Cần biết về card màn 
hình và monitor

            Trên các máy 386, tốc độ card màn hình không quan trọng lắm nên người dùng không chú ý mà chỉ quan tâm đến độ phân giải.

     Khi bạn sử dụng máy từ 486 trở đi thì monitor và card màn hình có ảnh hưởng lớn đến hiệu suất toàn hệ thống, vì nếu chúng chạy chậm sẽ gây ra hiện tượng thắt cổ chai làm giảm tốc độ toàn bộ hệ thống.

    1/  Card màn hình:

    a) Dành cho máy 386:

     Card màn hình của 386 cũng có các đặc điểm gíống như 486, nó chỉ khác là chạy 16Bit nên tốc độ chậm hơn và cũng có card tăng tốc 16Bit.

    b) Dành cho máy 486:

     Nếu đã mua máy 486 để tận dụng tốc độ cao thì không có lý do gì để giữ lại card màn hình 16Bit chậm chạp, Do tốc độ chậm nó sẽ kềm hãm tốc độ xử lý của CPU và khi bị thúc ép quá nó sẽ cập nhật màn hình lung tung hay gây ra nhiều hiện tượng kỳ quái khác mà bạn không thể ngờ là do card màn hình chậm chạp gây ra.

     Tối thiểu bạn nên trang bị card màn hình 32Bit (VL Bus) thường với 1Mb ram, tối ưu là card màn hình tăng tốc 32Bit (VL Bus Accelerator) với 1Mb ram. Khi chạy các chương trình đồ hoạ bạn mới thấy hiệu quả của nó thật xứng đáng với đồng tiền bạn bỏ ra. Card tăng tốc khác card thường ở chỗ nó có thêm 1 con CPU chuyên dùng để tính toán việc cập nhật màn hình  (tốc độ tính toán của nó còn nhanh hơn tốc độ tính của CPU trên máy do nó được thiết kế chỉ để làm việc nầy. Khi làm việc, CPU trên máy chỉ cần ra những lịnh tổng quát, còn việc tính toán cập nhật từng điểm trên màn hình do con CPU nầy đảm nhiệm), tốc độ cập nhật vừa nhanh lại vừa giải phóng thời gian cho CPU chính làm chuyện khác.

     Ðộ phân giải cuả card 32Bit thường với 1Mb ram như sau:

- 640x480 tối  đa 16 triệu màu (24 bit màu).
- 800x600 tối đa  65.536 màu (16 bit màu).
- 1024x768 tối đa 256 màu (8 bit màu).

     Ðộ phân giải cuả card 32Bit tăng tốc với 1Mb ram như sau:

- 640x480 tối  đa 16,7 triệu màu (24 bit màu).
- 800x600 tối đa  256 màu (8 bit màu).
- 1024x768 tối đa 256 màu (8 bit màu).
- 1280x1024 tối đa 16 màu (4 bit màu).

    b) Dành cho máy 586 trở đi:

     Card màn hình hiện nay có giao tiếp PCI, Ram trên card thường từ 1 Mb đến 4Mb. Tăng tốc đồ hoạ và hổ trợ MPEG.

    Chú ý: Số lượng Ram trên card ảnh hưởng chủ yếu đến độ phân giải và độ sâu màu, ít ảnh hưởng đến tốc độ. Muốn tăng tốc độ card màn hình, phải dùng loại Ram nhanh hơn chớ không phải đơn giản là tăng dung lượng Ram.

    2/  Monitor:

     Ða số monitor đang được bán là loại  Super VGA, các monitor VGA không còn thấy bán nữa, do đó chúng tôi chỉ đề cập đến loại Super VGA 14 inches thông dụng.

     - Ðộ phân giải tối đa: 1024x768.
     - Chế độ hoạt động: có 2 loại Interlaced và Non Interlaced.
     - Tần số quét ngang/dọc: có 2 loại chất lượng thấp và chất lượng cao, cả 2 loại đều là quét tự động (Multi Scan).

    a) Ðộ phân giải:

     Ðộ phân giải tức là số điểm trên màn hình theo chiều ngang và chiều cao. Thí dụ: 640x480 tức là ngang có 640 điểm và cao có 480 điểm. Ðộ phân giải càng cao hình có thể hiển thị càng nhiều và càng nhỏ vì số điểm tăng trong khi diện tích không thay đổi, thời gian cập nhật màn hình càng lâu.

     Bạn cần phân biệt giữa độ phân giải và Dot pitch (Khoảng cách giữa 2 điểm kề nhau trên màn hình tính bằng mm, Dot pitch càng nhỏ màn hình càng sắc nét). Thí dụ: 800x600 0.28mm có nghĩa là 800 điểm ngang, 600 điểm dọc và khoảng cách giửa 2 điểm kề nhau 0,28mm.

     Bạn cần phân biệt giữa độ phân giải và số điểm phát sáng thật sự trên màn hình màu. Mỗi điểm của độ phân giải do 3 điểm phát sáng của 3 màu cơ bản hợp lại tương tự như màn hình tivi. Như vậy bạn cứ lấy độ phân giải x 3 thì được số lượng điểm phát sáng thực sự trên màn hình.

     b) Interlaced:

     Quét xen kẻ (interlacted) là kỹ thuật cập nhật màn hình đặc biệt để giảm giá thành monitor. Bạn hãy tưởng tượng đơn giản là màn hình của bạn có 480 vạch liên tiếp nhau từ trên xuống, theo nguyên tắc nó phải được cập nhật (tối/sáng) tối thiểu 50 lần trong 1 giây thì mắt bạn sẽ không phát hiện được do mắt có độ lưu ảnh. Nhưng để làm được chuyện nầy đòi hỏi tần số quét ngang (horizontal frequency) phải cao kéo theo tăng giá thành. Do đó người ta cho cập nhật xen kẻ, tức là trong mỗi lần chỉ cập nhật 240 vạch có số thứ tự chẵn hay lẻ (như vậy phải 2 lần cập nhật liên tiếp mới đủ 480 vạch) và tăng tốc độ cập nhật lên 70 lần.

     Mặc dù đã tăng  tốc độ cập nhật, nhưng mắt chúng ta vẫn thấy chớp vì thực tế mỗi vạch chỉ được cập nhật có 35 lần trong 1 giây dù cho việc xen kẻ có làm giảm bớt hiện tượng nầy. Do đó rất ít người chấp nhận sử dụng màn hình nầy.

     c) Non Interlacted:

     Màn hình nầy có chất lượng cao và giá thành cũng cao hơn loại interlaced.

    d) Tần số quét:

     Quét dọc (vertical):

     Là tần số cập nhật màn hình/giây. Thí dụ: 70Hz có nghĩa trong một giây cập nhật màn hình 70 lần. Tần số nầy tối thiểu phải là 50Hz cho độ phân giải thấp và 60-70Hz cho độ phân giải cao.

     Quét ngang (horizontal):

     Tần số nầy khó nói cho các bạn hình dung nhưng các bạn có thể hiểu đơn giản là nó lệ thuộc vào tốc độ cập nhật màn hình x độ phân giải, có nghĩa nếu tốc độ cập nhật càng cao hay độ phân giải càng cao thì tần số quét ngang càng cao. (chính vì để giảm tần số nầy mớt xuất hiện monitor interlaced). Về mặt kỹ thuật tần số càng cao, thiết kế và sản xuất càng khó khăn nên tiêu chuẩn quét ngang là quan trọng nhất đối với monitor của máy tính và cho cả tivi dân dụng.

     - Ðối với màn hình interlaced, tần số nầy tối đa là: 31KHz cho loại chất lượng thấp và 36KHz cho loại chất lượng cao.

     - Ðối với màn hình non interlaced, tần số nầy tối thiểu là: 48KHz và tối đa có thể lên tới 100KHz trên các màn hình lớn.

     Chú ý:

     Màn hình Super VGA Interlaced chất lượng thấp chỉ thực hiện việc quét xen kẽ khi vào chế độ 800x600 trở lên, còn ở các chế độ khác nó là non interlaced.

     Màn hình Super VGA Interlaced chất lượng cao chỉ thực hiện việc quét xen kẽ khi vào chế độ 1024x768 trở lên, còn ở các chế độ khác nó là non interlaced.

    e)Ðiều chỉnh:

     Các Monitor đời cũ chỉnh theo kiểu Analog và có các nút điều chỉnh sau:

     Ðộ sáng. Ðộ tương phản. Kích thước ngang. Kích thước dọc. Di chuyển ngang. Di chuyển dọc. Chỉnh méo gối.

     Các Monitor đời mới chỉnh theo kiểu Digital tức là dùng nút bấm thay cho nút vặn. Ngoài các chức năng điều chỉnh như Analog, chúng có thề có thêm nút điều chỉnh độ nghiêng của màn hình.

    f)Phương pháp kiểm tra màn hình:

     Khi mua:

     Ðể kiểm tra màn hình là loại interlaced hay non interlaced khi mua monitor là bạn đọc trên nhãn thùng máy, nhãn dán sau đít máy và đọc trong sách hướng dẫn kèm theo monitor các chỉ tiêu sau:

     * Horizontal:

     - Nếu tối đa 31KHz, là interlaced chất lượng thấp.
     - Nếu tối đa 35KHz, là interlaced chất lượng cao.
     - Nếu tối đa 48KHz, là non interlaced chất lượng thấp (đạt yêu cầu cho loại 14 inches).
     - Nếu tối đa 57KHz, là non interlaced chất lượng trung bình (dùng cho màn hình trên 14 inches).
     - Nếu tối đa 64KHz, là non interlaced chất lượng cao (dùng cho màn hình trên 14 inches).

     * Vertical:

     Phải từ 50-90Hz (quét tự động)

     * Resolusion max (độ phân giải tối đa):

     1024x768 cho 14 inches. Cao hơn cho các màn hình trên 15 inches.

     Khi sử dụng:

     Ðòi hỏi bạn phải có card màn hình 1Mb, chạy được chế độ 1024x768 non interlaced. Dùng chương trình test màn hình trong dĩa của hãng sản xuất để kiểm tra màn hình của bạn. Nếu bạn không có chương trình nầy thì có thể dùng Windows để kiểm tra.

     Các hướng dẫn dưới đây vừa để Test màn hình vừa để chạy Windows ở các chế độ trên 800x600 non interlaced.

     - Bước 1:  ở ngoài Dos, vào thư mục Windows, đánh Setup. Chọn driver màn hình là Supper VGA 1024x768 của Windows hay driver 1024x768 trong đĩa kèm theo card màn hình của hãng sn xuất (khuyên bạn nên dùng driver nầy). Cuối cùng trở về lại Dos.

     - Bước 2: Dùng trình tiện ích chứa trong đĩa kèm theo card màn hình cài chế độ Graphic 1024x768 non interlaced ngoài Dos (chương trình nầy luôn luôn có trong đĩa của tất cả các loại card màn hình). Mục đích là ép Windows phải chạy chế độ non interlaced khi khởi động, vì mặc nhiên của Windows là chọn interlaced cho các chế độ trên 800x600 khi chạy.

    Chú ý: Không được chạy NC sau khi chạy trình tiện ích vì khi NC chạy sẽ áp đặt lại chế độ TEXT cho màn hình.

     - Bước 3: Khởi động Windows, chạy Excel hay bất cứ chương trình gì mà khi hiển thị có nhiều đường ngang (càng nhiều càng tốt và càng khít thì càng dể xác định).

     Nếu các đường ngang nầy chớp liên tục là màn hình đang chạy interlaced.

     Nếu các đường nầy bình thường là đang chạy non interlaced.