này để chuyển một phần chương trình hệ thống của Dos lên đây giải phóng thêm chỗ cho bộ nhớ quy ước

      + Bộ nhớ phân trang (Expanded Memory -EMS) còn được gọi là bộ nhớ bành trướng. Bộ nhớ này được phân thành từng trang kích thước 16 Kb và được ánh xạ vào vùng khung trang của UMB. Có những chương trình sử dụng chỗ trống trên dĩa cứng làm bộ nhớ phân trang. Chương trình nào muốn sử dụng bộ nhớ phân trang thì phải báo rõ là mình cần bộ nhớ phân trang cho trình quản lý EMM, việc này đứng về phía người viết chương trình phần mềm phải thảo chương thêm gây tốn kém cho nhà sản xuất nên người ta ít viết chương trình loại này. Bởi vậy nếu bạn mở file Config.sys xem thì thấy đa số trên máy chúng ta trình quản lý bộ nhớ Emm386.exe thường được cài đặt với tham số noems (NO EMS nghĩa là không sử dụng bộ nhớ phân trang)

      Nói chung việc quản lý bộ nhớ là làm sao ta có được phần bộ nhớ hữu dụng tức là phần còn lại của bộ nhớ quy ước càng lớn càng tốt. Ðể làm việc này ta phải có hiểu biết về Himem.sys và Emm386.exe được cài đặt bằng lịnh Device trong file Config.sys, biết cách xắp sếp các dòng lịnh trong 2 file hệ thống nhằm đưa các phần có thể lên các bộ nhớ khác giải phóng được nhiều chỗ trống cho bộ nhớ quy ước.

      Muốn biết bộ nhớ được phân bổ ra sao, từ dấu nhắc Dos, bạn đánh lịnh Mem.

      Trình quản lý bộ nhớ có sẵn của Dos là Himem.sys và Emm386.exe, bạn có thể dùng trình tiện ích quản lý khác như QEMM

      Bạn có thể dùng Memaker, QEMM để tự động sửa chữa 2 file hệ thống dùm bạn. Nhưng bạn cần phải chạy lại chúng mỗi khi bạn hay các phần mềm mới cài đặt thay đổi nội dung 2 file nầy, nếu không bộ nhớ của bạn còn "tệ" hơn là bạn không sử dụng chúng.

      Một số nguyên tắc để tối ưu 2 file hệ thống trong việc quản lý bộ nhớ.

      a/ Luôn luôn nạp Himem.sys và Emm386.exe trước tiên. Riêng về Emm386, nên dùng thông số NOEMS và có thể thêm 2 thông số Highscan và I=B000(B7FF để tăng dung lượng cho khối UMB. Thí dụ:

     device=c:\dos\emm386.exe noems highscan I=b000(b7ff

      b/ Phải có dòng lịnh Dos=high,umb

      c/ Ðổi tất cả lịnh device thành devicehigh nếu được. Bạn phải đổi thử từng lịnh rồi khởi động lại xem chúng có báo lỗi không vì có một số drv không nạp được lên bộ nhớ cao.

      d/ Thêm LH vào trước tất cả các dòng lịnh nạp drv thường trú trong Autoexec.bat giống như mục c. Ðối với các lịnh nạp file chương trình chạy rồi thoát như NDD, IMAGE thì không cần.

      e/ Thường xuyên dùng lịnh MEM để kiểm tra bộ nhớ quy ước. Nếu trên 600Kb là chứng tỏ bạn đã xắp sếp tốt 2 file hệ thống.

CÀI ÐẶT, GỠ BỎ PHẦN MỀM ỨNG DỤNG & TIỆN ÍCH :

      Khi mới mua máy, nơi bán đã có cài sẵn cho chúng ta một số chương trình để chúng ta sử dụng, nhưng với thời gian nhu cầu sử dụng thay đổi, chúng ta có thể cần thêm hay bớt một số chương trình cho phù hợp với nhu cầu của chúng ta.

CÀI ĐẶT :

      Thêm một phần mềm (chương trình) nào đó vào máy vi tính, đó là cài đặt chương trình. Trước tiên bạn cần phân biệt giữa sao chép (Copy) và cài đặt (Install hay Setup)

      Có một số phần mềm nhỏ, khi chạy chỉ cần 1 vài file và chạy độc lập không "quan hệ" với các phần mềm khác. Ta chỉ cần có một bản sao (Copy) của nó, đem về đổ vào dĩa cứng của ta (cũng Copy) là có thể sử dụng được bằng cách cho thi hành một trong các file .bat hay .exe của phần mềm đó. Thí dụ: VIETRES, NC, NU...

      Nhưng đối với các phần mềm lớn của Dos cũng như Windows, khi chạy cần nhiều file và có "nhờ vả" đến các phần mềm khác. Thí dụ: 3DS, ACAD, VIETWARE...Muốn sử dụng được, trước hết ta cần có bản gốc trên đĩa mềm hay trên CD ROM, sau đó ta phải cài đặt phần mềm vào dĩa cứng của ta bằng cách cho thi hành một trong các file : Install.bat, Install.exe hay Setup.exe (tùy theo phần mềm). Các file này thường nằm ngay trong dĩa số 1 (nếu bạn cài từ dĩa mềm). Chương trình cài đặt sẽ làm công việc bung nén các file trên đĩa mềm xuống đĩa cứng, xếp đặt chúng vào các thư mục con, tạo vùng môi trường và đăng ký các thông số cần thiết vào các file hệ thống sao cho phần mềm có thể chạy được tốt nhất mà không cần sự can thiệp của chúng ta. Nếu bạn không biết cách cài đặt, có thể phần mềm không thể chạy được hay thường xuyên bị lỗi.

      Ðể tránh gặp rắc rối trong việc cài đặt và sử dụng chương trình, bạn nên tìm đọc các file *.txt, *.doc, có trong mỗi chương trình, đặc biệt là file Readme.txt, các file này luôn chứa những thông tin cần thiết và mới nhất (giờ chót) về chính chương trình đó.

      Trong quá trình cài đặt, bạn sẽ được hỏi một đôi điều, ví dụ : Bạn muốn cài phần mềm vào ổ dĩa, thư mục nào ? Bạn chọn cài đầy đủ, tối thiểu hay để bạn chọn lựa ? Bạn muốn cài thường trú hay chỉ khi nào bạn cần sử dụng mới kích hoạt nó ? (Chương trình Norton Anti Virus). Bạn có cần tạo dĩa mềm khởi động không ? (Cài Win 95) … Nếu bạn hiểu rõ thì bạn sẽ chọn được những tùy chọn thích hợp, còn không thì bạn cứ nhấn Enter chấp nhận những mặc nhiên do chương trình cài đặt đề nghị. Sau nhiều lần cài đặt bạn sẽ quen với những câu hỏi như vậy và có kinh nghiệm thích hợp. Ðôi khi bạn cũng gặp những bản Update (cập nhật), chương trình cài đặt sẽ yêu cầu bạn chỉ thư mục chứa version cũ … gặp trường hợp này bạn phải đưa dĩa mềm chứa một phần của version cũ vào để đánh lừa nó. Bạn cứ mạnh dạn cài đặt chương trình đi rồi bạn sẽ có kinh nghiệm.

      Một số phần mềm khi cài đặt sẽ chỉnh sửa Config.sys và Autoexec.bat (Dos), sửa Win.ini và System.ini (Win). Do đó bạn nên sao chép bốn file này trước khi cài đặt để có thể so sánh sửa đổi nếu sau khi cài đặt hệ thống của bạn chạy không tốt như trước.

      Hiện nay, do ổ dĩa CD cũng khá rẻ nên các máy vi tính có trang bị ổ CD cũng đã thông dụng. Bạn nên chọn mua các dĩa CD chứa phần mềm mà bạn thường dùng (khoảng 12 USD) và cài đặt trực tiếp từ dĩa CD, hơn là mua dĩa mềm đem đi chép không kinh tế bằng, và bảo quản cũng nguy hiểm hơn. Những phần mềm lớn như OFFICE, COREL còn cho phép bạn chạy ngay trên đĩa CD để đở tốn đĩa cứng.

     Chú ý:

      Ðể đở tốn đĩa, nhà sản xuất luôn lưu trử phần mềm dưới dạng nén trong bộ đĩa mềm gốc. Chúng sẽ được bung tự động khi bạn cài xuống đĩa cứng, tuy nhiên có nhiều bộ đĩa gốc cung cấp thêm chương trình bung riêng để khi cần bạn có thể bung từng file nhằm cập nhật nhanh các file bị hư trên đĩa cứng. Thí dụ như các phần mềm của Microsoft có thể dùng chương trình EXPAND, DECOMP, EXTRACT...để bung các file nén.

      Nếu bộ đĩa gốc được sao chép từ đĩa CD ROM qua đĩa mềm, toàn bộ các file trên đĩa sẽ có thuộc tính chỉ đọc. Các chương trình cài đặt cần cập nhật đĩa mềm gốc sẽ không chịu chạy (thí dụ như Stacker 4.1). Bạn phải bỏ thuộc tính chỉ đọc trên đĩa gốc số 1 thì mới cài đặt được.

      Khi bạn đã cài đặt phần mềm xuống đĩa cứng, bạn không nên di chuyển hay đổi tên thư mục chứa phần mềm nầy vì có thể chúng không chạy được do khi cài đặt chúng đã lưu thông tin về điạ chỉ ban đầu của chúng. Ðối với các phần mềm Dos, chúng lưu trong file có đuôi .ini hay .cfg; Ðối với win3.xx, chúng lưu trong các file .ini; Ðối với Win 95, chúng lưu trong .dat; Việc sửa chữa các file nầy rất phiền phức và hay thiếu sót. Tốt nhất là nên cài đặt lại nếu muốn thay đổi điạ chỉ.

      Ða số các phần mềm chạy với Dos chỉ yêu cầu bạn ghi thêm địa chỉ vào lịnh PATH và Set vùng môi trường trong file Autoexec.bat. Nên nói chung , bạn có thể copy chúng từ máy khác về máy mình mà không cần cài đặt, kể cả Dos cũng vậy.

      Các phần mềm chạy với Win có quá trình cài đặt phức tạp do khi chạy chúng phải "nhờ vả" vào Win và cần thực hiện một số liên kết với các phần mềm khác khi cần thiết. Do đó khi copy bạn sẽ không thực hiện được các xác lập nầy bằng tay và chúng sẽ không chạy được.

      Bạn nên phân biệt cài đặt phần mềm và cài đặt drv thiết bị vì khi cài đặt drv, chúng đòi hỏi việc xác lập trong Config.sys và Autoexec.bat phức tạp hơn do chúng phải làm việc với phần cứng của máy.

GỠ BỎ :

      Bớt một chương trình nào đó ra khỏi máy vi tính đó là gỡ bỏ chương trình.

      Cũng tương tự như khi cài đặt, đối với các phần mềm nhỏ, muốn gỡ bỏ bạn chỉ cần vào thư mục chứa nó rồi Delete là xong.

      Nhưng đối với các phần mềm lớn, gở bỏ được chúng là một kỳ công vì chúng nằm rải rác trong nhiều thư mục và ghi rất nhiều chi tiết lên các file hệ thống. Ðể gỡ bỏ chúng bạn nhất thiết phải biết rõ trong quá trình cài đặt chúng đã làm gì và thao tác xoá bằng tay rất công phu mà nhiều khi cũng không hiệu quả.

      Trong Windows 95 có một tiện ích đi kèm để dùng vào việc cài đặt và gỡ bỏ chương trình đó là Add/Remove Program, nhưng nó chỉ áp dụng được cho các phần mềm viết cho Win 95 mà thôi. Tuy nhiên nhờ Win 95 mà ngày nay các phần mềm mới đều bắt chước cung cấp thêm phần Remove hay Uninstall của riêng nó giúp cho người sử dụng đở vất vả.

      Hiện nay để gỡ bỏ các phần mềm cũ, tốt nhất là chúng ta nhờ sự hỗ trợ của các tiện ích chuyên dùng là CleanSweep, Remove-It hay Unistaller. Nhưng để các phần mềm nầy chạy tốt, bạn phải chú ý các điểm cơ bản như sau:

      Phải cho chúng chạy trước khi cài đặt các phần mềm để chúng có thể theo dõi quá trình cài đặt của các phần mềm nầy. Chúng sẽ lưu thông tin vào 1 file nội bộ để sau nầy căn cứ vào đó mà xoá phần mềm tương ứng một cách chính xác.

      Trong trường hợp bạn xoá phần mềm nào không được chúng theo dõi, bạn sẽ được yêu cầu trả lời một số câu hỏi. Bạn cần suy nghĩ chính chắn trước khi trả lời vì chính bạn mới là người hiểu rõ về phần mềm chớ không phải chúng. Tuy nhiên bạn sẽ được lợi ở chỗ chúng lục lọi tất cả những gì liên quan đến phần mềm muốn xoá và liệt kê ra cho bạn xem xét (việc nầy nếu để bạn tự làm thì thực là gian khổ).

      Ðặc biệt trong Windows, có vấn đề là một file được sử dụng cho nhiều phần mềm. Ðừng lo, chúng sẽ biết và báo cho bạn đề phòng, tốt nhất là bạn không nên xoá các file nầy khi chưa chắc chắn.

ĐĨA MỀM KHỞI ĐỘNG :

      Ðã có khi nào bạn gặp phải thông báo  "Non- system disk or disk error. Replace and press any key when ready" hiện lên trên màn hình máy tính của bạn chưa ? Và bạn không thể sử dụng được máy vi tính của bạn nữa, chỉ có ngồi mà đọc thông báo đó trên màn hình máy tính. Gặp trường hợp này nếu bạn không có dĩa mềm khởi động thì bạn chỉ còn cách tắt máy và liên hệ với nơi bán máy mà thôi. Hoặc trường hợp máy của bạn bị nhiễm virus. Như vậy bạn thấy cần thiết là nên có sẵn dĩa mềm khởi động chưa ?

TẠO ĐĨA MỀM KHỞI ĐỘNG DOS:

      Một dĩa mềm hệ thống dùng để khởi động máy vi tính tối thiểu phải chứa ba file hệ thống là Io.sys, MsDos.sys và Command.com (Chú ý: Các file hệ thống để đĩa khởi động không thể Copy một cách bình thường (ngoại trừ Command.com) mà phải dùng lịnh SYS hay thêm thông số /S khi format). Bạn tạo nó bằng cách đưa dĩa mềm vào ổ dĩa và đánh lịnh từ dấu nhắc Dos.

        + Gõ lệnh Format A: /s nếu dĩa mềm của bạn chưa định dạng

        + Gõ lệnh Sys A: nếu dĩa mềm của bạn đã được định dạng

      Bạn nên định dạng dĩa mềm khởi động bằng phiên bản Ms-Dos giống với phiên bản trên máy tính của bạn. Ðiều này là hiển nhiên khi bạn tự tạo, nhưng trong trường hợp bạn nhờ người khác tạo dùm thì nhớ báo cho người đó biết phiên bản Ms-Dos bạn đang dùng.

      Nhưng với dĩa mềm khởi động như trên thì nó chỉ làm đúng chức năng khởi động mà thôi, bạn không thể dùng nó vào việc khác được. Muốn sử dụng có hiệu quả bạn phải thêm vào các file cần thiết tùy theo mức độ và nhu cầu sử dụng của bạn (Do đó bạn nên dùng dĩa mềm có dung lượng lớn để chứa thêm các file khác, thông dụng hiện nay là dĩa 1,44 Mb, chớ lúc trước có nhiều dĩa mềm dung lương nhỏ như 360 Kb, 720 Kb, 1,2 Mb không thích hợp lắm)

      Bạn thêm vào :

      + Các file Fdisk.exe, Format.com, Sys.com nếu bạn muốn tiến hành phân chia lại ổ cứng của bạn, hoặc phải định dạng lại ổ cứng trong trường hợp bị virus. (Ðây là các lịnh ngoại trú nên không có sẵn trong command.com)

      + Một số file của chương trình Norton Commander thích hợp nếu bạn quen dùng NC trong việc quản lý và soạn thảo file.

      + Một số file của chương trình Norton Utilities thích hợp nếu bạn quen dùng để sửa chữa dĩa.

      + Các chương trình phòng chống virus mà bạn thích dùng

      + Driver điều khiển của ổ dĩa CD Rom để bạn có thể cài chương trình từ CD Rom (ví dụ file Ecscdide.sys và Mscdex.exe)

      + Thêm vào hai file Config.sys và Autoexec bat với cấu hình tối thiểu để từ dĩa mềm bạn có thể sử dụng được NC hoặc điều khiển ổ CD Rom

      Trên đây chỉ là gợi ý còn trong thực tế bạn có thể thêm bớt. Ví dụ bạn làm dĩa khởi động chỉ chứa 3 file hệ thống và file Vre.exe để bạn đem đến nơi thuê máy thực tập chương trình Vietrex mà bạn mới học.

            Tạo đĩa mềm khởi động Win 95:

            Tạo đĩa mềm khởi động cho Win95 cũng giống như trên. Bạn cũng có thể tạo đĩa mềm Dual Boot theo các bước sau:

     1/ Tạo đĩa mềm khởi động cho Win95.

     2/ Chép Command.com, io.sys, msdos.sys của DOS lên đĩa nầy nhưng đổi thành command.dos, io.dos, msdos.dos.

     3/ Chép file msdos.sys của Win95 nhưng xoá sạch mục PATHS chỉ chừa lại mục OPTION và đổi BootMulti=0 thành BootMulti=1.

    Tạo đĩa mềm khởi động Win 97:

     Bạn không cần dùng lịnh Sys cho đĩa đã được format bằng lịnh format của win97, bạn chỉ cần copy file IO.SYS của Win97 lên đĩa mềm hay đĩa cứng một cách bình thường là đĩa của bạn có thể khởi động được.

     Bạn làm đĩa mềm Dual Boot cho Win97 như sau:

     1/ Tạo đĩa mềm khởi động cho Win97.

     2/ Chép Command.com của DOS lên đĩa nầy nhưng đổi thành command.dos
 
     3/ Chép io.sys của DOS lên đĩa nhưng đổi thành ibmbio.com.

     4/ Chép msdos.sys của DOS lên đĩa nhưng đổi thành ibmdos.com.

     5/ Chép file msdos.sys của Win97 nhưng xoá sạch mục PATHS chỉ chừa lại mục OPTION và đổi BootMulti=0 thành BootMulti=1.

    Chú ý: Bạn làm đĩa cứng của Win97 thành Dual Boot bằng cách như trên cũng được nhưng trong mục 5 bạn không cần xoá Paths.

    Sử dụng đĩa mềm khởi động :

     Thông thường bạn sử dụng dĩa mềm khởi động trong trường hợp hệ thống máy vi tính của bạn có vấn đề, hoặc là bị virus (như đã viết ở phần virus máy tính), hoặc là không thể khởi động từ ổ dĩa cứng được do mất CMOS hay vì lý do gì đó có thể là hệ điều hành trên máy bạn bị hư. Bạn phải tiến hành cài đặt lại hệ thống bắt đầu từ dĩa mềm khởi động. Do tính chất cứu nguy của dĩa mềm khởi động nên bạn phải bảo đảm sao cho nó không bị nhiễm virus, hãy bật chốt chống ghi và đem cất riêng một nơi an toàn.

    ÐĩA RESCUE:

     Ðĩa RESCUE là đĩa mềm đặc biệt do chương trình NU tạo ra dùng để cứu đĩa cứng của bạn khi có hư hỏng do mất CMOS hay bị Virus. Trên đĩa nầy lưu các thông tin sau:

Các xác lập trong CMOS.
Master Boot Record.
Boot Record.
Partition.
File hệ thống.

            Các thông tin nầy dùng để phục hồi lại khi thông tin trong máy bị mất vì một lý do nào đó. Toàn bộ các thông tin nầy có thể bị thay đổi do người sử dụng máy. Thí dụ: Thay đổi xác lập CMOS, chia đĩa...Do đó khi tạo đĩa RESCUE các bạn nên chú ý tạo lại khi có thay đổi, như vậy đĩa RESCUE của bạn mới có giá trị. Nếu bạn "làm biếng" thì tốt nhất đừng tạo đĩa nầy chi cho tốn tiền.

     KHÔNG GIAN DĩA :

      Khi bạn muốn cài đặt thêm chương trình thì có thể nảy sinh vấn đề là ổ dĩa cứng của bạn có còn chỗ trống để thêm vào không ? Hoặc nếu không gian dĩa của bạn còn ít thì các chương trình trong Windows khi chạy có thể sẽ báo lỗi vì Windows sử dụng không gian dĩa còn trống làm bộ nhớ ảo hoặc tạo các file tạm (.tmp) để chạy các chương trình. Nếu ổ cứng của bạn đã bị chật, bạn phải tìm cách thu xếp không gian dĩa của bạn sao cho có chỗ để có thể cài đặt thêm chương trình bạn cần vào, hoặc để chạy tốt các chương trình trong môi trường Windows

      Sau đây là một số biện pháp giúp bạn có thêm chỗ trống trên dĩa cứng

      + Dứt khoát gỡ bỏ, xóa các chương trình hay các file không còn cần dùng đến.

      Ví dụ, khi bạn mới tập sử dụng máy vi tính, có thể bạn yêu cầu nơi bán máy cài dùm cho bạn chương trình TOUCH, VIETRES … nhưng một khi bạn đã thành thạo, chắc chắn bạn không còn cần đến nó nữa, hãy mạnh dạn gỡ bỏ chúng trên dĩa cứng của bạn (nếu bạn có tiếc, muốn sau này cho người khác dùng thì bạn hãy lưu chúng vào dĩa mềm). Một số file hình ảnh Screen Saver của chương trình NC, Windows hay Wall Paper của Windows, bạn chỉ nên chọn giữ lại một hai hình còn thì nên thẳng tay xóa chúng; cũng vậy đối với một số hình ảnh có sẵn trong ClipArt của bộ MS. Office, chắc chắn là có những hình ảnh không thích hợp đối với chúng ta. Các file Readme.text của các chương trình chỉ cần thiết khi bạn cài đặt hoặc mới bắt đầu sử dụng còn khi đã rành rẽ bạn cũng chắng nên giữ nó làm gì. Bạn nên vào thư mục TEMP xóa hết các file .tmp (các file này tạm thời do các chương trình, đặc biệt là các chương trình Windows thường tạo ra chứa dữ liệu để dùng sau đó; rồi khi hết sử dụng, chương trình sẽ tự xóa các file này đi, nhưng trong một số trường hợp bạn tắt máy mà chưa thoát khỏi Windows hoặc bị mất điện đột xuất thì các file này vẫn còn trên máy của bạn).

      + Nén các chương trình hay các file bạn ít dùng đến. Có những chương trình hay file bạn không thể gỡ bỏ hay xóa được vì vẫn còn dùng đến, nhưng có lúc cả tháng hoặc cả năm mới lôi ra sử dụng một lần thì bạn nên nén chúng lại, lúc nào dùng thì bung nén rồi sử dụng. Ví dụ, một số trò chơi bạn thích, nhưng không thể chơi hoài, lúc nào rãnh mới lôi chúng ra.

            + Tránh các file nhỏ, chúng chiếm nhiều chỗ của không gian dĩa hơn so với các file lớn. Nguyên nhân là do cách ổ dĩa được thiết kế để lưu file .ổ dĩa được chia thành các đơn vị lưu trữ cố định gọi là Cluster. Một file chiếm ít nhất là một Cluster tùy theo kích thước của nó.

     Dưới đây là bảng số liệu mà Dos và Win95 cấp phát cho một đơn vị Cluster tùy thuộc vào dung lượng của ổ dĩa

    ÐơN Vị CấP PHáT (Cluster)

    DUNG LƯợNG ổ DĩA LOGIC

    512 Byte

    đến 31,5 Mb

    1 KB

    trên 31,5 Mb

    2 Kb

    trên 64 Mb

    4 Kb

    trên 127 Mb

    8 Kb

    trên 254,9 Mb

    16 Kb

    trên 504,9 Mb

    32 Kb

    trên 1 Gb

    64 Kb

    trên 2 Gb

            Ví dụ bạn có một file kích cỡ thực sự là 9 Kb thì nó chiếm đến 16 Kb trên không gian dĩa của bạn nếu ổ cứng của bạn có dung lượng trên 254,9 Mb (2 Cluster) hoặc trên 504,9 Mb (1 Cluster), nhưng nó lại chiếm đến 32 Kb nếu ổ dĩa cứng của bạn có dung lượng trên 1 Gb.

     Gặp trường hợp này thì bạn có thể giải quyết bằng cách dồn các file nhỏ vào thành một file lớn.

     + Bạn có thể chạy Scandisk quét dĩa để tìm các liên cung lạc mẹ (lost cluster) nghĩa là các liên cung chứa dữ liệu nhưng không còn sử dụng được vì mất liên hệ với file gốc của nó, xóa đi. Các liên cung lạc mẹ có được là do bạn thoát một chương trình không đúng quy cách hay máy bạn chạy không ổn định.

     + Nếu máy vi tính của bạn có ổ dĩa CD thì một số chương trình bạn có thể chạy trên ổ CD hơn là cài vào ổ cứng của bạn. Ví dụ một số trò chơi.

     + Bạn cũng có thể dùng các tiện ích dọn dẹp đĩa đã nói ở phần trên, cho chúng đi tìm các file hay chương trình không còn sử dụng, dư thừa trên máy của bạn rồi xoá hay nén lại.

    VIRUS MÁY TÍNH :

    KHÁI NIỆM :

     Virus máy tính là một đoạn chương trình đặc biệt được "gắn lén" vào một chương trình khác sao cho khi chúng ta thực hiên chương trình này thì đoạn chương trình virus sẽ được thực hiện trước. Ðoạn chương trình virus có khả năng lây lan sang các chương trình khác hay từ dĩa này sang dĩa khác và gây tác hại trên máy tính của chúng ta

     Virus máy tính được chia làm thành 2 loại :

     + B-virus (Boot sector & partition table virus) : đây là dạng thông thường nhất, virus loại này thường nằm ẩn trong cung mồi dĩa mềm hoặc trên bảng phân khu dĩa cứng. Dấu hiệu phát hiện là thấy tổng số byte của bộ nhớ quy ước thấp hơn 640 Kb

     + F-virus (File infector virus) : loại này thường nằm trong các file chương trình (.com, .exe). Dấu hiệu phát hiện là kích thước của file tăng lớn hơn thường lệ. Tuy nhiên cũng có nhiều con virus loại này không làm kích thước của file bị nhiễm tăng lên

     Có một loại chương trình không phải là virus vì nó không lây lan nhưng cũng gây sự phá hoại đối với máy tính của ta, loại chương trình này thường được gọi là Trojan horses.

     Tùy theo khả năng phá hoại của virus máy tính mà ta còn phân biệt loại hiền và loại dữ. Loại dữ là loại có khả năng phá hủy các dữ liệu trên máy tính của ta; loại hiền thì chỉ hiện lên những thông báo, những lời chọc ghẹo. Nhưng dù là loại nào đi nữa thì ta cũng phải mất nhiều công sức phòng chống chúng.

    PH̉NG VÀ CHỐNG VIRUS MÁY TÍNH :

     Chúng ta luôn bị thụ động trong việc phòng chống virus máy tính vì luôn có các chương trình virus mới khôn ngoan và thông minh thoát khỏi sự kiểm soát của các chương trình chống virus, nhưng chúng ta có thể ngăn ngừa giảm thiểu sự nhiễm và lây lan của virus bằng cách :

     + Cảnh giác đối với những dĩa mềm mà ta không rõ xuất xứ. Nếu bạn cần một chương trình nào đó thì bạn nên đến các dịch vụ sao chép phần mềm (ở những nơi này vì là chuyên nghiệp nên họ có cách bảo vệ dữ liệu nghiêm ngặt) hơn là sao chép sang tay qua bạn bè. Nếu bắt buộc phải sử dụng thì bạn phải cho chạy một chương trình chống virus để kiểm tra. Bạn nhớ rằng virus hiện diện trên dĩa mềm sẽ không lây qua hệ thống của bạn nếu bạn nạp dĩa mềm vào trong ổ dĩa rồi cho chạy chương trình chống virus quét nó. Tuy nhiên nếu bạn khởi động máy từ dĩa mềm đã bị nhiễm hoặc cho chạy một chương trình trên dĩa mềm đã bị nhiễm đó thì hệ thống máy của bạn sẽ bị lây.

     + Thường xuyên bạn nên cho chạy chương trình chống virus định kỳ kiểm tra hệ thống máy của bạn để có thể phát hiện sớm nếu bị nhiễm virus ngăn ngừa sự tác hại của chúng. Bạn cũng nên cập nhật thường xuyên chương trình chống virus bạn dùng.

    Chú ý: Bạn nhớ rằng phải sử dụng chương trình chống virus phù hợp với hệ điều hành của máy tính nếu không thì có thể làm mất dữ liệu có trên ổ dĩa của bạn. Ví dụ bạn không thể dùng các chương trình chống virus trong Dos và Win 3.11 để quét ổ cứng khi bạn đang dùng Win 95. Theo chúng tôi cách tốt nhất để chống Virus trên máy có Win 95 là bạn dùng các chương trình chống Virus của VN quét tất cả đĩa mềm trước khi sử dụng chúng và thỉnh thoảng dùng Scan for Win 95 quét ổ đĩa cứng.

    XỬ LƯ SỰ CỐ KHI MÁY BỊ NHIỄM VIRUS

     Một khi bạn phát hiện có virus trên hệ thống máy, việc trước tiên là hãy thoát các chương trình đang sử dụng, tắt máy. Xong lấy dĩa mềm khởi động sạch (không bị nhiễm virus) đưa vào ổ dĩa và bật máy khởi động lại (Có thể bạn phải vào CMOS Setup để sửa lại khởi động từ A:, C: ), dùng chương trình chống virus (version mới nhất) có trên dĩa mềm này quét ổ dĩa cứng của bạn để nó tìm và diệt virus trên máy.

            Nếu bạn gặp may, chương trình chống virus của bạn có hiệu quả, tìm và diệt được virus này thì tốt. Bạn tắt máy, khởi động lại từ dĩa cứng và tiến hành dùng Diskedit của chương trình Norton Utilities để sửa dĩa, khôi phục lại các file bị virus phá hoại.

     Nếu bạn không gặp may, virus trên hệ thống của bạn là loại virus mới mà các chương trình chống virus có sẵn không thể phát hiện và diệt được thì

     + Nếu ổ dĩa của bạn chứa dữ liệu quan trọng không thể xóa được , thì bạn phải ngưng hoạt động máy tính của mình, gởi mẫu virus đến các nhóm tác giả chương trình chống virus để họ viết chương trình mới diệt con virus này. Sau đó bạn đem chương trình mới này về tiến hành lại các bước trên. Ðiều này có thể làm mất thời gian có thể vài ngày hoặc hơn, bạn phải quyết định chọn lựa giữa mất thời gian hay mất dữ liệu.

     + Nếu ổ dĩa của bạn chứa dữ liệu có thể xóa được, bạn tiến hành Fdisk, Format lại ổ dĩa của bạn từ dĩa mềm và cài đặt lại toàn bộ phần cứng và phần mềm. Ðiều này bạn có thể chủ động, ít mất thời gian hơn nhưng bù lại bạn phải chịu mất dữ liệu.

     Bạn nên nhớ Format dĩa là biện pháp chống virus triệt để nhất, nhưng có cái phiền là làm mất dữ liệu.

    Chú ý: Nhiều khi bạn Fdisk cũng không thể xoá được virus trong MBR, tốt nhất là dùng Diskedit xoá sạch MBR trước khi Fdisk.

    SỬ DỤNG NHANH DISKEDIT:

     Chương trình Diskedit chúng tôi dùng để thí dụ là của bộ NU for Win95 v2.0, gồm có file DISKEDIT.EXE dung lượng khoảng 600Kb.

     1/ Sau khi khởi động chương trình, bạn chọn OBJECT/DRIVER

     Trong hộp chọn, chỉ định Physical disk, Hard disk 1, OK.

     2/ Chọn OBJECT/PHYSICAL SECTOR

     Trong hộp chọn, chỉ định Cylinder: 0, Side: 0, Sector: 1. Ðây chính là Master Boot Record.

     Bạn sửa 2 byte cuối cùng của sector nầy từ 55 AA thành 00 00 (hệ HEX).

    Chú ý: Trước đó bạn nên kiểm tra xem Diskedit đang ở chế độ cho phép sửa hay không ? vì thường diskedit khởi động ở chế độ chỉ đọc cho an toàn. Nếu cần, bạn phải chuyển qua chế độ ghi bằng cách chọn TOOLS/CONFIGURATION. Bạn bỏ dấu chọn mục READ ONLY, sau đó chọn OK hay SAVE nếu bạn muốn chế độ nầy trở thành mặc định khi Diskedit khởi động.

     3/ Bạn cũng làm tương tự như vậy nếu muốn xoá Boot Record của đĩa khởi động bằng cách chọn Cylinder: 0, Side: 1, Sector: 1 trong PHYSICAL SECTOR.

     Mục đích của việc làm nầy là báo cho Fdisk biết MBR đã bị hư hỏng cần phải được tạo lại. Bình thường khi Fdisk nhận thấy ký hiệu 55 AA còn nguyên thì cho rằng MBR tốt, không cần tái tạo. Virus lợi dụng điểm nầy để chiếm giữ MBR cho dù bạn đã Fdisk lại.

    CẢI THIỆN TỐC ĐỘ ĐĨA CỨNG, DỒN ĐĨA:

     Sau một thời gian sử dụng, bạn sẽ thấy là hệ thống máy tính của bạn chạy chậm lại so với lúc ban đầu mới mua. Thời gian truy xuất các file lâu hơn. Nguyên nhân chính là do hiện tượng phân mãnh trên dĩa cứng. Hiện tượng này xảy ra do cách quản lý file của hệ điều hành khi ghi lên dĩa cứng. Các file được cấp phát các liên cung để chứa dữ liệu, nhưng các liên cung này có thể không ở gần kề nhau. Với thời gian sử dụng, bạn tạo thêm hay xóa bỏ các file thì ổ dĩa cứng bị phân mãnh càng nhiều. Bạn phải dồn dĩa lại, chương trình thích hợp là Defrag của Dos hay Speed Disk có trong Norton Utilities.

     Thường xuyên dồn dĩa, ngoài việc giúp bạn truy xuất nhanh còn giúp cho bạn kéo dài thêm tuổi thọ của ổ dĩa cứng vì khi đó đầu từ sẽ di chuyển ít hơn để tìm đọc và ghi file lên ổ dĩa.

    Chú ý: Nều bạn dùng hệ điều hành Win95, bạn phải dùng Disk Defragmemter kèm theo win95 hay Speedisk trong bộ NU for Win95 vì các chương trình cũ không nhận biết tên file dài của hđh nầy.

    CÀI ĐẶT PHẦN CỨNG :

     Thông thường cài đặt phần cứng kèm theo việc tháo máy để gắn thêm các Carde vào Mainboard. Nếu không rành thì chúng ta phải nhờ nơi bán máy. Nhưng trong những ví dụ sau, bạn có thể tự giải quyết lấy : Con chuột và bàn phím là những phần mà có thể bạn phải thay thế sau khi sử dụng lâu ngày, bạn phải biết cách cài đặt con chuột và bàn phím của bạn lại. Máy của bạn có gắn ổ dĩa CD Rom và Card Sound, khi mua máy, nơi bán máy đã lắp đặt sẵn cho bạn nhưng vì một lý do gì đó hệ thống máy của bạn bị hư, bạn phải tiến hành cài đặt lại. Bạn có máy in kim, nhưng trong một số việc đòi hỏi phải có máy in Laser hoặc máy in màu, có thể bạn mượn được ở nơi bạn bè khi cần thiết, nhưng nếu bạn không biết cài đặt máy in thì làm sao sử dụng ?

     Hầu hết các thiết bị phần cứng đều có các đĩa driver và các tài liệu kèm theo để bạn cài đặt. (Ðây là một trong những lý do khi mua máy bạn phải đòi cho được các tài liệu hướng dẫn và các đĩa driver của các thiết bị có trên máy của bạn). Muốn cài đặt thiết bị, trước hết bạn nên đọc tài liệu hướng dẫn, sau đó bạn cứ việc đưa dĩa driver của phần cứng tương ứng bạn muốn cài đặt vào ổ và tiến hành cài đặt như cài chương trình (phần mềm).

     Thông thường việc cài đặt phần cứng làm thay đổi hai file Config.sys và Autoexec.bat, bạn phải copy một bản của hai file này trước khi cài đặt để có thể phục hồi lại nếu thiết bị bạn cài vào có sự xung đột với hệ thống làm treo máy.

     Trong Win 95, muốn cài đặt phần cứng bạn vào Settings / Control Panel / Add New Hardware. Muốn cài thêm máy in bạn vào Printers cũng trong Control Panel.

     Win95 là hệ điều hành Plug and play, do đó khi bạn gắn card bổ sung theo chuẩn nầy là Win biết ngay và nhắc bạn đưa đĩa mềm có chương trình quản lý thiết bị của nhà sản xuất vào. Nhờ vậy bạn có thể phân biệt Card bổ sung theo chuẩn Plug and Play và Card set tài nguyên bằng phần mềm nhưng không có Plus and Play bằng cách sau:

     Cả 2 loại Card đều set tài nguyên bằng phần mềm, không có Jumper trên Card. Nhưng chúng khác nhau ở chỗ Win95 nhận biết ngay loại Card PnP sau khi khởi động, còn Card không có PNP bạn phải tự thông báo và cài đặt trình điều khiển với Win95 qua Add new Hardware.

     Win95 còn có phần Device Manager rất đơn giản và độc đáo, giúp bạn có thể dàn xếp chuyện va chạm tài nguyên một cách nhanh chóng, hữu hiệu.

     Chú ý: Trong Win95 trước khi thay đổi gì bạn nên lưu trữ 2 file System.dat và User.dat để có thể phục hồi trở lại tình trạng cũ khi cần.